Rèn luyện kĩ năng giải quyết tình huống trong chăm sóc giáo dục trẻ cho sinh viên ngành giáo dục mầm non trường đại học hải phòng - Pdf 36

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chúng ta đều biết rằng, chăm sóc cho trẻ dưới 5 tuổi là nền tảng để
phát triển nhân cách cho một con người trong tương lai. Nếu chúng ta không
chăm sóc cho lứa tuổi này thì nhân cách của các em sau này sẽ có nhiều sự
lệch lạc.
Việt Nam hiện có đủ cơ quan, đơn vị và nhiều văn bản pháp luật đề cập
đến việc bảo vệ và chăm sóc trẻ em. Ngành giáo dục cũng đã yêu cầu các
tỉnh, thành phố thực hiện phổ cập cho trẻ 5 tuổi với những nhiệm vụ cụ thể
như: trẻ ở mọi vùng, miền đều được đến lớp 2 buổi/ngày, được chuẩn bị tốt
nhất về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mĩ, ngôn ngữ và tâm lý để sẵn sàng
bước vào lớp 1.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, nhiều vụ bạo hành đối với trẻ em
mầm non liên tiếp xảy ra đã gây bức xúc trong dư luận xã hội. Phần lớn
những vụ bạo hành xảy ra đối với trẻ em ở các trường hay nhóm lớp tự phát
với những giáo viên không đủ trình độ, kĩ năng, nhưng có trường hợp còn
xuất hiện ở những cơ sở có giáo viên đã trải qua quá trình học hành và được
cấp bằng. Vụ việc chính cô giáo đã có bằng cấp sư phạm bạo hành trẻ mầm
non thời gian gần đây cho thấy, họ chưa được huấn luyện đủ năng lực nghề
nghiệp để xử lý những tính huống như trẻ hay khóc, biếng ăn, nghịch
ngợm...Thay vì phải sử dụng những biện pháp chăm sóc, dỗ dành và những kĩ
năng khác, cô giáo lại dọa nạt, đánh đập trẻ để giải quyết tình huống.
Từ trước đến nay, nhiều người có quan niệm trông trẻ mầm non là dễ
dàng nhưng thực sự công việc này đòi hỏi giáo viên phải có kiến thức, kĩ
năng và hiểu biết tâm lý trẻ một cách rất bài bản. Ngoài ra, tiêu chuẩn của
một giáo viên mầm non còn là phải có phẩm chất đạo đức tốt, thực sự yêu
thương trẻ.
1


Ở nhiều nước trên thế giới, các cơ sở giáo dục mầm non đều tuyển

hiện có hiệu quả Công ước của Liên hiệp quốc về quyền trẻ em, làm tiền đề
vững chắc cho giáo dục tiểu học.
Hiện tượng trẻ MN chưa được chăm sóc chu đáo có thể do nhiều
nguyên nhân, nhưng một trong những nguyên nhân là ở giáo viên có sự thiếu
hụt kĩ năng giải quyết tình huống xảy ra trong quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng
và giáo dục trẻ. Vì vậy, với mong muốn giúp sinh viên ngành GDMN nắm
vững các kĩ năng giải quyết tình huống trong chăm sóc - giáo dục trẻ ngay từ
khi còn học ở trường sư phạm và vận dụng những kĩ năng đó khi công tác ở
trường mầm non, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu “Rèn luyện kĩ năng giải
quyết tình huống trong chăm sóc - giáo dục trẻ cho sinh viên ngành Giáo dục
Mầm non Trường Đại học Hải phòng”.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài muốn nghiên cứu một số biện pháp rèn luyện kĩ năng giải quyết
tình huống trong chăm sóc - giáo dục trẻ cho sinh viên ngành GDMN Trường
Đại học Hải Phòng.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu: Quá trình đào tạo GVMN tại Trường Đại học
Hải Phòng.
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp rèn luyện kĩ năng giải quyết tình
huống trong CS - GD trẻ cho sinh viên ngành GDMN.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được các biện pháp rèn luyện KN giải quyết tình huống
trong CS - GD trẻ cho sinh viên ngành GDMN thì sẽ giúp sinh viên nhanh
chóng tiếp cận với thực tế GDMN và có thể xử lý tốt các tình huống xảy ra
trong chăm sóc và giáo dục trẻ ở các trường MN sau này.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài.

