MỞ ĐẦU
Giáo dục thể chất trong nhà trường là một bộ phận quan trọng không thể
thiếu được của nền giáo dục hiện nay. Dưới chế độ XHCN con người là vốn quý
nhất. Bảo vệ và tăng cường sức khỏe cho nhân dân lao động mà trước hết là đối
tượng học sinh trong các trường học là một mục tiêu cấp bách. Bởi vì thế hệ trẻ
là thế hệ tương lai của đất nước, quyết định sự phát triển của một quốc gia.
TDTT là sự nghiệp của nhà nước và toàn nhân dân, bao gồm TDTT quần
chúng, Thể thao thành tích cao, Thể thao dân tộc và TDTT trường học. TDTT
trường học bao gồm giáo dục thể chất bắt buộc và các hoạt động TDTT ngoại
khóa. GDTC trong trường học các cấp là một bộ phận hữu cơ của mục tiêu giáo
dục và đào tạo thế hệ trẻ phát triển toàn diện, đồng thời là bộ phận quan trọng
trong hệ thống giáo dục quốc dân. Cùng với thể thao thành tích cao,GDTC trong
trường học đang góp phần đảm bảo cho nền TDTT nước ta phát triển cân đối và
đồng bộ.
Mục đích của giáo dục thể chất nước ta là bồi dưỡng thế hệ trẻ trở thành
những con người toàn diện. Như nghị quyết Trung ương IV chỉ rõ “sự phát triển
cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về
đạo đức’’. Đó là mục tiêu của toàn Đảng, toàn dân ta nhằm thực hiện chiến lược
phát triển con người trong sự nghiệp đổi mới của đất nước. Trong giai đoạn hiện
nay rèn luyện và phát triển thể chất trong nhà trường là một điều hết sức cần
thiết, nó gắn liền với thực hiện mục tiêu của giáo dục và đào tạo theo tinh thần
nghị quyết của Đại hội lần thứ VII là: “ Nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân
lực, bồi dưỡng nhân tài, hình thành đội ngũ lao động có tri thức và tay nghề, có
năng lực thực hành tự chủ, năng động sáng tạo.’’ Tuy nhiên cũng nhận thức rõ
ràng là công tác giáo dục thể chất có sự phát triển tiến bộ, nhưng một số trường
vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu mục tiêu giáo dục hiện nay.
Trong những năm qua, mặc dù có sự quan tâm của Đảng, chính quyền các
cấp và sự nỗ lực quyết tâm của cán bộ giáo viên, công nhân viên ngành giáo dục
đào tạo thành phố và nhân dân địa phương. Song số lượng và chất lượng của
trường THPT Hoài Đức B- Hà Nội vẫn còn phát triển chậm, đặc biệt là lĩnh vực
giáo dục thể chất trong nhà trường vẫn chưa được coi trọng, chưa có sự đầu tư,
Mục tiêu 2: Nghiên cứu đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất
lượng giáo dục thể chất cho học sinh Trường THPT Hoài Đức B – Hà Nội.
* Đối tượng nghiên cứu
Là các biện pháp nâng cao hiệu quả công tác giáo dục thể chất cho học
sinh Trường THPT Hoài Đức B – Hà Nội.
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.Quan điểm của Đảng và nhà nước ta với công tác giáo dục thể
chất trong trường học.
Dưới chế độ XHCN, giáo dục thể chất là một trong 5 mặt giáo dục được
Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm nhằm bồi dưỡng thế hệ trẻ - những chủ
nhân tương lai của đất nước.
