TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO GIÁO DỤC TIỂU HỌC
**********
NGUYỄN THỊ NGỌC ÁNH
VẬN DỤNG PHƢƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT
TRONG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI LỚP 1
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục Tiểu học
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Phạm Quang Tiệp
HÀ NỘI - 2017
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn sự hƣớng dẫn, giúp đỡ của các thầy cô giáo
trong khoa Giáo dục Tiểu học đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá
trình thực hiện khóa luận. Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy
giáo: T.s Phạm Quang Tiệp đã tận tình hƣớng dẫn và giúp đỡ em trong suốt
quá trình nghiên cứu này.
Trong quá trình thực hiện khóa luận do điều kiện, năng lực và thời gian
còn nhiều hạn chế đề tài nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy,
em rất mong nhận đƣợc sự góp ý và bổ sung của thầy cô và các bạn để đề tài
thêm hoàn thiện.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 25 tháng 04 năm 2017
Sinh viên thực hiện
SGV
: Sách giáo viên
STT
: Số thứ tự
GV
: Giáo viên
HS
: Học sinh
GDKN
: Giáo dục kĩ năng
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................ 1
1. Lí do chọn đề tài ......................................................................................... 1
2. Phạm vi nghiên cứu .................................................................................... 2
3. Mục đích nghiên cứu .................................................................................. 2
4. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................. 2
5. Phƣơng pháp nghiên cứu ............................................................................ 2
6. Giả thuyết khoa học .................................................................................... 3
1 để dạy học theo PPBTNB .......................................................................... 30
2.3.3. Vận dụng quy trình bàn tay nặn bột để thiết kế bài dạy....................... 38
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................................... 52
1. Kết luận .................................................................................................... 52
2. Kiến nghị .................................................................................................. 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 53
VẬN DỤNG PHƢƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT
TRONG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI LỚP 1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong xu thế của đất nƣớc hiện nay đòi hỏi phải tạo ra nguồn nhân lực
dồi dào năng động sáng tạo. Để đáp ứng nhu cầu đó, trong những năm gần
đây Đảng và nhà nƣớc ta đã đặc biệt quan tâm đến phát triển giáo dục.
Nghành giáo dục cũng đã có những đổi mới theo hƣớng tích cực hóa trong đó
phong trào “xây dựng trƣờng học thân thiện- học sinh tích cực’’ đã trở thành
một mục tiêu cấp thiết , ngoài việc các nhà sƣ phạm xây dựng, tạo ra một môi
trƣờng cho các em học sinh học tập, thì việc dạy học có hiệu quả phù hợp với
lứa tuổi học sinh là một trong những nội dung quan trọng của phong trào này.
Sự đổi mới phải bắt đầu từ cấp tiểu học- nền móng của ngôi nhà tri thức. Đổi
mới giáo dục phải đƣợc hiểu là đổi mới toàn diện, đổi mới từ mục tiêu,
phƣơng pháp và hình thức tổ chức dạy học. Để đạt đƣợc mục đích trên, cần
tìm kiếm những phƣơng pháp dạy học và các hình thức tổ chức dạy học hiệu
quả.
Việc tìm kiếm và vận dụng các phƣơng pháp tiên tiến vào quá trình dạy
học các môn học ở Tiểu học nói chung và môn tự nhiên vã hội nói riêng là
vấn đề quan trọng nhằm hình thành cho học sinh phƣơng pháp học tập độc
lập, sáng tạo. Một trong những phƣơng pháp có nhiều ƣu điểm, đáp ứng đƣợc
mục tiêu yêu cầu đổi mới và vận dụng tốt vào quá trình dạy học môn tự nhiên
lớp1.
- Minh họa một số bài học cụ thể vận dụng PPBTNB trong dạy học Tự
nhiên và xã hội lớp 1
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phƣơng pháp nghiên cứu tài liệu
Tìm tòi, phân tích các tài liệu có liên quan đến phạm vi, nội dung
nghiên
2
cứu để thu thập thông tin, tổng hợp các vấn đề nhằm xây dụng cơ sở lí luận
cho đề tài.
