Một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác giáo dục phòng chống ma túy học đường ở trường trung học phổ thông Thường Xuân 2 - Pdf 27

I. Lý do chọn đề tài
Trong công tác giáo dục những nhân tố: Gia đình – nhà trường – xã hội đã
được nhìn nhận và khẳng định từ lâu. Người ta cũng đã nói nhiều đến việc
phòng chống ma tuý trong xã hội, nhưng vấn đê ma tuý học đường, thực trạng
ra sao vẫn chưa nhìn nhận một cách thấu đáo. Không phải không có những bản
báo cáo hoặc nhiều ý kiến phát biểu ở nhiều diễn đàn khác nhau về vấn đề này.
Thế nhưng dường như chưa có được cách nhìn nhận thấu đáo về ma tuý xâm
nhập học đường và các giải pháp toàn diện về phòng chống ma tuý học đường.
Vẫn biết khẩu hiệu: Nói không với ma tuý đã trở thành quen thuộc. Nhưng
không chỉ nói “không” mà phải àm gì để ngăn chặn một hiểm hoạ sẽ tác động
tới tương lai đất nước, sẽ để lại những di hoạ cho nhiều thế hệ.
Trong những năm qua, Việt Nam là một trong những nước có tốc độ
phát triển kinh tế nhanh trên thế giới. Cơ chế kinh tế thị trường, hội nhập với
thế giới đã có những tác động tích cực tới đời sống xã hội, trong đó có giáo
dục và đào tạo. Bên cạnh đó, mặt trái của cơ chế thị trường đã bộc bộ và ảnh
hưởng tiêu cực đến hoạt động xã hội, một trong những ảnh hưởng tiêu cực của
hội nhập và giao lưu thế giới là sự du nhập nhanh chóng các hiện tượng lạm
dụng và sử dụng chất ma túy. Trường học cũng không tránh khỏi những ảnh
hưởng tiêu cực của hội nhập nói chung và của ma túy nói riêng. Tác động của
ma túy tới học đường là mối nguy hiểm tiềm ẩn và gây nên những hậu quả
không chỉ đối với bản thân học sinh bị nghiện mà còn cả với gia đình các em và
toàn xã hội.
Hiện nay, tình trạng nghiện ma túy và các tội phạm liên quan đến ma túy
thật sự là mối đe dọa an ninh, trật tự của toàn xã hội. Tệ nạn ma túy đã và đang
trở thành hiểm họa của xã hội, là nỗi lo lắng của mỗi gia đình, là nguy cơ đe
dọa sự bền vững của đất nước và của dân tộc ta. Theo đánh giá tại Hội nghị
tổng kết 10 năm thực hiện chỉ thị 06-CT/TW về phòng, chống và kiểm soát
ma túy trong toàn quốc thì tình trạng nghiện ma túy trong HS-SV bị đẩy lùi
nhưng chưa cơ bản, chưa vững chắc. Nguy cơ ma túy tái xâm nhập vào nhà
trường vẫn còn rất lớn, nếu chúng ta buông lỏng hoặc lơ là thì tìnhhình sẽ tái
1

2
thành nhiệm vụ chung của tất cả các nước trên thế gới.
Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều văn bản
để chỉ đạo công tác PCMT, cụ thể như:
Chỉ thị số 33/CT-TW ngày 01/3/1994 của Ban chấp hành Trung ương
Đảng chỉ rõ: “ Phòng chống, khắc phục có hiệu quả các tệ nạn xã hội, trước hết
là nạn mại dâm, nghiện ma túy, là một nhiệm vụ cấp bách hiện nay của Đảng
và Nhà nước ta phải kiên quyết lãnh đạo thực hiện để có bước tiến bộ rõ rệt
ngay từ năm 1994”.
Chỉ thị 06-CT/TW ngày 30/11/1996 của Ban chấp hành Trung ương
Đảng về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng chống và kiểm soát ma
túy đã yêu cầu: “Các cấp ủy Đảng phải tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo đối với
công tác phòng chống và kiểm soát ma túy, phải coi đây là nhiệm vụ thường
xuyên nhằm từng bước ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng sử dụng ma túy trong
nhân dân ”
2.2. Thực trạng công tác giáo dục phòng chống Ma tuý ở Huyện Thường
Xuân.
