TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
VŨ THỊ HUỆ
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
CÔNG TÁC GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHO
TRẺ MẪU GIÁO TRƯỜNG MẦM NON
HÙNG VƯƠNG - PHÚC YÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục thể chất
Người hướng dẫn khoa học
ThS. NGUYỄN XUÂN ĐOÀN
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là: Vũ Thị Huệ
Sinh viên lớp K36B - Giáo dục Mầm non, Trường ĐHSP Hà Nội 2
Tôi xin cam đoan đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giáo
dục thể chất cho trẻ mẫu giáo trường mầm non Hùng Vương - Phúc Yên”
là công trình nghiên cứu của riêng tôi: Các số liệu, kết quả thu thập được
trong khóa luận là trung thực, rõ ràng, chưa từng được công bố trong bất kỳ
công trình nghiên cứu nào.
Hà Nội, ngày
tháng
Sinh viên
HĐNT :
Hoạt động ngoài trời
HNTW :
Hội nghị Trung ương
KNVĐCB :
Kỹ năng vận động cơ bản
TCVĐ :
Trò chơi vận động
TDCB :
Thể dục cơ bản
TDTT:
Thể dục thể thao
TTN:
Trước thực nghiệm
TW:
Bảng 3.8
Bảng 3.9
Bảng 3.10
Bảng 3.11
Bảng 3.12
Bảng 3.13
Bảng 3.14
Bảng 3.15
Bảng 3.16
Nội dung
Trang
Thực trạng về cơ sở vật chất trang thiết bị và không
gian (n=30)
Thực trạng về công tác quản lý, chỉ đạo trong trường
mầm non Hùng Vương - Phúc Yên (n=30)
Thực trạng về số lượng và trình độ của đội ngũ giáo
viên (n=30)
Thực trạng nhận thức của giáo viên về sự cần thiết
của GDTC cho trẻ mẫu giáo (n=30)
Thực trạng việc thực hiện các nhiệm vụ GDTC cho
trẻ mẫu giáo (n=30)
Thực trạng việc thực hiện bài tập đội hình, đội ngũ
(n=30)
Thực trạng nhận thức của giáo viên về việc thực hiện
bài tập phát triển chung (n=30)
Thực trạng việc thực hiện bài tập kỹ năng vận động
cơ bản (n=30)
43
44
45
45
Bảng 3.17
Kết quả kiểm tra sau thực nghiệm đối với trẻ 5-6 tuổi
(nA= nB=10)
46
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ.....................................................................................................1
CHƯƠNG 1........................................................................................................4
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.............................................................4
1.1. QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC MẦM NON. .4
1.2. VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC MẦM NON.........................................5
1.3. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU..............6
1.3.1. Khái niệm giải pháp....................................................................................6
1.3.2. Khái niệm GDTC [6]..................................................................................7
1.4. ĐẶC ĐIỂM PHÁT TRIỂN THỂ CHẤT CỦA TRỂ MẪU GIÁO [6]..............7
1.4.1. Sự phát triển cơ thể trẻ.................................................................................7
1.4.2. Sự phát triển vận động của trẻ mẫu giáo......................................................10
1.5. MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ CỦA GDTC CHO TRẺ MẦM NON....................11
1.5.1. Mục tiêu của GDMN................................................................................11
1.5.2. Nhiệm vụ của GDTC cho trẻ mầm non [6].................................................12
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ............................................................................46
PHỤ LỤC 1........................................................................................................1
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bước sang thế kỷ mới - thế kỷ XXI, với xu hướng toàn cầu hóa và sự phát
triển của nền kinh tế tri thức, thì chúng ta càng xiết bao khâm phục trước tầm
nhìn xa trông rộng của lãnh tụ Hồ Chí Minh, càng thấm thía lời dạy của Người:
“một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Hồ Chí Minh hiểu sâu sắc hiểm họa của
sự dốt nát, theo Người dốt nát cũng là kẻ địch. Nên Người chỉ rõ: “Vì lợi ích
mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”.
