HNUE JOURNAL OF SCIENCE
Educational Sciences, 2020, Volume 65, Issue 4C, pp. 278-285
This paper is available online at
DOI: 10.18173/2354-1075.2019-0048
HÌNH THÀNH NĂNG LỰC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
CHO SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC TIỂU HỌC TRONG DẠY HỌC MÔN
LỊCH SỬ VÀ ĐỊA LÍ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
Nguyễn Mạnh Hưởng*1 và Lê Thị Thúy An2
1
Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
2
Khoa Sư phạm, Trường Đại học Tây Nguyên
Tóm tắt. Năng lực ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học nói chung, dạy học môn
Lịch sử và Địa lí nói riêng là một trong những năng lực nghề nghiệp quan trọng của giáo
viên tiểu học để đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và thực tiễn
giáo dục Việt Nam. Vì vậy, việc trang bị năng lực ứng dụng công nghệ thông tin cho sinh
viên ngành Giáo dục Tiểu học phù hợp với điều kiện Việt Nam và xu hướng chung của thế
giới là rất cần thiết. Nội dung bài viết trình bày quan niệm về năng lực ứng dụng công nghệ
thông tin, sự cần thiết phải hình thành năng lực ứng dụng công nghệ thông tin cho sinh viên
ngành Giáo dục Tiểu học trong dạy học môn Lịch sử và Địa lí (qua nghiên cứu trường hợp
tại Đại học Tây Nguyên) và định hướng một số giải pháp cho vấn đề trên.
Từ khóa: năng lực, ứng dụng công nghệ thông tin, sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học,
Lịch sử và Địa lí, Đại học Tây Nguyên.
1. Mở đầu
Ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong dạy học (DH) là một xu thế tất yếu của nền
CNTT cho SV ngành GD Tiểu học trong DH môn Lịch sử và Địa lí. Vì vậy, trên cơ sở tiếp cận
những nguồn tài liệu tham khảo, bài báo sẽ tập trung làm rõ ba nội dung: 1- Quan niệm về NL
và NL ứng dụng CNTT; 2- Sự cần thiết phải hình thành NL ứng dụng CNTT cho SV ngành GD
Tiểu học trong DH môn Lịch sử và Địa lí (qua nghiên cứu trường hợp tại Đại học Tây Nguyên);
3- Định hướng và đề xuất một số giải pháp cho vấn đề nghiên cứu.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Quan niệm về năng lực và năng lực ứng dụng công nghệ thông tin
Có nhiều quan niệm khác nhau về NL:
Một số nhà GD cho rằng: NL có thể định nghĩa như là một khả năng hành động bằng sự cố
gắng dựa trên nhiều nguồn lực. Những khả năng này được sử dụng một cách phù hợp, bao gồm
tất cả những gì học được từ nhà trường cũng như những kinh nghiệm của người học, những kĩ
năng, thái độ và sự hứng thú.
Theo từ điển Tiếng Việt: “NL là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực
hiện một hoạt động nào đó. Là phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn
thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao” [17, tr.800]. Trong Chương trình GD phổ
thông (Tổng thể) của Việt Nam đã xác định rõ: NL là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát
triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp
các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,... thực hiện
thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể
[18, tr.36].
Ở Việt Nam, thuật ngữ CNTT được định nghĩa trong Nghị quyết số 49/CP của Chính phủ:
“là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại – chủ yếu
là máy tính và viễn thông nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên
thông tin...” [6, tr.17]. Theo định nghĩa trên, thuật ngữ CNTT ở Việt Nam bao gồm cả 2 yếu tố:
CNTT và truyền thông.
Từ những quan niệm trên về NL và định nghĩa CNTT ở Việt Nam, có thể rút ra NL ứng
dụng CNTT của SV sư phạm trong DH là khả năng sử dụng các công cụ và tài nguyên công
nghệ để giao tiếp, tạo ra, phổ biến, lưu giữ và quản lí thông tin hiệu quả trong các hoạt động
dạy và học. Theo đó, SV sư phạm không chỉ nhận biết, ghi nhớ hoặc biết và hiểu kiến thức về
Từ năm 2009, được sự hỗ trợ của Dự án Giáo dục đại học, Nhà trường ưu tiên trang bị 01 phòng
máy phục vụ cho đào tạo GV tiểu học, mầm non với 40 máy tính, 01 máy chiếu Projector.