2.2.1 Thực trạng chung.
Thường Xuân là một huyện thuộc vùng núi cao của tỉnh Thanh Hóa với
diện tích tự nhiên là 111.380,80 ha; phía Bắc giáp với huyện Lang Chánh và
huyện Ngọc Lặc, phía Đông giáp với huyện Thọ Xuân, huyện Triệu Sơn, huyện
Như Thanh; phía Nam giáp huyện Như Xuân; phía Tây giáp với tỉnh Nghệ An
và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Toàn huyện có 17 xã và thị trấn, trong
đó có 10 xã vùng cao trọng điểm; dân số 87.101 người, trong đó người dân tộc
Thái chiếm 53,9%, dân tộc Kinh chiếm 42,3%, dân tộc Mường và các dân tộc
khác chiếm 3,8%.
Huyện Thường Xuân có điều kiện địa lý rất khó khăn; địa hình bị chia cắt
bởi nhiều sông suối, diện tích đồi núi chiếm 3/4 diện tích tự nhiên. Trước đây, là
những khu rừng già và rừng nguyên sinh nhưng chủ yếu là gỗ tạp có ít gỗ quý
hiếm, đã bị khai thác cạn kiệt, nay chỉ còn là những khu rừng tái sinh và những

- Gọi hỏi răn đe, giáo dục 52 đối tượng liên quan đến ma túy, quản lý 13
hồ sơ đối tượng ST, lập 04 hồ sơ đưa 03 đối tượng vào trung tâm 06.
4
Lực lượng Công an đã lập hồ sơ đưa nhiều đối tượng nghiện đi cai
theo NĐ 135/CP có 04 hồ sơ, quản lý theo NĐ 163/CP có 20 hồ sơ, 56/CP
nhưng tỷ lệ tái nghiện còn cao, số người nghiện mới tăng nên tạo ra “cầu”
lớn, kích thích tội phạm ma túy hoạt động, một số đối tượng nghiện phạm tội
hình sự, khi chấp hành án phạt tù lại tiếp tục câu móc với đối tượng ngoài xã
hội giấu ma túy trong đồ thăm nuôi để bán cho phạm nhân đang cải tạo trong
trại giam.
2.2.2. Thực trạng công tác giáo dục phòng chống ma tuý trường THPT
Thường Xuân 2 :
Trường THPT Thường Xuân 2 có quyết định thành lập trường từ năm
2003, cho đến nay đã hơn 10 năm xây dựng và phát triển, mặc dù cho đến nay
chưa phát hiện học sinh có liên quan đến ma túy, nhưng các tệ nạn xã hội đã và
đang xảy ra trong trường học cũng khá phức tạp như hiện tượng học sinh của
nhà trường bỏ giờ chốn tiết, nghỉ học không có lý do, tham gia đánh bài,
uống rượu, hút thuốc lá đã xảy ra ở trong và ngoài nhà trường. Đây là
nguyên nhân ban đầu có thể dẫn đến việc học sinh sử dụng ma túy. Bên cạnh
đó, các tụ điểm, hàng quán, quán Internet, các điểm tổ chức giữ xe học sinh ở
khu vực xung quanh trường học, là nơi học sinh tụ tập khi tan trường, hoặc bỏ
tiết. học sinh về nhà thiếu sự quản lý chặt chẽ của gia đình về giờ giấc. Một bộ
phận cha mẹ học sinh giao khoán con em mình cho nhà trường, thiếu sự quan
tâm sâu sát; điều kiện cơ sở vật chất nhiều trường chưa đảm bảo các hoạt động
vui chơi giải trí lành mạnh để thu hút các em. Công tác xã hội hóa giáo dục về
lĩnh vực PCMT chưa được thúc đẩy mạnh mẽ, đặc biệt ở địa bàn miền núi, địa
bàn biên giới là khó khăn hơn bao giờ hết.
Để tìm hiểu thực trạng hoạt động PCMT ở trương THPT Thường Xuân
2 tôi tiến hành khảo sát các nội dung sau:
* Nhận thức của học sinh về Ma tuý.

xã hội khác: buôn lậu, cướp giật, mại dâm (86.0%), làm cho xã hội phải tổn
thất lớn tiền của để phục vụ cho công tác cai nghiện (72.0%), là nguồn
lây nhiễm HIV/AIDS (83.0%).
