1
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Trẻ em là niềm hạnh phúc của mỗi gia đình, là tương lai của mỗi dân
tộc. Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ là trách nhiệm của Đảng, Nhà Nước,
của toàn xã hội và mỗi gia đình. Đã từ lâu, Đảng, Nhà Nước, xã hội và mỗi
gia đình nhận thức rõ và đi tới những biện pháp thiết thực để bảo vệ, chăm
sóc giáo dục trẻ, phát huy tối đa các năng lực trí tuệ, thể chất cho thế hệ trẻ,
phát triển phù hợp với sự tiến bộ của thời đại.
GDTC là một bộ phận của giáo dục toàn diện, ngày nay GDTC là môn
học bắt buộc trong tất cả các bậc học từ mầm non đến Đại học, nhằm thực
hiện mục tiêu đào tạo con người “phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về Thể
chất, phong phú về tinh thần và trong sang về đạo đức” [8]. Nhận thức được
vị trí, vai trò của GDTC trường học, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đầu
tư cơ sở vật chất cho giáo dục, đào tạo đội ngũ GV chuyên môn, xây dựng
chương trình phù hợp với từng đối tượng nhằm góp phần đẩy mạnh công tác
giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ, phục vụ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước.
GDMN là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân đặt nền
móng cho sự phát triển và hình thành nhân cách của trẻ. Mục tiêu của GDMN
là giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những
yếu tố đầu tiên của nhân cách và chuẩn bị cho trẻ vào lớp một. GDMN tạo sự
khởi đầu cho sự phát triển toàn diện cho trẻ, đặt nền tảng cho việc học tập ở
các cấp học tiếp theo.
Để thực hiện được mục tiêu trên, cần nhận thức đúng đắn rằng: Mọi
năng lực, chức năng của trẻ chỉ có thể hình thành, phát triển tốt khi cơ thể
khỏe mạnh và có khả năng tư duy. Khi đó việc học tập và giáo dục mới phát
huy vai trò chủ đạo, có tính quyết định đến việc hình thành chức năng, năng
lực cho trẻ. Điều đó, thể hiện vai trò to lớn của GDTC đối với sự phát triển
trường đào tạo song song hai chương trình GDTC, nhưng SV ngành SPMN
3
lại không đảm bảo yêu cầu đào tạo chuẩn mang tính nghề và không có đủ
năng lực về: Lựa chọn bài tập, sử dụng các bài tập vận động nhằm hình thành
và hoàn thành các năng lực tự thoát hiểm cho SV mầm non, lựa chọn trò chơi
vận động trong các giờ học cho trẻ mầm non.
Vì vậy để đáp ứng yêu cầu đổi mới trong đào tạo GVMN và đổi mới
GVMN, là dùng giáo viên để “cải cách” giáo dục. Với đề tài: “Nâng cao hiệu
quả chương trình Giáo dục Thể chất cho sinh viên ngành sư phạm mầm non
trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2”, tôi mong muốn được góp phần nâng cao
chất lượng GDTC trong nhà trường mầm non nói chung và trong đào tạo giáo
viên ngành SPMN nói riêng.
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng tổ chức GDTC ở trường mầm non đề xuất giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo GV ngành SPMN trường ĐHSP Hà nội 2.
3. Giả thuyết khoa học
Chương trình GDTC dành cho SV ngành SPMN (Chương trình GDTC
chung và Chương trình phương pháp GDTC cho trẻ mầm non), còn nhiều hạn
chế. Lãng phí về thời gian,chất lượng và hiệu quả đào tạo không đáp ứng nhu
cầu thực tiễn. Nếu tiến hành đổi mới chương trình môn học GDTC dành cho
SV sư phạm mầm non theo hướng:
Lồng ghép hai chương trình (GDTC chung và GDTC đào tạo GVMN)
thành một chương trình thì cùng một lúc thực hiện được hai chức năng đó là:
- Phát triển thể chất cho SV.
- Đào tạo năng lực tiến hành GDTC cho trẻ mầm non.
5
cân đối, khỏe mạnh, nhanh nhẹn, biết kính trọng, yêu mến, lễ phép với ông
bà, cha mẹ, thầy cô giáo và người trên, yêu quý anh, chị, em, bạn bè, thật thà,
mạnh dạn, hồn nhiên, yêu thích cái đẹp, ham hiểu biết, thích đi học.