Trong chương trình đào tạo Cử nhân Sư phạm tiểu học [21], nội dung tin học và ứng dụng
CNTT trong DH ở tiểu học có các học phần hỗ trợ: Phương tiện kỹ thuật dạy học& ứng dụng
CNTT trong DH tiểu học (năm thứ 3) với 2 tín chỉ (12,5 giờ lí thuyết, 25 giờ thực hành ở trên
280
Hình thành năng lực ứng dụng công nghệ thông tin cho sinh viên ngành Giáo dục tiểu học...
lớp và 50 giờ tự học ở nhà của SV). Nội dung học phần cung cấp kiến thức và kĩ năng cơ bản về
sử dụng phương tiện kĩ thuật và ứng dụng phần mềm M.Power Point để thiết kế giáo án điện tử.
Tuy nhiên với thời lượng có hạn, học phần chỉ đảm bảo cung cấp những kiến thức, kĩ năng
chung nhất về phương tiện kĩ thuật và thiết kế giáo án điện tử có thể ứng dụng DH cho tất cả các
môn học ở tiểu học (theo Chương trình GD phổ thông mới): Toán, Tiếng Việt, Tự nhiên và Xã
hội, Lịch sử và Địa lí, Đạo Đức, Khoa học… [18]. Riêng với môn Lịch sử và Địa lí, do nội dung
được lồng ghép vào các học phần Cơ sở Tự nhiên & Xã hội 1, Lịch sử - Địa lí & Phương pháp
DH với thời lượng khoảng 30,5 giờ lí thuyết, 65 giờ thực hành, 90 giờ tự học, chương trình đào
tạo chỉ đảm bảo cung cấp kiến thức khái quát về Lịch sử, Địa lí Việt Nam và thế giới cho SV
cũng như cung cấp hiểu biết về các phương tiện, phương pháp và hình thức tổ chức DH đặc
trưng của môn tự nhiên và xã hội, Lịch sử và Địa lí. Nội dung bao trùm như vậy, giảng viên khó
có đủ thời gian trên lớp để trang bị NL ứng dụng CNTT cho SV. Làm thế nào để phát triển NL
ứng dụng CNTT cho SV chính là yêu cầu bức thiết [21].
2.3. Định hướng một số giải pháp cơ bản về hình thành năng lực ứng dụng công
nghệ thông tin cho sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học trong dạy học môn Lịch sử
và Địa lí ở trường Đại học Tây Nguyên
Từ những nghiên cứu về lí luận và thực tiễn ở trên, để góp phần hình thành NL ứng dụng
CNTT cho SV ngành GD Tiểu học trong DH môn Lịch sử và Địa lí ở trường Đại học Tây
Nguyên, chúng tôi định hướng 03 nhóm giải pháp liên quan trực tiếp đến Nhà trường, giảng
Nguyễn Mạnh Hưởng* và Lê Thị Thúy An
người học, được người dạy hướng dẫn và việc rèn luyện, thực hành. Tuy nhiên, thời lượng môn
học về ứng dụng CNTT trong đào tạo SV ngành Tiểu học hiện nay còn khiêm tốn, khó đảm bảo
yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo theo mô hình GV tiểu học chất lượng cao. Với lí do trên,
Nhà trường cần tăng thêm thời lượng cho các môn học liên quan đến ứng CNTT, để việc đào
tạo vừa đảm bảo thời gian trang bị kiến thức về CNTT, vừa rèn luyện kĩ năng thực hành và ứng
dụng vào thực tiễn theo chuyên môn. Nhà trường cũng nên khuyến khích, hỗ trợ xây dựng bài
giảng trực tuyến, số hóa bài giảng, bài tập hướng dẫn SV tự thực hành. Trong trường hợp bị giới
hạn về số tiết dạy, Ban Nghiên cứu và xây dựng chương trình đào tạo của Nhà trường cần sớm
xây dựng và triển khai một số học phần, hoặc mở khóa học đào tạo trực truyến cho SV sư phạm
nói chung về ứng dụng CNTT trong DH các môn Lịch sử và Địa lí, Tìm hiểu Tự nhiên và Xã
hội… Như vậy, SV ngành sư phạm nói chung, ngành GD Tiểu học nói riêng sẽ có thêm cơ hội
tìm hiểu, rèn luyện kĩ năng ứng dụng CNTT vào chuyên môn.