6
Nhìn chung, nhận thức của học sinh THPT về tác hại của việc lạm dụng
ma túy chỉ dừng lại ở mức trung bình - khá. Điều mà tôi quan tâm, đó chính là
số HS còn lại chưa nhận thức đầy đủ về tác hại của việc lạm dụng ma túy, mà
đặc điểm của ma túy là lây lan rất nhanh từ người này sang người khác nếu
chúng ta chủ quan hoặc lơ là, hơn nữa học sinh THPT vốn có đặc điểm hay
muốn khẳng định mình trước bạn bè, nếu các em không nhận thức rõ ràng về
tác hại nghiêm trọng của việc lạm dụng ma túy thì rất dễ dẫn đến những hậu
quả đáng tiếc.
Đánh giá mức độ hiểu biết của học sinh về dấu hiệu nhận biết bạn
mình hay mọi người sử dụng ma túy, chúng tôi đưa ra bao gồm 09 dấu hiệu
và 01 lựa chọn những dấu hiệu khác. Những dấu hiệu này các em có thể biết
thông qua các bài học được lồng ghép vào một số môn học có liên quan, đồng
thời các em có thể nhận thấy trong quá trình cùng nhau học tập, các em có
thể nhận biết để có biện pháp giúp bạn và biết cách tự phòng tránh. Kết quả
thống kê cho thấy, nhận thức đúng của học sinh THPT đối với những dấu hiệu
giúp phát hiện người nghiện ma túy chưa đầy đủ.
-
Lười học, học kém, học thất thường, trốn học rồi bỏ học: 65%
- Lấy cắp tiền trong gia đình và ngoài xã hội: 77%
- Đi chơi khuya, ngủ ngày nhiều, hay ngáp vặt, hay ngủ gật trong giờ học
86%
- Thay đổi hành vi, thái độ sau khi ra chơi, hoặc sau khi vào nhà vệ sinh
73%.
- Thay đổi nhóm bạn, thích tụ tập với nhóm cá biệt sau giờ học: 61,3%
- Bướng bĩnh, thường xa lánh người thân: 58%
- Có dấu kim chích, dấu châm thuốc lá ở tay chân, thân mình: 85,6%

vấn 73.8%
- Không thử, không sử dụng, không sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận
chuyển ma túy 85.1%
- Nhiều cách khác 17.5%
Một trong những nội dung rất quan trọng của công tác PCMT là làm thế
nào giúp học sinh biết “nói không” với ma túy trong mọi hoàn cảnh, mọi tình
8
huống diễn ra trong sinh hoạt cũng như trong học tập. Tôi đưa ra 08 biện pháp
phòng tránh ma túy trong học sinh, kết quả nghiên cứu thu được như sau :
Điển hình nhất là biện pháp thứ 7 không “Không thử, không sử
dụng, không sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển ma túy” được các em
nhận thức đúng là 85.1%; biện pháp tham gia sinh hoạt tập thể, vui chơi lành
mạnh là 80,1% đây là một tỷ lệ cho thấy tạm yên tâm đối với hiệu quả của
công tác PCMT trong nhà trường, điều đó thể hiện rằng: một trong những biện
pháp giáo dục PCMT phổ biến nhất trong các nhà trường hiện nay là “03
không” và biện pháp “tham gia sinh hoạt tập thể, vui chơi lành mạnh” đã thể
hiện thành công bước đầu. Tuy nhiên, 02 biện pháp này phải được 100% học
sinh nhận thức đúng, vì qua trao đổi với nhiều GV được biết đây là 2 nội
dung trọng tâm của bản cam kết mà học sinh đã viết với nhà trường về lĩnh
vực PCMT ngay từ đầu năm học.