3



Chương 1: Một số vấn đề lý luận liên quan đến rèn luyện KN giải quyết
tình huống trong CS - GD trẻ cho sinh viên ngành GDMN.
Chương 2: Thực trạng KN giải quyết tình huống và việc rèn luyện KN
giải quyết tình huống trong CS - GD trẻ cho sinh viên ngành GDMN.
Chương 3: Một số biện pháp rèn luyện KN giải quyết tình huống trong
CS - GD trẻ cho sinh viên ngành GDMN.

5


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN RÈN LUYỆN KĨ NĂNG
GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG TRONG CHĂM SÓC – GIÁO DỤC TRẺ
CHO SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC MẦM NON

1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Việc rèn luyện kĩ năng được coi là yêu cầu tất yếu của đào tạo bất kỳ
ngành nghề nào trong xã hội. Mức độ thành thạo kĩ năng nghề, trong đó có kĩ
năng giải quyết tình huống sư phạm được coi là chỉ số quan trọng để đánh giá
chất lượng đào tạo. Trong quá trình đào tạo GVMN, việc rèn kĩ năng giải
quyết tình huống trong hoạt động chăm sóc – giáo dục trẻ là nhiệm vụ rất
quan trọng.
Trong lĩnh vực nghiên cứu tình huống sư phạm và kĩ năng giải quyết
tình huống sư phạm có rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Các tác giả nêu
ra một số tình huống sư phạm thường xảy ra trong hoạt động sư phạm của giáo
viên với học sinh như: Tác giả Nguyễn Ngọc Hiếu trong đề tài “Quy trình hình
thành kỹ năng thực hành sư phạm theo tiếp cận năng lực thực hiện” [6] đã xây
dựng quy trình hình thành kĩ năng tổ chức thực hành sư phạm theo tiếp cận
năng lực thực giúp cho các cán bộ quản lý, giảng viên, sinh viên có cơ sở lý

thức về các môn học liên quan.
- Động cơ chọn nghề.
- Hứng thú tham gia giải quyết các tình huống sư phạm trong giờ rèn
luyện nghiệp vụ sư phạm.
- Nhu cầu hình thành kĩ năng giải quyết các tình huống sư phạm.
- Khả năng tư duy linh hoạt, nhạy bén.
- Óc tưởng tượng sư phạm.
- Làm chủ trạng thái cảm xúc của mình.
- Tính tích cực, chủ động trong giải quyết các tình huống sư phạm.
- Ý chí vượt qua khó khăn trong học tập và luyện tập.
- Khả năng tự kiểm tra, đánh giá và khả năng tự điều khiển, điều chỉnh.
- Khả năng cố gắng vươn lên để tự khẳng định mình.
- Khả năng diễn đạt ngôn ngữ.
- Lòng yêu nghề, mến trẻ.
- Năng lực học tập các môn khoa học chuyên ngành.

7


Ngoài ra, gần đây có một số luận văn thạc sĩ nghiên cứu về vấn đề
này, điển hình như:
- Nguyễn Thị Hạnh Ngọc (2007) với đề tài “Kỹ năng giải quyết tình
huống sư phạm của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Bắc Ninh”[11] đã
nghiên cứu việc hình thành kĩ năng giải quyết tình huống sư phạm của sinh viên.
- Trong đề tài “Tìm hiểu kĩ năng giải quyết tình huống sư phạm của
sinh viên Trường Đại học An Giang”[4], Trần Thanh Hải đã tìm hiểu thực
trạng kĩ năng giải quyết tình huống sư phạm của sinh viên khoa sư phạm
Trường Đại học An Giang, từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm giúp sinh
viên rèn luyện kĩ năng giải quyết tình huống sư phạm.
Các tác giả của những luận văn trên đều có chung nhận định là KN giải