Phương pháp GDMN chủ yếu là thông qua việc tổ chức các hoạt động
vui chơi để giúp trẻ em phát triển toàn diện, chú trọng việc nêu gương, động
viên, khích lệ.
1.1.4. Chương trình Giáo dục Mầm non
Chương trình GDMN thể hiện mục tiêu GDMN, cụ thể hóa các yêu cầu
về nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em ở từng độ tuổi, quy định việc tổ
chức các hoạt động nhằm tạo điều kiện để trẻ em phát triển về thể chất, tình
cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hướng dẫn đánh giá sự phát triển của trẻ em ở lứa tuổi
mầm non.
1.1.5. Cơ sở Giáo dục Mầm non
Cơ sở GDMN bao gồm:
- Nhà trẻ, nhóm trẻ nhận trẻ em từ ba tháng tuổi đến ba tuổi.
- Trường, lớp mẫu giáo nhận trẻ từ ba tuổi đến sáu tuổi.
- Trường Mầm non là cơ sở giáo dục kết hợp nhà trẻ và Mẫu giáo, nhận
trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi.
1.2. Đặc điểm hoạt động nghề nghiệp của Giáo viên Mầm non
1.2.1. Khái niệm về nghề nghiệp
Nghề nghiệp theo tiếng Latinh “Professio” có nghĩa là công việc
chuyên môn được hình thành một cách chính thống, là dạng lao động đòi hỏi
một trình độ học vấn nào đó, là cơ sở hoạt động cơ bản giúp con người tồn tại.
Theo tác giả E.A.Klimov thì: “Nghề nghiệp là một lĩnh vực sử dụng
sức lao động vật chất và tinh thần của con người một cách có giới hạn, cần
thiết cho xã hội (do sự phân công lao động mà có) nó tạo cho con người khả
7
đất nước, nghề không đơn giản chỉ là dạy chữ mà còn là nghề “trồng” người,
giáo dục, xây dựng nên tâm hồn, nhân cách con người.
Trong bất cứ thời đại nào, xã hội nào thì nghề sư phạm đều cần thiết và
quan trọng. Vì giáo dục là nền tảng văn hóa của một nước, là sức mạnh tương
lai của một dân tộc. Người nhà giáo có vai trò to lớn trong quá trình giáo dục
thế hệ trẻ, là người quyết định chất lượng đào tạo và là “cái cầu nối” giữa nền
văn hóa nhân loại và dân tộc, là mắt xích trong sợi dây chuyền nối liền các thế
hệ, các thời đại, là người trao “tín vật” của hiện tại cho tương lai. Chính điều
đó làm cho hoạt động của người nhà giáo trở nên thiêng liêng và giàu
sáng tạo.
Xã hội càng phát triển, càng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với người lao
động. Do vậy vai trò và nhiệm vụ của công việc đào tạo thế hệ trẻ, chuẩn bị
cho thế hệ trẻ bước vào cuộc sống, hòa nhịp với xã hội ngày càng trở nên
nặng nề hơn. Trong thời đại ngày nay, chức năng của người nhà giáo rất toàn
diện, nhà giáo không chỉ là người truyền thụ tri thức khoa học hiện đại mà
còn là người tổ chức, điều khiển hoạt động học tập của học sinh.
Như vậy: Nghề sư phạm là một lĩnh vực hoạt động của người nhà giáo
theo sự phân công của xã hội, trong đó người thầy sử dụng các năng lực thể
chất tinh thần và toàn bộ nhân cách của mình để dạy, giáo dục, đào tạo thế hệ
trẻ trở thành những con người hữu ích cho xã hội.
Lao động của người nhà giáo không giống như lao động của các ngành
nghề khác. Lao động của người nhà giáo không trực tiếp tạo tạo ra của cải vật
chất, nhưng lao động của người nhà giáo cao quý và giá trị ở chỗ nó sáng tạo,
phát triển nhân cách và trí tuệ con người - sản phẩm cao quý nhất của xã hội,
Đó là nét đặc thù riêng, độc đáo của LĐSP mà không nghề nào
có được.
9
với trẻ em, đối sử công bằng, dân chủ và tế nhị trong cách cư sử, mềm dẻo
nhưng cương quyết.