Trong 06 biện pháp còn lại thì biện pháp nhiều cách khác được học sinh
lựa chọn với tỷ lệ rất thấp là 17.5%. Biện pháp tìm hiểu rõ bản chất và tác hại
của ma túy là 77.3%, đây là biện pháp hiểu biết đầu tiên và quan trọng nhưng
các em nhận thức đúng với tỷ lệ không cao, một tỷ lệ làm cho các nhà quản lý
giáo dục phải lo lắng. Ngoài ra, cũng có những biện pháp khá hữu hiệu, khá
quan trọng để góp phần giúp nhà trường PCMT hiệu quả nhưng các em nhận
thức cũng chưa đầy đủ như từ chối mọi rủ rê, lôi kéo, khích bác của bạn bè
(chỉ có 78.4%); tập trung vào hoạt động học tập (chỉ có 75.2%); thường
xuyên rèn luyện thân thể (chỉ có 74.2%); bày tỏ cùng cha mẹ, anh chị, thầy cô
những tâm tư của mình để được tư vấn (chỉ có 73.8%).

đều là lực lượng nòng cốt trong mọi hoạt động, đặc biệt là việc theo dõi và tổ
chức thực hiện các hoạt động giáo dục về nhân cách học sinh.
Từ thực tế trên ta thấy rằng, nhận thức về tầm quan trọng của công tác
quản lý hoạt động giáo dục PCMT trong trường THPT hiện nay chưa được
hiểu một cách thống nhất, còn một bộ phận nhỏ GV cho rằng công tác này là
ít quan trọng, là nặng nề. Vì vậy, cần phải làm cho đội ngũ GV nhà trường
có nhận thức đúng đắn và thống nhất về tầm quan trọng của công tác quản lý
hoạt động giáo dục PCMT, vì có nhận thức đúng và thống nhất thì mới có thể
10
quản lý và tổ chức hoạt động một cách có hiệu quả.
2.3. Các biện pháp nâng cao hiệu quả công tác giáo dục phòng chống ma
tuý.
Trên cơ sở lý luận và thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục
PCMT của ở trường THPT Thường Xuân 2, sau đây chúng tôi xin đề
xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động
giáo dục PCMT ở trường THPT như sau:
2.3.1. Tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục PCMT trong nhà trường.
- Tuyên truyền giáo dục qua các phương tiện thông tin, qua các buổi học
chính khoá và ngoại khoá. Tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề, tổ chức điều
tra cơ bản nhóm nguy cơ cao, giáo dục phòng chống ma tuý – HIV/AIDS trong
chương trình nội, ngoại khoá trong nhà trường.
* Đối với học sinh
Nhà trường với tư cách là cơ quan chuyên trách giáo dục thế hệ
trẻ. Nhà trường là môi trường an toàn, thuận lợi nhất cho việc giáo dục học
sinh. Trong nhà trường, đội ngũ GV là những người được đào tạo nghiệp vụ
chuyên môn, có am hiểu đầy đủ những đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh và
những kỹ năng sư phạm đảm bảo cho việc giáo dục đạt hiệu quả; hoạt động
giáo dục trong nhà trường diễn ra một cách có mục đích, có tổ chức, có kế
hoạch cụ thể. Trong các vấn đề giáo dục, nhà trường bao giờ cũng đi trước,
đón đầu và giữ vai trò chủ đạo. Cho nên trong việc giáo dục PCMT nhà trường

hoạch. Kế hoạch hoạt động giáo dục PCMT phải được đưa vào kế hoạch
chung của nhà trường, được toàn trường thông qua vào đầu năm học và tổ chức
thực hiện trong
suốt năm.
Căn cứ để xác định mục tiêu của kế hoạch: Mục tiêu phát triển toàn diện
nhân cách học sinh được xác định tại điều 27 Luật giáo dục sửa đổi năm 2005;
những nhiệm vụ cấp thiết của sự nghiệp giáo dục, của đất nước, của địa
phương trong từng giai đoạn cụ thể. Những nhiệm vụ đó được thể hiện trong
các văn bản, chỉ thị của cơ quan quản lý giáo dục các cấp hướng dẫn nhà
trường thực hiện. Đặc biệt là nhiệm vụ năm học, chủ đề năm học do Bộ, Sở
Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn ngay từ đầu năm; các văn bản hướng dẫn về
12
công tác PCMT của ngành và của địa phương …Tình hình cụ thể của địa
phương về KT-XH, về phát triển dân số , về TNXH, tệ nạn ma túy, tình hình cụ
thể của nhà trường.