1.2.2. Kĩ năng
Khi xem xét khái niệm KN trong công trình nghiên cứu của các nhà
tâm lý giáo dục ta thấy có hai cách tiếp cận. Cách thứ nhất xem KN nghiêng
về mặt kĩ thuật hành động, còn cách thứ hai xem xét KN nghiêng về năng lực
của con người.
Theo cách tiếp cận thứ nhất, KN được xem như phương thức thực hiện
hành động phù hợp với mục đích và điều kiện hành động mà con người đã
nắm vững. Người có KN hoạt động nào đó là người nắm được tri thức về hoạt
động đó và thực hiện hành động theo đúng yêu cầu của nó mà không cần tính
đến kết quả của hành động. A.V.Petrovski và V.A.Crutetxki cho rằng: KN là
phương thức thực hiện hành động đã được con người nắm vững, không cần
tính đến kết quả hành động. Còn A.V. Côvaliov định nghĩa: KN là phương
thức thực hiện hành động thích hợp với mục đích và những điều kiện hành
động. Ông cũng không đề cập đến kết quả hành động. Theo ông, kết quả hành
động phụ thuộc vào năng lực của con người chứ không chỉ là nắm vững cách
thức hành động là có kết quả tương ứng.
Theo cách tiếp cận thứ hai, gồm có N.Đ.Lêvitov, G.G.Golubev,
X.I.Kixegov, K.K.Platônov, Nguyễn Quang Uẩn, Ngô Công Hoàn, Nguyễn
9


Ánh Tuyết, Trần Quốc Thành, KN được xem xét nghiêng về năng lực của con
người, là biểu hiện của năng lực con người chứ không đơn thuần là mặt kĩ
thuật hành động. Cách tiếp cận này chú ý tới kết quả hành động, coi KN là
năng lực thực hiện một công việc với kết quả nhất định trong một thời gian
nhất định trong điều kiện mới [10, tr. 23].
Theo cách hiểu này, KN nghiêng về khả năng hành động, thực hiện các
hoạt động, các công việc, thao tác cụ thể trên cơ sở vận dụng tri thức, kinh
nghiệm cụ thể, trực tiếp liên quan đến các hoạt động, hành động thực tiễn cụ
thể để đạt được kết quả mong đợi.

động, hoạt động phù hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hoạt
động ấy” hay ở mức cao hơn là “khả năng thực hiện hành động, hoạt động một
cách thành thạo, linh hoạt, sáng tạo phù hợp với những mục tiêu trong các điều
kiện khác nhau”.
Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng khái niệm KN theo quan điểm của
các nhà tâm lý học: Kĩ năng là sự thực hiện có kết quả một hành động nào đó
bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã có để hành
động với điều kiện cho phép. Kĩ năng biểu hiện trình độ các thao tác tư duy,
năng lực hành động và mặt kĩ thuật của hành động [10, tr. 23].
1.2.3. Rèn kĩ năng giải quyết tình huống trong chăm sóc – giáo dục trẻ
Từ khái niệm về kĩ năng đã nêu ở trên, có thể hiểu kĩ năng giải quyết
tình huống trong chăm sóc - giáo dục trẻ là sự thực hiện có kết quả hành động
giải quyết tình huống trong CS - GD trẻ bằng cách vận dụng những tri thức,
kinh nghiệm đã có để hành động với điều kiện cho phép nhằm nâng cao chất
lượng giáo dục trẻ.
Theo Từ điển Tiếng Việt, rèn luyện là luyện tập nhiều trong thực tế để
đạt tới những phẩm chất hay trình độ vững vàng, thông thạo [17, tr. 826].
Như vậy, có thể hiểu rèn luyện kĩ năng giải quyết tình huống trong
chăm sóc - giáo dục trẻ là tổ chức cho sinh viên được tập giải quyết các tình
huống xảy ra trong CS - GD trẻ thông qua các hoạt động học tập ở trường sư
phạm, các đợt THTX, TTSP, các hoạt động ngoại khóa.