Lao động của GVMN tạo ra sản phẩm đặc biệt, đó là trang bị cho trẻ
em kỹ năng sống, kỹ năng vận động, khả năng tư duy và nhân cách trước tuổi
ngồi trên ghế nhà trường phổ thông.
Suy nghĩ cho thấy con người chỉ sinh ra con người, còn giáo dục mới
sản sinh ra nhân cách. Nói cách khác, lao động của nhà giáo là lao động sản
xuất ra nhân cách, sản xuất ra giá trị nhân loại. Sản phẩm lao động của nhà
giáo gắn liền với tương lai dân tộc, loài người. Lao động của nhà giáo là tạo
sức lao động mới trong từng con người. Nghề dạy học là nghề tái sản xuất mở
rộng sức lao động.
Khác với GV các bậc học khác, GVMN là được đào tạo để giảng dạy
toàn diện các môn học thuộc cấp học, nên họ có tác động cực kỳ to lớn đến
tâm hồn, nhân cách và trí tuệ của trẻ. Họ vừa là người dạy chữ, dạy kiến thức,
dạy những kỹ năng cơ bản của cuộc sống, vừa là người quản lý giáo dục,
người tổ chức quá trình dạy học, người chịu trách nhiệm toàn diện và triệt để
đối với sự tiến bộ của trẻ.
1.2.3.3.Yêu cầu chuẩn về nghề nghiệp giáo viên mầm non
“Không còn nghi ngờ gì, chất lượng giáo dục phụ thuộc rất lớn vào
không khí chung của nhà trường, nhưng điều quan trọng hơn cả vẫn là ở nhân
cách người giáo viên, con người thường xuyên tiếp xúc với trẻ. Ảnh hưởng
nhân cách của người giáo viên lên tâm hồn trẻ tạo nên một sức mạnh giáo dục
to lớn mà sách giáo khoa, các lời thuyết giáo đạo đức, khen thưởng và trách
phạt không thể thay thế được”.(K.D.Usinxki)[2].
Do đó, người GVMN cần có yêu cầu chuẩn về nghề nghiệp như sau:
Yêu cầu thuộc lĩnh vực phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, chấp
Các nhà lý luận giáo dục duy tâm cho rằng, GDTC là bản tính hay nhu
cầu bản năng của con người giống như các sinh vật khác, GDTC mang tính
11
chất bẩm sinh của con người cũng tương tự như: “Sự giáo dục”- bắt chước
của loài vật như đi, chạy, nhảy… Với lập luận này, trên thực tế họ đã phủ
nhận vai trò của lao động và tư duy - một hiện tượng mới về chất đã làm cho
con người khác biệt với các loài vật. Theo họ, thực tiễn của hình thức giáo
dục này nhằm thỏa mãn những yêu cầu bản năng nào đó và hầu như không có
liên quan đến yêu cầu xã hội. Họ đã phủ nhận mối quan hệ chặt chẽ giữa xã
hội và giáo dục và cả nội dung của giáo dục.
Các nhà duy vật lý luận cho rằng, GDTC là một hiện tượng xã hội, là
phương tiện phục vụ xã hội, chủ yếu nhằm nâng cao thể chất, đồng thời tác
động mạnh mẽ đến sự phát triển tinh thần của con người. Họ khẳng định rằng,
chỉ khi nào con người tự giác tập luyện các bài tập thể dục, nhằm phát triển cơ
thể của bản thân để chuẩn bị cho những hoạt động nhất định, thì lúc đó mới
có GDTC thực sự.
Các tư tưởng tiến bộ về giáo dục toàn diện con người cho rằng con
người phải được phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần, đã xuất hiện trong
kho tàng văn hóa chung của xã hội loài người từ nhiều thế kỷ trước đây.
Từ nhà triết học cổ Hi Lạp Aristốt (384-322 T.CN), những người theo
chủ nghĩa nhân đạo thời Phục Hưng như: Moongtenghơ (1533-1592), những
người theo chủ nghĩa không tưởng như Saint-Simon (1760-1825), Robert
Owen (1771-1858), đến các nhà bác học và giáo dục nổi tiếng của Nga như
M.V.Lômôxốp (1771-1765), V.G.Belinxki (1811-1848), K.Đ.Usinxki (18241870), N.G.Strecnưsepxki (1828-1889), P.Ph.Lexgap(1837-1909) và nhiều
người khác nữa, đã phát triển, bảo vệ tư tưởng của học thuyết về sự phát triển
hài hòa giữa năng lực thể chất và tinh thần của con người.