Thứ tư, Nhà trường cần thường xuyên tổ chức các khóa tập huấn, bồi dưỡng nâng cao
trình độ ứng dụng CNTT trong DH cho đội ngũ giảng viên và SV sư phạm. Thương hiệu và chất
lượng của một ngôi trường nói chung đều phụ thuộc vào 4 yếu tố cốt lõi (nhân lực - con người,
chương trình đào tạo, vật lực - cơ sở vật chất, tin lực - nắm bắt thông tin), trong đó con người
được coi là yếu tố hàng đầu quyết định cho sự phát triển. Trường Đại học Tây Nguyên có thể sử
dụng kết hợp nhiều nguồn nhân lực để triển khai việc bồi dưỡng, tập huấn về CNTT cho giảng
viên, SV: mời nhóm giảng viên cốt cán của Microsoft Việt Nam đã và đang bồi dưỡng, tập huấn
cho các trường đại học và cao đẳng sư phạm (thông qua Chương trình DH cho tương lai - Teach
to the Future); Sử dụng đội ngũ giảng viên bộ môn Tin học và một số giảng viên của Nhà
trường giỏi về CNTT trong DH. Nội dung và chương trình tập huấn, bồi dưỡng nên theo định
kì, tập trung vào phương pháp tích hợp, phù hợp đặc thù từng chuyên ngành, nhóm môn học
(môn Lịch sử và Địa lí, môn Tự nhiên…). Các tổ chức Công đoàn, Đoàn Thanh niên sẽ được
Nhà trường giao nhiệm vụ hỗ trợ trong quá trình triển khai, phát động các cuộc thi ứng dụng
CNTT trong DH, học tập và nghiên cứu khoa học...
2.3.2. Nhóm giải pháp từ phía giảng viên
thời, kết hợp đa dạng các hình thức tổ chức DH: truyền thống (mặt giáp mặt), DH trực tuyến,
DH hỗn hợp/kết hợp…
Bên cạnh đó, giảng viên cần khuyến khích SV ngành GD Tiểu học hình thành và phát triển
NL ứng dụng CNTT theo lĩnh vực chuyên sâu (trong DH môn Lịch sử và Địa lí). Bởi vì, từ thực
tiễn chương trình đào tạo cho thấy số tiết dành cho môn học về ứng dụng CNTT là chưa đủ, nếu
SV không dành thêm thời gian để tự rèn luyện, thực hành và hướng vào chuyên môn cụ thể thì
khó có khả năng làm chủ công nghệ trong DH sau khi tốt nghiệp. Trong quá trình đào tạo, giảng
viên có thể chia sẻ, cung cấp cho SV giáo án điện tử môn Lịch sử và Địa lí ở bậc tiểu học để các
em tham khảo; Giảng viên cũng có thể giới thiệu các khóa học, bồi dưỡng nâng cao về CNTT
trong DH qua các cộng đồng học tập (Facebook, Edmodo, Zoom, Cohota, Google Classroom…)
để SV chủ động, tự sắp xếp thời gian tìm hiểu, học tập.
Cuối cùng, giảng viên dạy các học phần nên có sự trao đổi, phối hợp trong quá trình đào
tạo để cùng tham gia vào hình thành NL ứng dụng CNTT cho SV. Tổ bộ môn Lịch sử và Địa lí
của Khoa Xã hội thường xuyên tổ chức các buổi Seminar chia sẻ về kinh nghiệm ứng dụng
CNTT trong đào tạo, nhằm điều chỉnh hoặc bổ sung nội dung, phương pháp DH theo hướng tích
cực. Hàng năm, giảng viên cần phối hợp với Đoàn Thanh niên của Trường và Khoa tổ chức Hội
thi nghiệp vụ sư phạm, lồng ghép các nội dung phải liên quan đến ứng dụng CNTT. Việc thành
lập và tổ chức định kì sinh hoạt Câu lạc bộ về ứng dụng CNTT trong DH môn Lịch sử và Địa lí
cho SV cũng sẽ góp phần quan trọng vào hình thành và phát triển NL cho sinh viên ngành GD
Tiểu học.
2.3.3. Nhóm giải pháp từ phía sinh viên
Việc hình thành, phát triển năng lực ứng dụng CNTT cho SV ngành GD Tiểu học trong
DH môn Lịch sử và Địa lí không nên chỉ trông chờ từ phía Nhà trường và đội ngũ giảng viên,
mà phụ thuộc chủ yếu từ phía SV – “chủ thể” và “khách thể” của quá trình đào tạo.