Thấm nhuần tư tưởng của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, trong suốt quá trình
lãnh đạo cách mạng. Đảng ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách nhằm phát
triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo. Tại đại hội Đảng khoá IX đã xác định:
“Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, phát triển giáo dục đào tạo là
một trong những động lực quan trọng thúc đẩy công nghiệp hóa hiện đại hóa,
là điều kiện phát huy nguồn lực con người:” [5]. Đặc biệt là GDMN có một vị
trí quan trọng, là khâu đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, là bậc học
đặt nền móng cho sự phát triển nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa
Việt Nam.
Chăm sóc giáo dục trẻ em ngay từ những tháng đầu tiên của cuộc sống
là một việc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự
nghiệp chăm lo đào tạo và bồi dưỡng thế hệ trẻ trở thành những chủ nhân
tương lai của đất nước. Việt Nam đang có một bước chuyển mình mạnh mẽ
trên con đường xây dụng cuộc sống ấm no, văn minh, hạnh phúc. Trẻ em hôm
nay là thế giới ngày mai, trẻ em sinh ra có quyền được bảo vệ, được tồn tại,
được chấp nhận trong gia đình và cộng đồng. Vì thế giáo dục con người ở lứa
tuổi mầm non vừa là quyền lợi, vừa là nghĩa vụ của mỗi người đối với xã hội,
nước ta cần được tiến hành một cách mạnh mẽ, toàn diện, cần được sự quan tâm
ủng hộ của toàn xã hội tạo điều kiện cho trẻ phát triển tốt nhất.
Xuất phát từ những thực trạng trên, là một giáo viên mầm non trong
tương lai, tôi rất quan tâm tới vấn đề GDTC cho trẻ nên tôi lựa chọn đề tài:
3
“Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giáo dục thể chất cho trẻ mẫu giáo
trường mầm non Hùng Vương - Phúc Yên”.
* Mục đích nghiên cứu đề tài
Mục đích nhằm tìm hiểu thực trạng công tác GDTC cho trẻ mẫu giáo
trường mầm non Hùng Vương - Phúc Yên. Trên cơ sở đó đề xuất ra một số
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác GDTC cho trẻ mẫu giáo ở trường
mầm non Hùng Vương - Phúc Yên.
4
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC MẦM
NON
Nền giáo dục có phát triển thì quốc gia đó mới hùng mạnh. Chính vì thế
mà, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, đảm bảo xây dựng một thế
hệ kế tiếp có đủ phẩm chất và năng lực phục vụ cho đất nước. Đại hội Đảng
khoá IX đã xác định “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, phát triển
giáo dục - đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con
người” [5]. Vì vậy, hiện nay giáo dục đã trở thành mối quan tâm của toàn xã
hội. Đặc biệt, GDMN có một vị trí rất quan trọng, là khâu đầu tiên trong hệ
phát triển trong những giai đoạn tiếp theo của con người.
Từ đó chứng tỏ rằng phát triển GDMN trong thời kỳ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa là việc làm cấp bách và cần thiết không chỉ ở Việt Nam mà còn
trên toàn thế giới.
1.2. VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC MẦM NON
GDMN là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân và là cấp
học đặt nền móng cho sự phát triển về thể chất, nhận thức, tình cảm xã hội và
thẩm mỹ cho trẻ em. Những kỹ năng mà trẻ được tiếp thu qua chương trình
chăm sóc GDMN sẽ là nền tảng cho việc học tập và thành công sau này của trẻ.
Do vậy, phát triển GDMN, tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ là yếu
tố quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước.