Tuy nhiên, do tính chất của quan hệ xã hội và lịch sử trong các chế độ
*Cơ sở giáo dục học
GDMN cung cấp những kiến thức về mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục trẻ
em, những quan điểm cơ bản, các nguyên tắc xây dựng chương trình chăm
13
sóc và giáo dục, các phương pháp, hình thức tổ chức chăm sóc giáo dục trẻ,
trong đó có GDTC là một bộ phận của giáo dục phát triển toàn diện.
1.3.1.2. Cơ sở khoa học tự nhiên
Cơ sở khoa học tư nhiên của lý luận GDTC là toàn bộ các chuyên môn
khoa học mà nhiệm vụ của chúng là nghiên cứu những quá trình phát triển
sinh học của con người. Những kiến thức về đặc điểm giải phẫu, sinh lí, vệ
sinh trẻ em giúp cho việc bảo vệ sức khỏe trẻ, việc tổ chức sinh hoạt hợp lí và
hoạt động vận động của các em. Những kiến thức khoa học này được xây
dựng trên cơ sở học thuyết của các nhà sinh học vĩ đại như: I.M.Xêtrênnôp
(1829-1905), I.P.Paplôp (1849-1936) và những người kế tục.
Các học thuyết đó bao gồm: Học thuyết về sự thống nhất giữa cơ thể và
môi trường, học thuyết về mối liên hệ tạm thời của các phản xạ có điều kiện
và sự hình thành định hình động lực, học thuyết về hệ thần kinh cao cấp.
1.3.2. Nhiệm vụ và nguyên tắc giáo dục Thể chất cho trẻ em lứa tuổi
mầm non
1.3.2.1. Nhiệm vụ Giáo dục Thể chất cho trẻ em lứa tuổi Mầm non
*Nhiệm vụ bảo vệ sức khỏe
Nhiệm vụ quan trọng của GDTC là bảo vệ và tăng cường sức khỏe cho
trẻ nhằm đảm bảo sự phát triển thể lực toàn diện.
Nhiệm vụ bảo vệ sức khỏe gồm: Chăm sóc, nuôi dưỡng và rèn luyện
một cách khoa học, chăm sóc trẻ khi ăn, ngủ, nghỉ, chơi và học, đảm bảo việc
thực hiện chế độ sinh hoạt đúng giờ giấc cho trẻ, cho trẻ ăn đủ chất, đủ lượng,
rèn luyện cơ thể trẻ bằng các hình thức tiết học Thể dục, trò chơi vận động,
động hoặc thể dục sáng, GV nên nhận xét, đánh giá hành vi đạo đức của trẻ,
tạo cho trẻ những hiểu biết nhất định về đạo đức. Ngoài ra có thể giáo dục trẻ
những phẩm chất ý chí như lòng dũng cảm, tính kiên trì, biết kiềm chế, tính
kiên quyết, tính tổ chức kỷ luật.
15
- GDTC với giáo dục trí tuệ: Trong quá trình tập luyện, GV sử dụng hệ
thống phương pháp dạy học khác nhau tác động đến quá trình nhận thức của
trẻ, yêu cầu trẻ phải tư duy tích cực để ghi nhớ và nhớ lại cách thức thực hiện
bài tập. Đối với trẻ mầm non, điều quan trọng là phải giáo dục trẻ những cảm
xúc tích cực, đảm bảo sự sảng khoái, trạng thái vui tươi, phát triển khả năng
vượt qua những trạng thái tâm lí tiêu cực.