11


1.3. Giải quyết tình huống trong chăm sóc - giáo dục trẻ ở các trường
mầm non
1.3.1. Phân loại tình huống trong chăm sóc - giáo dục
trẻ
Tình huống trong GDMN rất đa dạng. Có thể phân loại thành các nhóm

Gợi ý cách giải quyết:
- Cô nhẹ nhàng giải thích cho trẻ là thời gian đã hết và nói rằng hoạt
động tiếp theo có nhiều đồ chơi đẹp và có nhiều điều thú vị.
- Cô bảo với trẻ là buổi sau ra hoạt động ngoài trời, nếu trẻ thích chơi
với cát, nước thì lại chơi tiếp.
- Nếu trẻ vẫn không chịu, cô cho trẻ chơi thêm và hẹn khi nào cô rửa
tay xong cho bạn cuối cùng thì đến lượt cháu và cô cháu mình cùng thi xem ai
rửa tay sạch hơn nhé.
1.3.2. Một số nguyên tắc giải quyết tình huống trong chăm sóc, giáo dục trẻ
Khi gặp một tình huống xảy ra với trẻ mầm non, giáo viên cần:
Hiểu trẻ: Trước mỗi tình huống xảy ra, cô giáo cần bình tĩnh, tìm hiểu
thấu đáo về các mặt tâm lý, sức khoẻ, hoàn cảnh gia đình trẻ...Trẻ mầm non
đang ở giai đoạn hình thành và phát triển nhân cách. Trong hoạt động hàng
ngày, đôi khi trẻ còn có những nhược điểm mà cô giáo mầm non phải hiểu
đúng, hiểu rõ để mỗi khi tình huống xảy ra cô đủ bình tĩnh để ứng xử theo
đạo lý nghề nghiệp.
Thực hiện nguyên tắc “Lấy trẻ em là trung tâm”, giáo viên mầm non
phải tổ chức các hoạt động giáo dục xuất phát từ nhu cầu, hứng thú, kinh
nghiệm của trẻ, không áp đặt theo ý muốn chủ quan của giáo viên; trẻ phải là
chủ thể tích cực trong các hoạt động, còn giáo viên là thang đỡ, điểm tựa,
định hướng tổ chức cho trẻ hoạt động, quan tâm gợi mở, dẫn dắt, tạo cơ hội
để trẻ phát huy tính tích cực, tự lập và sáng tạo trong hoạt động. tránh áp đặt,
nhồi nhét, hối thức, ra lệnh, quát mắng, tỏ thái độ giận giữ với trẻ; coi trọng
suy nghĩ, ý tưởng và quyết định của trẻ, không nhồi nhét áp đặt từ người lớn
và cô giáo, tuy nhiên cũng không buông lỏng và thả nổi cho trẻ tự do tuỳ tiện.
13


Giáo viên luôn đặt mình vào vị trí của trẻ, quan hệ cô và trẻ là sự đồng cảm,
hợp tác thương yêu, tôn trọng nhau, công bằng với trẻ, đồng thời giáo viên