Và hiện nay GDMN đã trở thành mối quan tâm hàng đầu đối với mọi
quốc gia. Có đến 160 nước và các tổ chức quốc tế đã cam kết coi GDMN là
một mục tiêu quan trọng của giáo dục cho mọi người. Thụy Điển coi giai đoạn
6
mầm non là “Thời kỳ vàng của cuộc đời'' và thực hiện chính sách: Trường
mầm non là trường tự nguyện do chính quyền địa phương quản lý, trẻ 5 tuổi có
thể theo học không mất tiền, 3 tiếng/ngày. Ở New Zealand, Chính phủ hỗ trợ
cho các loại trường GDMN dựa trên kết quả hoạt động mà các cơ sở đó đã đạt
được. Điều kiện được nhận hỗ trợ là cơ sở GDMN phải đáp ứng được các
Chuẩn do Bộ Giáo dục đưa ra. Chính phủ hỗ trợ 50% chi phí hoạt động của các
cơ sở GDMN không phân biệt cơ sở công lập hay tư thục. Phần còn lại do cha
mẹ đóng góp. Các gia đình khó khăn về thu nhập hoặc có con ở tuổi mầm non
bị khuyết tật có thể làm đơn xin miễn đóng góp. Luật hệ thống giáo dục quốc
gia Indonesia đã công nhận GDMN là giai đoạn tiền đề cho hệ thống giáo dục
cơ bản. Luật Giáo dục của Thái Lan nhấn mạnh gia đình và Chính phủ phải
cùng chia sẻ trách nhiệm đối với GDMN nhằm thực hiện Công ước quốc tế về
quyền trẻ em. Còn ở Việt Nam việc chăm lo phát triển GDMN đã trở thành
tổ chức cho trẻ sinh hoạt và vận động hợp lý nhằm làm cho cơ thể trẻ phát triển
đều đặn, sức khỏe trẻ được tăng cường, tạo cơ sở cho sự phát triển toàn diện.
1.4. ĐẶC ĐIỂM PHÁT TRIỂN THỂ CHẤT CỦA TRỂ MẪU GIÁO [6]
1.4.1. Sự phát triển cơ thể trẻ
Trẻ em ở lứa tuổi mẫu giáo (3 - 6 tuổi) là thời kì thuận lợi để trẻ tiếp
thu và củng cố các kỹ năng cần thiết cho sự phát triển toàn diện. Trẻ em lứa
tuổi này lớn nhanh, cảm thấy như gầy hơn mất vẻ tròn trĩnh, mập mạp đã có ở
lứa tuổi nhà trẻ. Đặc trưng của trẻ ở lứa tuổi này là cơ thể phát triển chưa ổn
định và khả năng vận động còn hạn chế.
* Sự phát triển của hệ thần kinh
Hệ thần kinh của trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo đã ở mức độ cao hơn so với trẻ
em lứa tuổi nhà trẻ. Sự trưởng thành của các tế bào thần kinh đại não kết thúc.
Ở trẻ quá trình ức chế tích cực dần dần phát triển, trẻ đã có khả năng phân
tích, đánh giá, hình thành kỹ năng, kỹ xảo vận động và phân biệt được các
hiện tượng xung quanh. Do đó mà giáo viên cần phải có kế hoạch giáo dục trẻ
8
một cách thận trọng, tránh để trẻ thực hiện một khối lượng vận động quá sức
hoặc kéo dài thời gian vận động vì như vậy sẽ làm trẻ mệt mỏi.
*Sự phát triển của hệ xương
Đối với hệ vận động bao gồm hệ xương, hệ cơ và khớp.
Hệ xương của trẻ chưa hoàn toàn cốt hóa, thành phần hóa học trong
xương của trẻ còn chứa nhiều nước và các chất hữu cơ nhiều hơn các chất vô
cơ so với người lớn, nên hệ xương của trẻ có nhiều xụn xương, xụn mềm, dễ
bị cong gẫy nếu vận động cơ thể một cách hợp lý có thể làm cho hình thái cấu
trúc xương của trẻ em có sự chuyển biến tốt như: Thành xương dày hơn,
đường kính to ra tăng được công năng chống đỡ áp lực, chống cong vẹo....