- GDTC với giáo dục thẩm mỹ: Trong quá trình dạy bài tập cho trẻ, GV
phải làm mẫu. Các động tác mẫu phải đẹp, chính xác giúp trẻ nhận thức đúng
đắn về cái đẹp. Chính các bài tập TDTT cũng chứa đựng nhiều yếu tố nghệ
thuật như tập với dụng cụ, tập theo nhạc, Thể dục đồng diễn… Điều này hình
thành cho trẻ có được nhận thức về cái đẹp, tạo khả năng cảm thụ âm nhạc,
nhịp điệu…
- GDTC với giáo dục lao động: Quá trình GDTC cũng chính là quá
trình giải quyết một số nhiệm vụ lao động. Trong các giờ luyện tập thể dục,
trẻ có thể tham gia chuẩn bị và thu dọn dụng cụ thể dục. Thông qua các trò
chơi vận động có chủ đề trẻ sẽ hiểu được tính chất của các nghề nghiệp và các
thao tác lao động của người lớn.
Như vậy, quá trình GDTC cho trẻ mầm non cần đảm bảo kết hợp chặt
chẽ với tất cả các mặt giáo dục toàn diện.
1.3.2.2. Các nguyên tắc Giáo dục Thể chất cho trẻ em lứa tuổi mầm non
* Nguyên tắc hệ thống
Nguyên tắc hệ thống là nguyên tắc đầu tiên được vận dụng trong việc
- Cá biệt hóa theo xu hướng chung và theo các con đường riêng trong
GDTC.
* Nguyên tắc phát triển
Nguyên tắc phát triển được thể hiện như sau:
17
- Sự cần thiết phải thường xuyên đổi mới các nhiệm vụ với xu hướng
chung là tăng cường lượng vận động.
- Những điều kiện để phức tạp hóa nhiệm vụ tập luyện và những hình
thức nâng cao lượng vận động (hình thức tăng theo đường thẳng, bậc thang,
làn sóng.)
* Nguyên tắc đảm bảo an toàn trong tập luyện
GV thường xuyên kiểm tra, tổ chức sắp xếp bài giảng hợp lý, sao cho
phù hợp với nội dung và yêu cầu kỹ thuật, kiến thức đề ra, cách bố trí, sắp xếp
sân bãi, dụng cụ, bảo hiểm.
GV cần chú ý:
- Đảm bảo thứ tự tiết học, hướng dẫn, giải thích, làm quen với các kỹ
thuật động tác, từ đó tăng dần độ khó của bài tập, tăng dần lượng vận động.
- Giúp trẻ tự tin, sẵn sàng vượt khó trong tập luyện.
- Tiến hành kiểm tra thiết bị, dụng cụ tập luyện, quần áo, dày dép của
GV và trẻ phải gọn gàng.
- Có kế hoạch kiểm tra sức khỏe cho trẻ.
Tóm lại: Không thể nguyên tắc nào có thể đảm bảo chức năng hoạt
động GDTC một cách đầy đủ nếu các tắc khác bị trừ. Chỉ trên cơ sở thống
nhất các nguyên tắc mới có thể đạt được hiệu quả cao nhất của từng
nguyên tắc.
1.3.3. Đặc điểm phát triển thể chất ở trẻ em lứa tuổi mầm non
* Đặc điểm phát triển của trẻ em lứa tuổi mầm non
thu và củng cố các kỹ năng cần thiết. Trẻ em lứa tuổi này lớn nhanh, cảm thấy
như gầy hơn, mất vẻ tròn trĩnh, mập mạp đã có ở tuổi nhà trẻ. Đặc trưng của
trẻ em lứa tuổi này là cơ thể phát triển chưa ổn định và khả năng vận động
còn hạn chế.
19
* Đặc điểm phát triển vận động ở trẻ em
Phát triển vận động của trẻ trong năm đầu
- Giai đoạn từ 1,5 - 3 tháng: Giai đoạn này trẻ đã có thời gian thức sau
khi ăn nên ta có thể bắt đầu áp dụng một số bài tập vận động cho trẻ. Điều
kiện cơ bản để phát triển đầy đủ thể lực và thần kinh ở giai đoạn này là tạo
cho trẻ có trạng thái cảm xúc tốt. Có thể áp dụng các bài tập xoa vuốt nhẹ các
ngón tay và chân để giảm trương lực cơ gấp, tăng khả năng duỗi của cơ. Đến
cuối tháng thứ hai sang tháng thứ ba tập cho trẻ biết nâng và giữ đầu cao, có ý
nghĩa lớn cho sự phát triển của não. Sự vận động của đầu làm cho tuần hoàn
tốt hơn, mở rộng sự hiểu biết của trẻ, não nhận thức được nhiều kích thích từ
bên ngoài.