hay bắt chước.
Giáo viên tạo ra một không khí hoạt động phù hợp, hấp dẫn và không
gây sợ hãi cho trẻ vừa là động lực đồng thời cũng là thách thức đối với trẻ
và nâng cao sự sẵn sàng tham gia. Cô giáo hãy là người thay mẹ trẻ tiếp xúc
với trẻ bằng tình cảm yêu thương ruột thịt, tận tâm, khéo léo, dịu dàng trong
CS - GD trẻ.
1.3.3. Các bước tiến hành giải quyết tình huống trong
chăm sóc, giáo dục trẻ
Khi giải quyết các tình huống xảy ra, cần tuân thủ các
bước sau:
- Bước 1: Xem xét cẩn thận tình huống
+ Thu thập đầy đủ thông tin qua con đường trực tiếp hoặc gián tiếp.
+ Phân tích cẩn thận, khách quan diễn biến của tình huống, diễn biến
tâm lý của đối tượng liên quan, xác định mức độ nghiêm trọng của tình huống
để có cách giải quyết kịp thời.
- Bước 2: Phân tích nguyên nhân gây nên tình huống.
- Bước 3: Đưa ra các cách giải quyết khác nhau và chọn một cách giải
quyết phù hợp nhất với hoàn cảnh và đối tượng nhằm đạt hiệu quả, nhưng
không hấp tấp, vội vàng.
- Bước 4: Xác định kết quả và tiếp tục theo dõi.
1.3.4. Các yếu tố giúp cho việc giải quyết thành công các tình huống trong
chăm sóc, giáo dục trẻ
Trước mỗi tình huống xảy ra, mỗi người lại giải quyết theo các cách
khác nhau, đạt hiệu quả không như nhau. Các nhà nghiên cứu cho rằng có một
số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả giải quyết tình huống sư phạm.
1.3.4.1. Kiến thức chuyên môn về tâm, sinh lý trẻ; kiến thức về chăm sóc,
giáo dục trẻ
15




- Kiến thức phổ thông về tin học, ngoại ngữ hoặc tiếng dân tộc nơi giáo
viên công tác.
- Kiến thức về sử dụng một số phương tiện nghe nhìn trong giáo dục.
1.3.4.2. Kĩ năng chăm sóc - giáo dục trẻ
Theo Chuẩn Nghề nghiệp Giáo viên Mầm non, GVMN cần có các kĩ
năng sau:
- Lập kế hoạch chăm sóc, giáo dục trẻ, bao gồm các tiêu chí sau:
+ Lập kế hoạch chăm sóc, giáo dục trẻ theo năm học thể hiện mục tiêu
và nội dung chăm sóc, giáo dục trẻ của lớp mình phụ trách.
+ Lập kế hoạch chăm sóc, giáo dục trẻ theo tháng, tuần.
+ Lập kế hoạch hoạt động một ngày theo hướng tích hợp, phát huy tính
tích cực của trẻ.
+ Lập kế hoạch phối hợp với cha mẹ của trẻ để thực hiện mục tiêu
chăm sóc, giáo dục trẻ.
- KN tổ chức các hoạt động CS - GD trẻ, bao gồm các tiêu chí sau:
+ Biết tổ chức môi trường nhóm, lớp đảm bảo vệ sinh và an toàn cho trẻ.
+ Biết tổ chức giấc ngủ, bữa ăn đảm bảo vệ sinh, an toàn cho trẻ.
+ Biết hướng dẫn trẻ rèn luyện một số kĩ năng tự phục vụ.
+ Biết phòng tránh và xử trí ban đầu một số bệnh, tai nạn thường gặp
đối với trẻ.
- Kĩ năng tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ, bao gồm các tiêu chí sau:
+ Biết tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ theo hướng tích hợp, phát huy
tính tích cực, sáng tạo của trẻ.
+ Biết tổ chức môi trường giáo dục phù hợp với điều kiện của nhóm, lớp.
+ Biết sử dụng hiệu quả đồ dùng, đồ chơi (kể cả đồ dùng, đồ chơi tự
làm) và các nguyên vật liệu vào việc tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ.
+ Biết quan sát, đánh giá trẻ và có phương pháp chăm sóc, giáo dục trẻ
phù hợp.
17