Ngay từ những năm đầu khi hòa bình lặp lại, mặc dù đất nước còn gặp
nhiều khó khăn phải đương đầu với “ Thù trong giặc ngoài” nhưng Bác Hồ vẫn
luôn quan tâm tới sự nghiệp phát triển TDTT trong nhân dân lao động. Ngày
27/03/1946, Bác Hồ đã ra lời kêu gọi toàn dân tập thể dục “ mỗi người dân khỏe
mạnh sẽ làm cho đất nước khỏe mạnh. Mỗi người dân yếu ớt sẽ làm cho cả nước
yếu ớt một phần…” Bác đã nêu tấm gương rèn luyện, giáo dục tinh thần yêu
nước trong mỗi người dân “… Tự Tôi ngày nào cũng tập…”.
Trong từng giai đoạn cách mạng, tùy theo yêu cầu nhiệm vụ và tình hình
cụ thể. Đảng và nhà nước ta luôn có những chỉ thị, nghị quyết kịp thời đối với
công tác TDTT nói chung và công tác GDTC nói riêng. Trong tình hình cách
mạng hiện nay chủ trương của Đảng và nhà nước ta về công tác GDTC trong
trường học được coi là một bộ phận quan trọng của phong trào TDTT quần
chúng nói chung. Nhưng do đối tượng là tuổi trẻ học sinh, sinh viên đông đảo
được học tập và rèn luyện theo chương trình bắt buộc có bài bản về nề nếp cho
nên GDTC được coi là bộ phận cơ bản của nền TDTT.
GDTC trong nhà trường có vai trò tác dụng rất lớn bảo bệ và tăng cường
sức khỏe nâng cao thể lực cho tuổi trẻ học sinh, sinh viên góp phần tích cực bồi
dưỡng, đào tạo lớp người toàn diện để xây dựng và bảo vệ đất nước. GDTC học
dục chuyên trách và lớp học thể dục đúng tiêu chuẩn, tạo điều kiện nâng cao
chất lượng GDTC xem đây là một tiêu trí xét công nhận trường chuẩn quốc
gia”.
Ngày 12/11/2002 Ban khoa giáo Trung ương đã có hướng dẫn thực hiện
chỉ thị 37 – CT/TW của Ban Bí thư trung ương về phát triển TDTT đến năm
2010. Ban khoa giáo trung ương yêu cầu:
- Quán triệt chỉ thi 17 – CT/TW nâng cao ý thức, trách nhiệm và nâng cao
sự tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ngành đoàn
thể với sự nghiệp phát triển TDTT.
- Xây dựng và thực hiện hiệu quả kế hoạch hành động triển khai chỉ thị 17
– CT/TW phù hợp với những điều kiện của từng ngành, địa phương, tạo ra sự
chuyển biến rõ rệt về công tác TDTT trường học, hoạt động TDTT quần chúng
cơ sở và tài năng trẻ về thể thao.
- Ngày 24/11/2002 tại buổi làm việc với ngành TDTT, Chủ tịch nước
Trần Đức Lương đã chỉ đạo: “ …Đảng và Nhà nước ta luôn luôn coi trọng công
tác TDTT, coi TDTT là một bộ phận quan trọng trong sự nghiệp phát triển văn
hóa xã hội của đất nước…Sự nghiệp TDTT của nhà nước đã có những bước tiến
rất đáng phấn khởi cả về phong trào tập luyện của quần chúng và thành tích thể
thao cao cả về thể thao dân tộc, thể thao hiện đại cũng như xây dựng cơ sở vật
chất cho ngành TDTT…”
1.2. Vai trò của công tác giáo dục thể chất trong nhà trường.
GDTC trong nhà trường là một bộ phận quan trọng không thể thiếu được
của nền giáo dục XHCN. Dưới chế độ XHCN con người là vốn quý nhất. Bảo
vệ và tăng cường sức khỏe cho nhân dân lao động mà trước hết là đối tượng học
sinh trong các trường học là một nhiệm vụ quan trọng cấp bách. Bởi vì thế hệ trẻ
là tương lai của đất nước, quyết định sự phát triển của một quốc gia.