SV là “khách thể” vì đây là đối tượng để quá trình đào tạo tác động vào (thông qua mục
tiêu, nội dung, chương trình, giảng viên, môi trường học tập…). SV là “chủ thể” vì người học
phải chủ động, tích cực tham gia vào quá trình đào tạo để lĩnh hội kiến thức, phương pháp, công
nghệ... Nếu SV không có nhận thức đúng đắn về yêu cầu nghề nghiệp tương lai (phải chuẩn bị
cho tốt về chuyên môn, phương pháp và làm chủ kĩ năng công nghệ để DH ở bậc Tiểu học) thì
quá trình đào tạo sẽ không có kết quả.
Educational Technology Research and Development, 54(4), 422-434.
[3] Khan, S., 2014, A model for integrating ICT into teacher training programs in Bangladesh
based on TPCK. International Journal of Education and Development using ICT, 10(3).
[4] Koehler, M., & Mishra, P., 2009. What is technological pedagogical content knowledge
(TPACK)? Contemporary issues in technology and teacher education, 9(1), 60-70.
[5] Ertmer, P. A., & Ottenbreit-Leftwich, A. T., 2010. Teacher technology change: How
knowledge, confidence, beliefs, and culture intersect. Journal of research on Technology in
Education, 42(3), 255-284.
[6] Nguyễn Mạnh Hưởng, 2011. Nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử ở trường THPT
với sự hỗ trợ của CNTT (Qua thực nghiệm sư phạm ở một số tỉnh/thành phố Đồng bằng
Bắc Bộ), Luận án Tiến sĩ Giáo dục học, Thư viện Quốc gia, Hà Nội.
[7] Microsoft Partners in Lerning, 2012. ILT LEAP 21 - Learning Activity Rubrics, p. 2-23.
[8] Nguyễn Mạnh Hưởng, 2017. Thiết kế và tổ chức hoạt động dạy học lịch sử ở trường phổ
thông theo hướng phát triển năng lực học sinh. Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội, Vol. 62, No. 1, tr. 119-126.
[9] Nguyen Manh Huong, 2018. Design and organization of History teaching and learning in
high School in Vietnam aiming at developing competence with the supports of information
technology. American Journal of Educational Research, Vol. 6, No. 5, pp. 560-565.
[10] Thái Hoài Minh, 2017. Phát triển năng lực ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông
trong dạy học cho sinh viên sư phạm Hóa học của các trường đại học. Luận án Tiến sĩ,
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
[11] Lê Thị Kim Loan, 2018. Phát triển năng lực công nghệ thông tin trong dạy học cho sinh
viên sư phạm ở trường đại học. Luận án Tiến sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. 8-VVOB.
Công nghệ thông tin cho dạy học tích cực. Nxb Giáo dục Việt Nam.
[12] Trần Thị Trà Giang, Phạm Thị Quỳnh Anh, 2018. Phát triển năng lực ứng dụng công nghệ
thông tin trong dạy học địa lí cho sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học, Tạp chí Giáo dục, số
361, ki 1, 7/2015, tr. 54 - 57.
[13] Trần Thị Trà Giang, 2018. Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học
Địa lí cho sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học. Luận án Tiến sĩ, Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội.
Establishing the competence of applying information technology in teaching History
and Geography for students of Department of Primary Education, Tay Nguyen University
Nguyen Manh Huong*1 and Le Thi Thuy An2
1
Faculty of History, Hanoi National University of Education
2
Faculty of Education, Tay Nguyen University
The competence to apply information technology in teaching History and Geography
particularly and in training pedagogical students broadly is one of the most important
professional capacities of teachers at primary schools to demand new requirements of the fourth
industrial revolution and the recent innovation of Vietnamese education. Therefore,
providing the competence of exploiting information technology (hereafter IT) to students of
Department of Primary Education is suitable and necessary in the educational condition of
Vietnam. This paper focuses on some issues of the concept of ability to apply IT; the necessity
to establish this competence for undergraduates of Departments of Primary Education in
teaching History and Geography (via the case study of undergraduates in Tay Nguyen
University) and improving undergraduates’ capacities effectively.
Keywords: competence, applying information technology, undergraduates of Primary
Education, Tay Nguyen University, History and Geography.
285