- Giai đoạn từ 3 - 4 tháng: Giai đoạn này đã có sự cân bằng trương lực
cơ và cơ duỗi của tay, trẻ có thể co, duỗi tay dễ dàng. Ta có thể áp dụng các
bài tập thụ động cho tay như: Cho trẻ duỗi các ngón tay, sờ vào tay của mình,
với lắc hay giữ đồ chơi. Chân của trẻ chưa có sự cân bằng trương lực giữa cơ
co và duỗi nên cần tập các bài tập xoa vuốt nhẹ, bài tập phản xạ cho chân và
bàn chân.
- Giai đoạn từ 4 - 6 tháng: Ở trẻ đã có sự cân bằng trương lực cơ co và
duỗi của chân, xuất hiện động tác trườn. Các nhóm tay, chân, ngực và bụng
được củng cố. Tháng thứ tư đến tháng thứ năm trẻ đã hình thành đường dẫn
truyền thính giác, khi cho trẻ tập nên phối hợp đếm để tăng mức độ nhịp
nhàng của động tác và rèn luyện phản xạ vận động với âm thanh. Tháng thứ
Sự phát triển vận động của trẻ diễn ra trên cơ sở những vận động đi, chạy và
cảm giác thăng bằng, vận động nhảy, vận động bò và ném. Như vậy, để phát
triển những vận động khác nhau ở trẻ, phải sử dụng nhiều loại dụng cụ khác
nhau nhằm gây hứng thú và lòng ham muốn vận động của trẻ.
Phát triển vận động của trẻ bốn tuổi: Tốc độ phát triển thể lực lứa tuổi
này chậm hơn lứa tuổi trước, nhưng quá trình cốt hóa của xương diễn ra
21
nhanh. Khả năng làm việc của hệ thần kinh còn yếu, nên nếu vận động nhiều,
nặng thì trẻ nhanh mệt mỏi. Phản xạ có điều kiện được hình thành nhanh,
song củng cố còn chậm. Vì vậy những thói quen vận động mới được hình
thành bền vững, dễ sai lệch. Sự phát triển vận động của trẻ diễn ra trên cơ sở
những vận động đi, chạy và cảm giác thăng bằng vận động nhảy, vận động
ném, truyền, bắt, vận động bò, trườn, trèo.
Phát triển vận động của trẻ năm tuổi: Giai đoạn này trẻ trở nên cứng
cáp hơn, biết tự lực, rất hiếu động và không biết mệt mỏi, các mệt mỏi của trẻ
dần đi đến hoàn thiện. Vì vậy, sự vận động của trẻ cần được người lớn theo
dõi, kiểm tra. Khả năng chú ý của trẻ tăng, trẻ hiểu được nhiệm vụ của mình
trẻ có thể thực hiện được những động tác quen thuộc bằng nhiều cách, trong
một thời gian dài hơn, với lượng vận động lớn hơn. Các vận động của trẻ đạt
tới mức độ chính xác, nhịp nhàng, biết phối hợp vận động của mình với các
bạn: Trẻ có khả năng quan sát hình ảnh động tác mẫu của GV ghi nhớ để thực
hiện lại. Do đó, phải tăng dần yêu cầu đối với trẻ để giúp trẻ hoàn thiện vận
động, sử dụng nhiều phương pháp dạy học khác nhau giúp trẻ thực hiện động
tác một các có ý thức và đạt hiệu quả cao hơn. Chú ý thường xuyên theo dõi,
kiểm tra đánh giá quá trình vận động của trẻ. Lứa tuổi này sự phát triển vận
động của trẻ diễn ra trên cơ sở những vận động đi, chạy và phát triển cảm giác
thăng bằng, vận động nhảy, vận động ném, trườn, trèo.
*Các bài tập Thể dục
Bài tập Thể dục gồm một hệ thống động tác được chọn lọc, tác động
lên toàn bộ cơ thể con người, tăng cường các quá trình chức năng cơ bản,
thuận lợi cho sự phát triển cân đối và nâng cao trương lực sống.
Bài tập Thể dục có tác dụng đẩy mạnh các quá trình sinh lí trong cơ thể
và củng cố sức khỏe cho trẻ. Giúp hình thành đúng những hoạt động vận động
và phát triển các tố chất thể lực.