GDTC kết hợp với các mặt giáo dục khác trở thành phương tiện gián tiếp
nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội, còn là những phương thức duy nhất tạo ra
những con người phát triển toàn diện. Trong văn bản hướng dẫn thực hiện
chương trình GDTC trong trường học các cấp theo quy định đào tạo mowissoos
cực, quan trọng của công tác GDTC trong nhà trường.
1.3. Các yếu tố chi phối hiệu quả công tác giáo dục thể chất
1.3.1. Cấu trúc, nội dung chương trình giảng dạy.
Cấu trúc, nội dung chương trình giảng dạy là khung của toàn bộ quá trình
GDTC. Cấu trúc xây dựng hợp lí cùng với sự sắp xếp nội dung, chương trình
giảng dạy sinh động là tiền đề quyết định đến sự thành công của công tác GDTC
trong trường học.
1.3.2. Đội ngũ giáo viên thể dục.
Giáo viên thể dục có vai trò rất lớn , quyết định đến chất lượng GDTC
trong các nhà trường . Thực tế cho thấy , không thầy đố mày làm nên vì thế cần
quan tâm bồi dưỡng nâng cao trình độ , năng lực cho đội ngũ giáo viên thể dục
là rất cần thiết. Bởi giáo viên là người trực tiếp giảng dạy, truyền thụ cho học
sinh những kiến thức, tri thức trong giờ học về lĩnh vực TDTT cũng như các kĩ
năng vận động của con người. Đội ngũ giáo viên thể dục là lực lượng cốt cáng
trong phong trào thể dục và rèn luyện thân thể của học sinh trong các nhà trường
1.3.3. Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, dụng cụ tập luyện và giảng
dạy môn thể dục.
Theo triết học Mác-LêNin, công cụ lao động sẽ quyết định đến năng suất
lao động, nên có thể khẳng định cơ sở vật chất, trang thiết bị, dụng cụ tập luyện
và giảng dạy môn thể dục là một trong những điều kiện cơ bản giúp cho các hoạt
động GDTC đạt chất lượng cao và hiệu quả. Chính vì vậy , để phục vụ cho các
hoạt động của quá trình giáo dục dạy học nói chung, GDTC nói riêng thì không
thể thiếu trang thiết bị, dụng cụ, cơ sở vật chất và dụng cụ tập luyện. Với những
điều kiện thuận lợi trong học tập, luyện tập sẽ tạo tình cảm tốt, gây hứng thú cho
học sinh, từ đó giúp cho học sinh tự giác, say mê tập luyện hơn.
1.3.4. Sự quan tâm đầu tư của lãnh đạo nhà trường, các ban ngành
đoàn thể có liên quan đối với công tác GDTC .
Sự quan tâm đầu tư của lãnh đạo nhà trường các ban ngành liên quan đối
với công tác GDTC có vị trí rất quan trọng nhằm động viên giáo viên, học sinh
yêu mến ngành nghề, môn học, có trách nhiệm hơn trong giảng dạy, học tập.
vậy, phát triển thể chất là sự thay đổi về hình thái, kích thước và chức năng của
cơ thể diễn ra trong suốt cuộc đời mỗi cá nhân. Sự phát triển thể chất vừa là quá
trình tự nhiên vì nó tuân thủ những quy luật tự nhiên, quy luật sinh học, vừa là
quá trình xã hội vì có tác dụng một cách tích cực và chủ động.
1.4.3. Khái niệm chất lượng giáo dục thể chất
GDTC là quá trình sư phạm, giáo dục đào tạo thế hệ trẻ hoàn thiện về thể
chất, nhân cách, nâng cao khả năng làm việc và kéo dài tuổi thọ của con người.
Trên thực tế, nhiệm vụ giáo dục đạo đức, ý chí, thẩm mĩ, trí tuệ giáo dưỡng thể
chất và giáo dục các tố chất thể lực bao giờ cũng được giải quyết đồng thời
trong một quá trình thống nhất, hoàn chỉnh. Đó là quá trình giáo dục toàn diện.