Định hướng mục tiêu chung nhất của hoạt động giáo dục PCMT là nhà
trường không có ma túy. Các chỉ tiêu cụ thể như 100% học sinh nhận thức được
tác hại của việc nghiện ma túy đối với bản thân, gia đình và cộng đồng; 100%
học sinh không hút thuốc lá, không uống rượu bia…
Yêu cầu đối với việc xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục PCMT,
đây là kế hoạch giáo dục được thực hiện thông qua việc tích hợp, lồng ghép
vào một số môn học trên lớp và thông qua HĐGDNGLL. Vì vậy kế hoạch
hoạt động của hoạt động giáo dục này cũng được tích hợp vào kế hoạch của các
tổ bộ môn và tích hợp vào kế hoạch HĐGDNGLL của nhà trường.
2.3.3. Tăng cường chỉ đạo các bộ phận trong nhà trường thực hiện kế
hoạch hoạt động giáo dục PCMT
2.3.3.1. Chỉ đạo tổ bộ môn, Đoàn TN và các bộ phận có liên quan tổ
chức thực hiện hoạt động giáo dục
Trong nhà trường, thực tế nội dung và hình thức hoạt động giáo dục
PCMT là rất phong phú

hồn hoạt động của tuổi trẻ học đường, hoạt động của Đoàn diễn ra ngoài thời
gian học tập trên lớp. Vì vậy Đoàn là lực lượng nòng cốt trong HĐGDNGLL
nói chung và hoạt động giáo dục PCMT nói riêng. Trong thực tế, trường học
nào mà hoạt động của Đoàn mạnh thì nơi đó hoạt động phong trào vui chơi
giải trí lành mạnh cũng sẽ diễn ra sôi nổi, và sẽ thu hút được nhiều thanh
niên, học sinh. Tuy nhiên, vai trò nòng cốt của hoạt động Đoàn chỉ phát huy
được khi có sự phối hợp chặt chẽ và tạo điều kiện từ phía nhà trường, cụ thể là
Hiệu trưởng và đội ngũ GV. Sự phối hợp thể hiện qua chế độ họp giao ban hàng
tháng của nhà trường, qua việc thực chương trình hoạt động giáo dục, lịch hoạt
động hàng tuần, hàng tháng.
2.3.2. Phối hợp với gia đình học sinh
Trong công tác PCMT gia đình là nhân tố quan trọng thiết yếu, cùng với
nhà trường giáo dục chuẩn mực, đạo đức học sinh, ngăn ngừa học sinh vi phạm
liên quan đến ma tuý
.
14
Thực tế cho thấy, mối quan hệ giữa nhà trường và gia đình thời gian qua
còn thiếu chặt chẽ, chưa có sự liên hệ thường xuyên; các gia đình ở địa bàn
vùng sâu, vùng xa, biên giới do điều kiện kinh tế khó khăn, vì cuộc sống mưu
sinh nên họ ít liên hệ với nhà trường trong việc giáo dục con em. Để khắc phục
tình trạng này, Nhà trường cần quan tâm chỉ đạo :
GVCN các lớp học, ban đại diện CMHS các lớp cần nắm được địa chỉ, số
điện thoại (nếu có) của cha mẹ từng học sinh, để có điều kiện thông báo kịp thời
tình hình học tập, rèn luyện và những biểu hiện không bình thường của học sinh
khi ở trường. Đồng thời tiếp nhận thông tin từ CMHS về tình hình học tập, sinh
hoạt của các em ở gia đình, nhằm phát hiện sớm những bất thường của các em
có liên quan đến hành vi ma túy.
Chỉ đạo GVCN phối hợp với Ban đại diện CMHS các lớp tham gia tổ
chức hoạt động giáo dục học sinh. Mỗi tháng 01 lần, ban đại diện CMHS lớp
dự giờ sinh hoạt lớp để nắm được tình hình lớp, hoặc trực tiếp tham gia tổ chức

Trong thực tế việc đầu tư CSVC, mua sắm trang thiết bị, tài liệu, kinh
phí để tổ chức hoạt động giáo dục PCMT đòi hỏi phải có một nguồn kinh phí
rất lớn, càn phải chủ động trong việc huy động đóng góp từ nhiều nguồn
khác nhau (nhà nước, CMHS, từ các dự án của các tổ chức chính phủ, và phi
chính phủ
)
Vì vậy, để tăng cường đầu tư CSVC, trang thiết bị, tài liệu, kinh phí tổ
chức hoạt động giáo dục PCMT nhà trường phải xây dựng và thực hiện một
kế hoạch dài hạn về đầu tư CSVC, trong đó xác định rõ nguồn kinh phí, trang
thiết bị hỗ trợ, các lực lượng đóng góp. Kế hoạch dài hạn được cụ thể thành
kế hoạch mua sắm, sửa chữa hàng năm của đơn vị, để sau khi hoàn thành kế
hoạch thì nhà trường có một CSVC tương đối phục vụ cho các hoạt động giáo
dục, trong đó có giáo dục PCMT.