23
Bài tập Thể dục cho trẻ em lứa tuổi mầm non là là bài tập thể dục bao
gồm: Bài tập đội hình đội ngũ, bài tập phát triển chung và bài tập vận động
cơ bản.
- Bài tập đội hình đội ngũ: Là loại bài tập thể chất sử dụng vận động đi
với nhiều hình thức khác nhau.
Bài tập đội hình đội ngũ cho trẻ ở trường mầm non thực hiện nhiều
trong thể dục buổi sáng, tiết học thể dục, giáo dục âm nhạc và sử dụng trong
trò chơi vận động.
Luyện tập đội hình đội ngũ giúp trẻ phát triển khả năng chú ý, phối hợp
hành động khi hoạt động tập thể, khả năng định hướng trong không gian, rèn
luyện tư thế đúng như: Đi thẳng, bước dứt khoát và bồi dưỡng tính tổ chức kỷ
luật, tinh thần tập thể, tính tự giác cho trẻ.
Nội dung tập luyện đội hình đội ngũ đối với trẻ em các lứa tuổi, từ 18
tháng tuổi trở lên, khi trẻ biết đi vững, bắt đầu cho trẻ tập luyện đội hình
đội ngũ.
+ Đối với trẻ từ 18 - 36 tháng tuổi, có: Đội hình tự do, đội hình vòng
cung, đội hình vòng tròn, quay về phía có vật chuẩn, đứng thành hàng dọc,
đứng thành hàng ngang.
+ Đối với trẻ 3 - 4 tuổi có: Đội hình vòng tròn, xếp hàngtheo tổ, từ
co, tay duỗi (8 - 9 tháng) vị đứng lên, ngồi xuống (8 - 9 tháng).
+ Với trẻ từ 9 - 12 tháng cần tập những bài tập sau:
Nằm ngửa bắt chéo hai tay trước ngực, nằm ngửa co duỗi đều hai chân,
nằm ngửa nâng hai chân duỗi thẳng, ngồi tay co tay duỗi, ngồi đưa tay ra mọi
phía, nằm ngửa, luân phiên đưa thẳng từng chân lên, chuyển từ ngồi xuống
nằm (9 - 10 tháng), bò theo hướng thẳng, đứng vịn và đi men, tập chững (10 12 tháng) tập đi (11 - 12 tháng).
Trẻ em từ 12 - 24 tháng được chia thành các giai đoạn sau:
25
+ Với trẻ em từ 12 - 18 tháng cần dạy trẻ những bài tập sau:
Tập đi (12 - 15 tháng), đi theo hướng thẳng (14 - 18 tháng), đi cầm vật
trên tay (16 - 18 tháng), bò qua vật cản (12 - 18 tháng), bò chui dưới vật, lăn
bóng bắng hai tay, ném bóng bằng một tay về phía trước (17 - 18 tháng).
+ Với trẻ em từ 18 - 24 tháng: Các bài tập hô hấp (ngửi hoa, thổi bóng,
gà gáy) các bài tập phát triển cơ tay, vai, các bài tập phát triển cơ lưng, bụng,
các bài tập phát triển cơ chân.
+ Trẻ từ 24 - 36 tháng tuổi: Sử dụng các bài tập hô hấp, các bài tập phát
triển cơ tay, vai, các bài tập phát triển cơ bụng, lườn, các bài tập phát triển
cơ chân.
+ Trẻ em từ 3 - 4 tuổi: Sử dụng các bài tập hô hấp, các bài tập phát
triển cơ tay, vai, các bài tập phát triển cơ bụng, lườn, các bài tập phát triển cơ
chân.
+ Trẻ em từ 4 - 5 tuổi: Sử dụng các bài tập hô hấp, các bài tập phát
triển cơ tay, vai, các bài tập phát triển cơ bụng, lườn, các bài tập phát triển cơ
chân, các động tác bật nhảy (tại chỗ, về phía trước, tách chân, khép chân, luân
phiên chân trước chân sau).
+ Trẻ em từ 5 - 6 tuổi: Sử dụng các bài tập hô hấp, các bài tập phát triển
cơ tay, vai, các bài tập phát triển cơ bụng, lườn, các bài tập phát triển cơ chân,