1.5. Định hướng công tác giáo dục thể chất trong thời gian tới.
Xuất phát từ thực tế, trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng công tác GDTC và
làm rõ nguyên nhân Bộ giáo dục – đào tạo đã xác định mục tiêu và giải pháp cho
công tác GDTC trong thời kì tới.
1.5.1. Mục tiêu chung
Góp phần phát triển hài hòa thể chất sức khỏe nâng cao thể lực, bồi dưỡng
năng lực và kĩ năng vận động, tăng cường hiệu quả bài tập, lao động và sẵn sàng
bảo vệ tổ quốc. Đồng thời góp phần xây dựng nền văn hóa mới, hạn chế các tệ
nạn xã hội và bồi dưỡng tài năng TDTT cho đất nước.
1.5.2.Mục tiêu năm 2020
Căn cứ Quyết định số 698/QĐ-TT ngày 01/06/2009 của Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt kế hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin
đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020, tiếp tục thực hiện Nghị quyết
Trung ương 2 khóaVIII, các địa phương cần nghiêm túc triển khai 7 nhiệm vụ
sau:
- Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, coi trọng giáo dục nhân cách,
đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên.
- Mở rộng quy mô giáo dục hợp lí.
- Đổi mới mạnh mẽ quản lí nhà nước đối với GD-ĐT.
- Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục đủ về số lượng,
2.1.1. phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu.
Phương pháp này chúng tôi sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu trên
cơ sở tham khảo những tài liệu khoa học lý luận chung. Lý luận và phương pháp
GDTC, các tài liệu hướng dẫn giảng dạy thể dục cho học sinh THPT, một số văn
kiện chỉ thị của Đảng và nhà nước ta về công tác GDTC trong trường học. Các
luận văn khoa học của sinh viên trường ĐH TDTT, các luận án thạc sỹ khoa
học, các sách báo, tạp chí… Nhằm mục đích làm rõ được công tác chỉ đạo của
các bộ, ngành như bộ giáo dục – đào tạo, UBTDTT đối với công tác phát triển
phong trào TDTT cũng như công tác GDTC trường học trong quá trình phát
triển của đất nước cùng nhiều vấn đề liên quan.
2.1.2. Phương pháp phỏng vấn tọa đàm.
Phương pháp này được sử dụng trong quá trình tìm hiểu, thu thập các số
liệu nghiên cứu. Tiến hành với hình thức phỏng vấn gián tiếp với phiếu hỏi
( phiếu phỏng vấn )
Các vấn đề chủ yếu phỏng vấn là:
- Thực trạng phong trào rèn luyện thân thể hiện nay ở trường THPT Hoài
Đức B – Hà Nội.
- Những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng rèn luyện than thể cho học
sinh trường THPT Hoài Đức B – Hà Nội.
- Đối tượng phỏng vấn là giáo viên giảng dạy TDTT và học sinh trong
trường, ngoài ra còn trao đổi trực tiếp với các giáo viên TDTT ở các trường lân
cận.
Hầu hết các vấn đề được hỏi đều cụ thể hóa bằng các phương án trả lời đã
gọi ý sẵn có, người trả lời suy nghĩ nhanh và ghi chính xác. Các phiếu phỏng
vấn thu được xử lý bằng phương pháp toán học để rút ra những kết luận cần
thiết có ý nghĩa khoa học.
2.1.3. Phương pháp quan sát sư phạm.
Sử dụng phương pháp này để quan sát các giờ học TDTT của học sinh
trường THPT Hoài Đức B – Hà Nội, từ đó tìm ra điểm còn tồn tại trong công tác
giảng dạy môn thể dục cho học sinh của nhà trường. Đặc biệt là những điểm còn
nn
xx
t
22
δδ
+
−
=
2.2. Tổ chức nghiên cứu.
2.2.1. Thời gian nghiên cứu.
Qúa trình nghiên cứu được chúng tôi tiến hành từ tháng 3/2010 đến tháng
5/2011 và được chia làm 3 giai đoạn như sau:
+ Giai đoạn 1 : Từ tháng 3/2010 đến tháng 5/2011: Lựa chọn đề tài, xây
dựng đề cương nghiên cứu và bảo về.