2.3.6. Tổ chức kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm việc tổ chức hoạt động
giáo dục PCMT
Để nâng cao chất lượng quản lý hoạt động giáo dục PCMT, nhà trường
cần phải tổ chức kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm việc tổ chức hoạt động
giáo dục PCMT một cách thường xuyên và kịp thời, cụ thể:
16
Tăng cường kiểm tra việc thực hiện giáo dục PCMT qua các môn học,
kiểm tra chuyên môn của nhà trường. Mục đích kiểm tra để đánh giá việc cung
cấp tri thức về ma túy và các vấn đề có liên quan đến ma túy thông qua các
môn học được GV thực hiện ở mức độ nào.
Với việc kiểm tra các HĐGDNGLL có nội dung PCMT được tổ chức
trong toàn trường và ở từng lớp thì BCĐ giáo dục PCMT phối hợp với Đoàn
trường, với GVCN và GVBM tổ chức kiểm tra việc thực hiện kế hoạch hoạt
động và kết quả của hoạt động đó, đồng thời kiểm tra nhận thức của HS về
vấn đề ma túy sau từng thời gian giáo dục và tình hình đạo đức của HS trong
toàn trường, trong từng lớp học.
Thông qua kiểm tra nhằm phát hiện và ghi nhận những thành tích đạt

Tổ chức để giáo viên và các bộ phận đoàn thể trong nhà trường giao lưu
tham dự các hoạt động giáo dục PCMT của các trường trong cụm, trong tỉnh
hoặc tham gia các cuộc thi giữa các trường trong tỉnh, khu vực về hoạt động
giáo dục này.
Hỗ trợ kinh phí thích hợp cho việc đầu tư CSVC, trang thiết bị, tài liệu
và kinh phí để tổ chức hoạt động giáo dục PCMT.
Tăng cường công tác phối hợp với chính quyền địa phương, ngành công
an để xử lý, ngăn chặn kịp thời các hiện tượng có dấu hiệu liên quan đến ma
tuý.
*Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo
Chỉ đạo nhân rộng các mô hình giáo dục PCMT trong học sinh đạt kết
quả tốt, mô hình đội tự vệ văn hóa học đường, mô hình đội cờ đỏ với việc giữ
gìn nề nếp kỷ luật học đường và PCMT. Kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường,
chính quyền, gia đình và xã hội, phải dấy lên được phong trào toàn dân
PCMT; tích cực quản lý chặt chẽ con em, đồng thời tham gia phát hiện, tố giác
và đấu tranh chống tội phạm có liên quan đến ma túy.
Chỉ đạo các đơn vị trường học tăng cường công tác kiểm tra nội bộ, tăng
cường kiểm tra của Sở GDĐT đối với các trường học.
Hàng năm, Sở GDĐT nên tổ chức hội thảo bàn về công tác quản lý hoạt
18
động giáo dục PCMT, qua đó nhằm nâng cao nhận thức trong CBQL và GV,
chia sẻ kinh nghiệm của các trường làm tốt, rút kinh nghiệm quản lý của các
nhà trường và chỉ đạo của Sở GDĐT. Có chế độ khen thưởng đối với những
trường, những Hiệu trưởng tổ chức tốt hoạt động giáo dục PCMT.
*Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo
Bộ GDĐT cần phối hợp với Bộ Tài chính có văn bản hướng dẫn cụ thể
để các Sở GDĐT địa phương, các trường THPT lập dự toán ngân sách nhà
nước phục vụ cho hoạt động giáo dục PCMT nằm trong ngân sách phân bổ
hàng năm của đơn vị.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status