Hệ cơ của trẻ còn yếu, tổ chức cơ bắp còn ít, các sợi cơ nhỏ mảnh,
thành phần nước trong cơ tương đối nhiều nên sức mạnh của cơ bắp còn yếu,
không khí đưa vào ít, trẻ thở nông nên khả năng trao đổi không khí của phổi
kém. Việc thở nông đã làm cho không khí phổi chưa ổn định tạo nên sự ứ
đọng không khí ở phổi do đó mà giáo viên nên tiến hành thể dục ở ngoài trời
nơi không khí thoáng mát. Bộ máy hô hấp của trẻ còn nhỏ, không chịu được
những vận động quá sức kéo dài liên tục. Những vận động đó sẽ làm cho các
cơ đang vận động bị thiếu ôxy. Việc tăng dần lượng vận động trong quá trình
luyện tập sẽ tạo điều kiện cho cơ thể trẻ thích ứng với việc tăng lượng ôxy cần
thiết và ngăn ngừa được sự xuất hiện lượng ôxy quá lớn của cơ thể.
* Sự phát triển của hệ trao đổi chất
Cơ thể trẻ phát triển đòi hỏi bổ xung liên tục năng lượng tiêu hao và
cung cấp các chất tạo hình để kiến tạo các cơ quan và mô. Quá trình hấp thụ
các chất ở trẻ vượt cao hơn quá trình phân hủy và đốt cháy. Đối với trẻ tuổi
càng nhỏ thì quá trình lớn lên và sự hình thành các tế bào và mô của trẻ diễn
ra càng mạnh. Khác với người lớn, ở trẻ năng lượng tiêu hao cho sự lớn lên và
dự chữ chất nhiều hơn là cho hoạt động cơ bắp. Do vậy, khi trẻ hoạt động vận
động quá mức ngay cả khi dinh dưỡng đầy đủ thường dẫn đến tiêu hao năng
lượng trong các cơ bắp và đọng lại những sản phẩm độc hại ở các cơ quan
10
trong quá trình trao đổi chất. Điều này gây cảm giác mệt mỏi và ảnh hưởng
không tốt đến cơ năng hoạt động của hệ thần kinh làm giảm độ nhạy cảm của
hệ thần kinh trung ương và những dây thần kinh điều khiển sự hoạt động của
cơ bắp. Sự mệt mỏi của các nhóm cơ riêng lẻ xuất hiện nếu kéo dài hoạt động
liên tục của từng nhóm cơ. Do đó, cần thường xuyên thay đổi vận động của
các cơ, chọn hình thức vận động phù hợp với trẻ.
1.4.2. Sự phát triển vận động của trẻ mẫu giáo
* Phát triển vận động của trẻ 3 tuổi
Vai trò điều chỉnh các vận động của trẻ ở lứa tuổi này tốt hơn so với lứa
tuổi nhà trẻ, các phản xạ có điều kiện được hình thành nhanh chóng, các quá
xuyên theo dõi, kiểm tra, đánh giá quá trình vận động của trẻ. Ở lứa tuổi này sự
phát triển vận động diễn ra trên cơ sở những vận động đi, chạy và phát triển
cảm giác thăng bằng, vận động nhảy, vận động ném, trườn, trèo.
*Phát triển vận động của trẻ 6 tuổi
Tốc độ trưởng thành của trẻ tăng rất nhanh, tỉ lệ cơ thể đã cân đối, tạo
ra tư thế vững chắc, cảm giác thăng bằng đã hoàn thiện, sự phối hợp vận động
đã tốt hơn. Hệ thần kinh của trẻ phát triển tốt trẻ có khả năng chú ý cao trong
quá trình học các bài tập vận động. Các vận động cơ bản được thể hiện tương
đối chính xác mềm dẻo thể hiện sự khéo léo trong vận động, lực cơ bắp được
tăng lên. Lứa tuổi này sự phát triển vận động diễn ra trên cơ sở những vận
động đi, vận động nhảy, vận động chạy, bò, ném.
Như vậy, dựa vào đặc điểm phát triển thể chất và vận động của trẻ ở
từng độ tuổi mầm non ta sẽ lựa chọn những nội dung và phương pháp hướng
dẫn phù hợp với trẻ để có thể đạt hiệu quả cao nhất trong quá trình luyện tập.