+ Giai đoạn 2: Từ tháng 6/2010 đến tháng 12/2010: Xây dụng phiếu
phỏng vấn, tiến hành phỏng vấn, thu thập và xử lý số liệu, giải quyết mục tiêu 1
và 2.
+ Giai đoạn 3: Từ thang 1/2011 đến tháng 6/2011: Hoàn thiện đề tài và
bảo vệ đề tài trước hội đồng khoa học nhà trường.
2.2.2. Địa điểm nghiên cứu.
- Trường THPT Hoài Đức B – Hà Nội.
- Trường Đại học TDTT Bắc Ninh.
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
3.1. Đánh giá thực trạng công tác giáo dục thể chất của Trường
Trung học phổ thông Hoài Đức B – Hà Nội.
Thực tế cho thấy, GDTC cũng như đào tạo GDTC là một trong những nội
dung quan trọng của công tác giáo dục – đào tạo. GDTC ngoài việc nâng cao
sức khỏe còn góp phần vào giáo dục đạo đức, trí tuệ và thẩm mĩ hay giáo dục
Số GV
thể
Trình độ chuyên môn
ĐH CĐ TC Không
chuyên
45 2166 6 3 3 0 0 1GV/361HS
Như trên đã trình bày hiện nay ở Trường THPT Hoài Đức B – Hà Nội lực
lượng cán bộ vẫn còn thiếu hụt mặc dù những năm gần đây đã có sự quan tâm
nhiều hơn từ các cấp lãnh đạo xong vẫn còn tồn tại chưa thể giải quyết được.
Kết quả điều tra của bảng 3.1 cho thấy. Tổng số giáo viên thể dục trong
nhà trường có là 6 giáo viên có trình độ Đại học có 3 giáo viên, cao đẳng 3,
không có giáo viên nào là Trung cấp và không chuyên.
Cả trường có tổng số là 2166 học sinh, bình quân 1 GV/ HS là 361 HS, so
với tỉ lệ từ 1/250 đến 1/300 theo quy định của bộ GD-ĐT thì tỉ lệ 1GV/ 361HS ở
Trường THPT Hoài Đức B – Hà Nội là quá lớn vượt quá quy định chung rất
nhiều GV có thâm niên công tác và trình độ chuyên môn không đều có giáo viên
có thâm niên công tác từ 10 năm trở nên có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy
song trình độ chuyên môn chỉ ở mức cao đẳng còn lại có 3 GV có trình độ ĐH
nhưng thâm niên công tác chưa nhiều ( có GV giảng dạy chưa được 3 năm). Đây
cũng là khó khăn cho GV trong việc giảng dạy song nếu biết tận dụng và trao
đổi kinh nghiệm cũng như học hỏi lẫn nhau thì sẽ có nhiều thuận lợi trong việc
tìm ra những phương pháp giảng dạy. Như vậy, Trường THPT Hoài Đức B – Hà
Nội đội ngũ giáo viên TD chưa đảm bảo yêu cầu, số lượng giáo viên trong
trường so với quy định của Bộ là còn thiếu. Mặt khác hàng năm đội ngũ này
không được tập huấn bồi dưỡng chuyên môn về công tác GDTC. Đây cũng
chính là nguyên nhân gây ảnh hưởng đến hiệu quả GDTC ở trường.