18


học tập theo chủ đề; tổ chức môi trường hoạt động mang tính mở kích thích
trẻ tích cực hoạt động và sáng tạo; tận dụng và khai thác các nguyên vật liệu
tự nhiên sẵn có, sản phẩm của trẻ để tổ chức môi trường hoạt động cho trẻ..
Tổ chức góc cung cấp thông tin với phụ huynh về chủ đề giáo dục đang thực
hiện và kiến thức nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ.
Nhóm C - Nhóm kĩ năng nuôi dưỡng và chăm sóc sức khoẻ: Tổ chức
các hoạt động ăn uống, ngủ, vệ sinh hợp lý; tổ chức cân đo theo định kì và
đánh giá tình trạng sức khỏe của trẻ; đề phòng, phát hiện và xử trí ban đầu
một số bệnh thường gặp ở trẻ; phát hiện các nhu cầu cần chăm sóc đặc biệt ở
trẻ; đề phòng, xử lý ban đầu các tình huống tai nạn thường gặp ở trẻ, sơ cứu
khi cần thiết; phối hợp với cha mẹ và cộng đồng để phòng chống suy dinh
dưỡng, béo phì và các bệnh tật khác.
Nhóm D - Nhóm kĩ năng tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ: Tổ chức
hoạt động chơi; tổ chức hoạt động học; tổ chức hoạt động lao động; tổ chức
hoạt động giáo dục theo hướng tích hợp; sử dụng các phương pháp để tổ chức
hoạt động phát huy tính tích cực, sáng tạo của trẻ và xử lý tình huống sư
phạm; tận dụng và khai thác các điều kiện sẵn có để phục vụ cho hoạt động
giáo dục.
Nhóm E - Nhóm kĩ năng chuyên biệt: Hát, múa, đọc kể diễn cảm, sử
dụng nhạc cụ phổ thông, làm đồ dùng đồ chơi và hướng dẫn trẻ làm đồ dùng
đồ chơi, giáo dục hoà nhập trẻ khuyết tật.
Nhóm G - Nhóm kĩ năng giao tiếp ứng xử sư phạm: Giao tiếp và ứng
xử sư phạm với trẻ; giao tiếp và ứng xử đúng mực với đồng nghiệp; giao tiếp
và ứng xử đúng mực với phụ huynh và cộng đồng.
Nhóm H - Nhóm kĩ năng quản lý nhóm, lớp trẻ: Bao quát lớp; quan
sát, đánh giá hoạt động và sự tiến bộ/phát triển của trẻ; thực hiện các loại sổ
sách, tài liệu, hồ sơ và sử dụng có hiệu quả.

ngừng hoàn thiện nhân cách của mình. Trong quá trình tổ chức cuộc sống, tổ

20


chức các hoạt động cho trẻ, người lớn phải mẫu mực về nhân cách, vững vàng
về trình độ chuyên môn và nghệ thuật sư phạm.
Một trong những khía cạnh thể hiện rõ nhất tính không rập khuôn của
nghề dạy học là cách thức giáo viên ứng phó với những tình huống sư phạm.
Trong giải quyết các tình huống sư phạm không có một công thức chung, một
đáp án bất di bất dịch, bởi mỗi giáo viên tùy theo tri thức, vốn kinh nghiệm,
mục đích, yêu cầu, hoàn cảnh sống, vị thế xã hội, nhân cách khác nhau…mà
có cách giải quyết tình huống khác nhau. Các tình huống cũng rất đa dạng.
Chính ở khía cạnh này, những phẩm chất tâm lý cần thiết đối với nghề dạy
học được bộc lộ rõ nét nhất, là lúc người giáo viên thể hiện rõ nhất năng lực
nghề nghiệp của bản thân. Đồng thời, còn là lúc để người giáo viên tự rèn
luyện tư duy sư phạm linh hoạt, mềm dẻo, khả năng tự chủ, khả năng hiểu trẻ,
khả năng ứng xử sư phạm... Thực tiễn giáo dục cho thấy, giáo viên thường
xuyên phải đối mặt với các tình huống sư phạm đa dạng, đòi hỏi có những
cách giải quyết hợp lý, hợp tình, qua đó thực hiện được chức năng giáo dục
trẻ. Một tình huống như nhau nhưng với các đối tượng khác nhau, ở những
thời điểm khác nhau sẽ có những cách giải quyết không hoàn toàn giống
nhau. Rèn luyện năng lực giải quyết tình huống sư phạm là rèn luyện toàn bộ
nhân cách. Vì vậy, người giáo viên cần thường xuyên tự trau dồi để phát triển
nghề nghiệp, chẳng hạn, cần bổ sung những kiến thức về khoa học hành vi
con người. Trên thực tế, cho dù là tình huống loại nào, thì về cơ bản, trong
các tình huống sư phạm đều chứa đựng xung đột tâm lý ở mức độ khác nhau.
Vì thế, nếu giáo viên có những kiến thức về các giai đoạn phát triển xung đột,
về các cách giải quyết xung đột... thì mới có thể dễ dàng lựa chọn cho mình
một cách giải quyết có hiệu quả. Có thể bổ sung các kiến thức này vào