1.5. MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ CỦA GDTC CHO TRẺ MẦM NON
1.5.1. Mục tiêu của GDMN
GDMN là bộ phận trong hệ thống giáo dục quốc dân. GDMN thực hiện
việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tháng tuổi.
Mục tiêu của GDMN là giúp trẻ em phát triển về thể chất, trí tuệ, thẩm
mĩ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách chuẩn bị cho trẻ vào lớp
12
một. GDMN tạo sự khởi đầu cho sự phát triển toàn diện của trẻ, đặt nền tảng
cho việc học tập ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời.
1.5.2. Nhiệm vụ của GDTC cho trẻ mầm non [6]
GDTC cho trẻ mầm non là một trong những bộ phận của giáo dục toàn
diện cho trẻ và tạo ra những điều kiện thuận lợi trong quá trình giáo dục trẻ.
Để thực hiện mục tiêu GDMN là chuẩn bị tiền đề quan trọng đảm bảo
những điều kiện cần thiết cho việc thực hiện các mục tiêu giáo dục thì GDTC
nên nhanh nhẹn, chính xác, linh hoạt, gọn gàng, dẻo dai. Trẻ biết thực hiện
các bài tập vận động một cách hợp lý trong các điều kiện khác nhau và biết
kết hợp các bài tập vận động đã học khác. Từ đó giúp trẻ có biểu tưởng về tư
thế đúng, nắm được kỹ thuật của bài tập, của trò chơi vận động cũng như
những tri thức đơn giản về vệ sinh cá nhân và vệ sinh môi trường. Những kiến
thức trẻ lĩnh hội được giúp trẻ có ý thức tự giác trong luyện tập và sử dụng
các phương tiện giáo dục thể chất ở trường, ở gia đình tốt hơn.
Thông qua các tiết học trẻ nắm được những kiến thức về tên gọi và
cách sử dụng những dụng cụ thể dục đơn giản như bóng, vòng, gậy..., biết các
bộ phận trên cơ thể và các hướng chuyển động.
1.5.2.3. Nhiệm vụ giáo dục
Đối với trẻ mầm non khả năng tự nhận thức của trẻ còn hạn chế do đó
cần hình thành ở trẻ những nhu cầu thói quen thực hiện bài tập thể chất hằng
ngày giáo dục lòng yêu thích rèn luyện thể dục, sự hứng thú đến với luyện
tập. Trong quá trình GDTC cần kết hợp với những giáo dục khác như: Giáo
dục trí tuệ, đạo đức, thẩm mĩ, lao động để giúp cho nhân cách của trẻ phát
triển một cách toàn diện.
* GDTC với giáo dục trí tuệ
Cơ thể con người là một khối thống nhất. Trí tuệ và thể lực đều do hệ
thống thần kinh trung ương điều khiển. Khoa học về sinh lý và tâm lý đã chỉ
rõ một cơ thể khoẻ mạnh là tiền đề vật chất giúp con người phát triển trí óc
của mình.
14
GDTC một cách khoa học sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi cho hệ
thần kinh giúp các quá trình tâm lý như cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy phát
triển tốt. Đặc biệt bước đầu hình thành một số thao tác tư duy ở trẻ như: Quan
sát, phân tích, tổng hợp, khái quát. Ngoài ra còn giúp trẻ có những hiểu biết
sâu rộng về các tư thế như: Tư thế của động vật, côn trùng, nhưng hiện tượng
1.6. CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHO TRẺ MẦM NON [6]
Chương trình GDMN là chương trình khung của bộ, nội dung chương
trình mang tính chất gợi ý. Người giáo viên mầm non phải dựa vào chương
trình đó để xây dụng kế hoạch và nội dung kiến thức giảng dạy. Do vậy, nội
dung GDTC cho trẻ em lứa tuổi mầm non là căn cứ để xây dựng chương trình
chăm sóc trẻ trong các nhà trường đồng thời là căn cứ để đào tạo, bồi dưỡng
nâng cao trình độ giáo viên mầm non.