Như vậy để công tác GDTC ngày càng đạt được chất lượng cao đòi hỏi về
phía lãnh đạo nhà trường cần có biện pháp củng cố hệ thống đội ngũ GV thể dục
cả về số lượng lẫn chất lượng GV giảng dạy không ngừng vươn lên về mặt
chuyên môn đồng thời có ý thức xây dựng và tích lũy kinh nghiệm trong thực tế
11 Xà đơn, xà kép 0
Trường THPT Hoài Đức B – Hà Nội là trường điểm của huyện, có bề dày
truyền thống về chất lượng học tập so với các Trường THPT của Thành phố.
Được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo huyện đã tạo điều kiện cho trường sử
dụng nhờ 1 sân tập phía trước cổng làm sân tập luyện cho các em học sinh. Đây
là mặt thuận lợi cho công tác dạy và học của GV và các em HS trong trường.
Những giờ học thể dục được tách riêng biệt khỏi khu vực học các môn văn hóa,
điều này không ảnh hưởng tới môn học khác và cho các em một giờ học thể dục
tốt hơn. Song những quan tâm đó vẫn còn có giới hạn, do trường có số học sinh
đông nên một số giờ học vẫn có 2 lớp tập cùng. Ngoài những giờ học thì buổi
chiều sân tập là sân chung của thanh niên Huyện chơi thể thao. Trường có 1 sân
bóng chuyền, 1 bóng bàn chủ yếu là phục vụ cho GV trong trường. Có 2 sân cầu
lông chủ yếu sử dụng cho nội dung đá cầu, số lượng chơi môn cầu lông là khá ít.
Trong nhà trường phổ thông những giờ học thể dục nội khóa được giảng dạy
theo một quy định thống nhất về nội dung hình thức trong đó môn Điền kinh
chiếm đa số các nội dung học tập như chạy ngắn, chạy cự ly trung bình, nhảy
cao, nhảy xa, đảy tạ. Những nội dung của môn điền kinh được thực hiện trên sân
tập của Huyện. Điều này giải quyết cho nhà trường về khâu có sân bãi tập luyện,
song bên cạnh đó vẫn chưa được an tâm khi sân tập vẫn mấp mô và còn sỏi đá.
Hai hố cát dành cho nhảy cao và nhảy xa có lượng cát ít và mỏng chỉ đảm bảo
cho học sinh nhảy xa còn nhảy cao thì thiếu an toàn, dễ xảy ra trấn thương. Xà
đơn và xà kép không có cũng là một điều thiếu xót khi trang bị dụng cụ tập
luyện cho các em.
Bảng 3.3: Thực trạng điều kiện phục vụ cho hoạt động dạy và học của
học sinh trường THPT Hoài Đức B – Hà Nội.
TT Trường Trường THPT Hoài Đức B
Số lượng Chất lượng
1 Các tài liệu giảng dạy
- Giao án
- Giao trình 3 Quyển Cũ
Bảng 3.4. Cấu trúc một giờ học của Trường THPT Hoài Đức B – Hà Nội.
TT Phần Tổng thời gian Thời gian ( phut) Tỷ lệ (%)
1 Chuẩn bị 45 phút 12 26,7
2 Cơ bản 24 53,3
3 Kết thúc 9 20,0
Như vậy, cấu trúc giờ học TDTT của học sinh Trường THPT Hoài Đức B
– Hà Nội đã đảm bảo được 3 phần: chuẩn bị, cơ bản và phần kết thúc, song thời
gian phân bố cho 3 phần chưa phù hợp.
Ở phần chuẩn bị của giáo viên, sử dụng thời gian kéo dài là 12 phút chiếm
tỉ lệ 26,7% so với tổng thời gian tập, do đó tỉ lệ này chưa hợp lí. Thông thường,
thời gian dành cho phần chuẩn bị khoảng 5 - 10 phút.
Về thời gian kết thúc giờ học cũng sử dụng tới 9 phút chiếm 20% thời
gian của buổi tập là quá nhiều. Thông thường, thời gian dành cho phần học này
khoảng 3 - 5% phút là phù hợp.