ý thức thì cách ứng xử đã nảy sinh như một phản ứng tất yếu. Cái “vô thức”
cũng có thể thể hiện khi cô giáo có cảm tình với một trẻ khôi ngô, con nhà
khá giả…

23


- Về ngôn ngữ sư phạm, cô giáo mầm non cần diễn đạt rõ ràng, mạch
lạc, dễ hiểu; ngữ điệu vừa phải, biết điều tiết giọng nói của mình lúc to, lúc
nhỏ, khi nhanh, khi chậm; không nói lắp, nói ngọng.
- Trong quá trình giao tiếp với trẻ, cô cần chú ý lắng nghe trẻ, khích lệ
trẻ nói hết những điều mong muốn; không quát mắng và dùng những từ xúc
phạm trẻ; biết đặt vị trí của mình vào vị trí của trẻ để hiểu trẻ.
1.3.4.4. Xu hướng nghề của sinh viên
Nghề nghiệp là một lĩnh vực tồn tại khách quan, muốn chiếm lĩnh nghề
nghiệp, hình thành và phát triển xu hướng nghề của cả đời thì trước hết con
người phải nhận thức được nghề mà mình theo đuổi. Họ phải nhận thức được
những yêu cầu đặc trưng của nghề, ý nghĩa xã hội của nghề và những đặc
điểm tâm, sinh lí cá nhân cần thiết của người lao động trong nghề ấy. Nhận
thức được nghề sư phạm là phải nhận thức được sự cao quý, quan trọng và
cần thiết của nghề trong xã hội, đó là nghề “trồng người”, quyết định cơ bản
tới nguồn nhân lực của xã hội. Nghề GVMN là nghề tiếp xúc thường xuyên
với trẻ nhỏ, nếu người giáo viên không có hứng thú nghề nghiệp, không có
lòng yêu nghề, mến trẻ, không say sưa nhiệt tình với công việc thì khó có thể
kiên trì nhẫn nại, sáng tạo, nhân hậu với trẻ em trong quá trình giáo dục và
khó có thể đạt kết quả cao trong hoạt động nghề nghiệp của mình. Vì vậy
người GVMN phải có những phẩm chất như: Lòng yêu nghề, yêu trẻ, tinh
thần nghĩa vụ, trách nhiệm, tinh thần “mình vì mọi người”, sự tôn trọng, lòng
tin, sự ân cần và đức tính kiên trì… Thực tế đã cho thấy, khi sinh viên có
những tri thức về nghề sư phạm, có năng lực nhất định mà nghề yêu cầu… thì

các vấn đề của tự nhiên và xã hội mà loài người và khoa học chưa có lời giải.
Nghiên cứu khoa học, tìm cách ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học về
thực tiễn đời sống và công bố các kết quả nghiên cứu cho cộng đồng.
Giảng viên còn là nhà cung ứng dịch vụ cho xã hội. Cụ thể đối với nhà
trường và sinh viên, một giảng viên cần thực hiện các dịch vụ như tham gia
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status