1.6.1. Bài tập đội hình, đội ngũ và ý nghĩa của bài tập đội hình, đội ngũ
với sự phát triển của trẻ
* Khái niệm
Đội hình đội ngũ là loại bài tập thể chất sử dụng vận động đi với nhiều
hình thức khác nhau: Vòng tròn, hàng ngang, hàng dọc... Chuyển đội hình từ
2 - 3 hàng dọc hay hàng ngang quay theo các hướng khác nhau: Quay phải
quay trái, quay sau, giãn hàng, dồn hàng, chuyển động trong không gian khi
đi, chạy.
Bài tập đội hình đội ngũ cho trẻ mầm non thực hiện nhiều trong thể dục
sáng, tiết học thể dục, giáo dục âm nhạc và trong TCVĐ.
* Ý nghĩa
Khi tập các bài tập đội hình đội ngũ, giáo viên thường sử dụng hiệu
lệnh hoặc mệnh lệnh điều đó có thể phát triển ở trẻ khả năng nhanh nhẹn và
có phản ứng nhanh với các yêu cầu của giáo viên. Qua đó, trẻ hiểu được tác
dụng của điều lệnh trong bài tập.
16
Luyện tập đội hình đội, đội ngũ còn giúp cho việc phát triển ở trẻ sự
chú ý khả năng phối hợp hành động khi hoạt động tập thể, khả năng định
hướng trong không gian, rèn luyện tư thế đúng như: Đi thẳng người, bước dứt
khoát và bồi dưỡng tính tổ chức, tính kỷ luật, tính tự giác cho trẻ.
Ngoài ra, các bài tập đội hình, đội ngũ có liên quan đến động tác đi và
xoay tròn.
+ Nhóm bài tập củng cố phát triển cơ bụng, cơ chân tạo khả năng củng
cố cơ bụng, cơ chân và bảo vệ các cơ quan nội tạng khỏi những chấn động
bên ngoài khi cử động mạnh như: Nhảy xa, nhảy từ trên cao xuống... Những
động tác này còn củng cố cơ vòm bàn chân làm cho máu không ứ đọng ở tĩnh
mạch khi ngồi sổm, ngồi lưng chừng.
1.6.3. Bài tập vận động cơ bản và ý nghĩa của bài tập cơ bản đối với sự
phát triển của trẻ
* Khái niệm:
Vận động cơ bản là những vận động cần thiết đối với con người trong
cuộc sống, được sử dụng trong các hoạt động và hoàn cảnh khác nhau như khi di
chuyển đi, chạy... Khắc phục khó khăn nhảy qua rãnh nước, leo chèo, ném...
Bài tập vận động cơ bản là một loại bài tập thể chất bao gồm một hệ
thống các hoạt động, vận động được chọn lọc từ các vận động cơ bản tác
động lên các nhóm cơ bắp lớn của cơ thể nhằm giải quyết nhiệm vụ giáo
dưỡng và giáo dục trong quá trình GDTC cho trẻ.
* Ý nghĩa
Việc tập luyện các bài tập vận động cơ bản sẽ giúp hoàn thiện khả năng
làm việc của hệ thần kinh trung ương, hệ tuần hoàn, hệ hô hấp củng cố và
phát triển cơ bắp, rèn luyện hình thành các tư thế đúng. Qua đó tác động tốt
tới sức khỏe và phát triển thể lực tạo điều kiện phát triển các tố chất nhanh,
mạnh, khéo...
Ngoài ra các bài tập vận động cơ bản còn có tác dụng:
18
+ Giúp trẻ phát triển khả năng định hướng trong không gian: Sự định
hướng trong khi vận động, vị trí để các dụng cụ, mỗi quan hệ giữa các vật
trong không gian...
+ Giúp trẻ phát triển khả năng định hướng về thời gian: Sự lâu dài, kéo