Đối với phần cơ bản của giờ học, đây là phần giải quyết các vấn đề quan
trọng của nội dung huấn luyện song khoảng thời gian chỉ có 25 phút chiếm
53,5% tổng thời gian buổi tập, đây là vấn đề cần được nghiên cứu và giải quyết.
Tóm lại, việc cấu trúc thời gian cho một buổi học TDTT ở đây vẫn còn
nhiều bất cập. Khoảng thời gian dành cho phần cơ bản để các em tập luyện quá
ít nên chất lượng và hiệu quả của giờ học còn ở mức độ nhất định.
Mặt khác, do số lượng học sinh đông ( thường 50 học sinh/lớp ), thời gian
ngắn nên số lần học sinh được tập luyện ít, khối lượng vận động thấp dẫn đến
hiệu quả buổi học chưa cao.
* Về phương pháp tổ chức một giờ học thể dục thể thao:
Khi nghiên cứu và quan sát trực tiếp buổi lên lớp của một số giáo viên TD
của Trường, chúng tôi nhận thấy:
- Ở phần chuẩn bị:
Giáo viên tập trung lớp, phổ biến mục đích, yêu cầu, nội dung, phương
pháp, hình thức, thời gian của buổi tập và thông thường giáo viên sử dụng
phương pháp tập thể. Với phương pháp này giúp người giáo viên có thể bao quát
tôi đã tiến hành phỏng vấn học sinh khối 11 Trường THPT Hoài Đức B – Hà
Nội. Số phiếu phát ra là 718 phiếu, thu về 718 phiếu. Các câu hỏi đưa ra cho các
em trả lời nghiêm túc, trung thực và kết quả thu được như sau:
Bảng 3.5. Nhu cầu và sự ham thích môn học TDTT của học sinh.
TT Nội dung Thích Không thích
Số lượng Tỷ lệ (% ) Số lượng Tỷ lệ (%)
1 Điền kinh 305 42,5 413 57,5
2 Thể dục 200 27,8 518 72,1
3 Bóng đá 420 58,5 298 41,5
4 Đá cầu 405 56,4 313 43,6
5 Cầu lông 345 48 373 51,9
6 Cờ vua 282 39,2 436 60,7
7 Bóng bàn 285 39,6 433 60,3
Qua kết quả thống kê ở bảng 3.5 cho thấy, học sinh Trường THPT Hoài
Đức B – Hà Nội không phải không ham thích TDTT. Ở lứa tuổi này, sở thích
của các em là rất cần, muốn được vận động để giảm bớt căng thẳng trong quá
trình học tập cũng như chống hiện tượng street. Tuy nhiên, sự ham thích của học
sinh đối với từng môn thể thao ở từng mức độ khác nhau.
Điền kinh là môn thể thao được huấn luyện chủ yếu trong chương trình
GDTC ở các trường phổ thông, song thông qua kết quả phỏng vấn thì phần lớn
các em không ham thích môn thể thao này. Cụ thể: học sinh thích tập luyện các
môn điền kinh chiếm tỉ lệ 42,5%, còn không thích chiếm 57,5%. Tìm hiểu
nguyên nhân chúng tôi thấy rằng, sở dĩ học sinh không ham thích môn điền kinh
bởi vì nó đã quá quen thuộc đối với các em. Năm nào các em cũng tập chạy, tập
nhảy, tập đẩy tạ với những hình thức, phương pháp không có gì mới lạ. Những
môn học TDTT không mang tính đối kháng trở nên nhàm chán, việc lặp đi, lặp
lại làm cho học sinh mất đi những cảm xúc hứng thú.
Thể dục cũng là nội dung bắt buộc, tỉ lệ yêu thích chỉ đạt 27,8%. Thực tế,
môn TD được học từ trung học cơ sở đến đại học, nó bao hàm rất nhiều nội
dung và cần được tập nhiều với dụng cụ chuyên dùng.