5.2. Phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn
5.2.1. Phƣơng pháp quan sát
Quan sát hoạt động dạy học môn Tự nhiên và xã hội ở trƣờng tiểu học
để thu thập những thông tin cần thiết cho đề tài.
5.2.2. Phƣơng pháp điều tra
Tiến hành điều tra theo các mẫu phiếu hỏi để thu thập những thông tin
thực tiễn của vấn đề.
5.2.3. Phƣơng pháp phỏng vấn
Tiến hành trò chuyện, phỏng vấn những đối tƣợng có liên quan nhằm có đƣợc
những thông tin cần thiết, có độ tin cậy cao để xây dựng cơ sở thực tiễn cho
đề tài.
5.3. Phƣơng pháp thống kê toán học
Sử dụng các hàm thống kê toán học để phân tích, tổng hợp kết quả
điều tra, thực nghiệm nhằm cung cấp cơ sở cho các kết luận, kiến nghị.
6. Giả thuyết khoa học
Nếu phƣơng pháp dạy học bàn tay nặn bột đƣợc vận dụng trong dạy
học môn Tự nhiên và xã hội lớp 1 phù hợp với đặc trƣng môn học thì hiệu
khám phá và say mê khoa học của học sinh. Ngoài việc chú trọng đến kiến
thức khoa học, phƣơng pháp BTNB còn chú ý nhiều đến việc rèn luyện kỹ
năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói và viết cho học sinh.
1.1.2. Nghiên cứu và vận dụng phương pháp BTNB trên thế giới
Ngay từ khi mới ra đời, phƣơng pháp BTNB đã đƣợc tiếp nhận và
truyền bá rộng rãi. Nhiều quốc gia trên thế giới đã hợp tác với Viện Hàn lâm
Khoa học Pháp trong việc phát triển phƣơng pháp này nhƣ Brazil, Bỉ,
Campuchia,
Chilê,
Trung
Quốc,
Thái
Lan,
Colombia,
Hy
lạp,
Malaysia, Marốc, Serbi, Thụy Sĩ, Đức…, trong đó có Việt Nam thông qua
4
các nhà khoa học ở Pháp với mục đích hỗ trợ, giúp đỡ Việt Nam trong các
lĩnh vực khoa học, giáo dục, trong các hội thảo khoa học, trƣờng hè về Vật lý;
trao học bổng khuyến học, khuyến tài cho học sinh và sinh viên Việt Nam.
Với sự cố gắng đem lại cho giáo viên tiểu học tại Việt Nam một phƣơng
pháp dạy học mới, tích cực nhằm thực hiện đổi mới phƣơng pháp dạy học
trên tinh thần của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hội Gặp gỡ Việt Nam đã trực tiếp
làm việc với các trƣờng đại học, các Sở Giáo dục và Đào tạo tại các địa
phƣơng để tổ chức các lớp tập huấn.
Tháng 6/2000, Hội Gặp gỡ Việt Nam cùng nhóm phóng viên của kênh
truyền hình VTV1 của Việt Nam thực hiện một phóng sự về phƣơng pháp
BTNB phát trên truyền hình Việt Nam.
Từ năm 2000 đến 2002, phƣơng pháp BTNB đã đƣợc phổ biến cho
sinh viên Đại học Sƣ phạm Hà Nội, đƣợc áp dụng thử nghiệm tại trƣờng Tiểu
học Đoàn Thị Điểm, trƣờng Herman Gmeiner Hà Nội và trƣờng thực hành
Nguyễn Tất Thành (thuộc Đại học Sƣ phạm Hà Nội). Chủ đề giảng dạy là:
nƣớc, không khí và âm thanh.
Năm 2002, nhóm nghiên cứu tăng thêm các lớp tiểu học áp dụng
phƣơng pháp BTNB tại Hà Nội và mở thêm các lớp tại Huế và tại Thành phố
Hồ Chí Minh. Lớp tập huấn về phƣơng pháp BTNB cho giáo viên đƣợc tổ
chức vào tháng 9/2002 tại Hà Nôi.
Từ 2002 đến nay, dƣới sự giúp đỡ của Hội Gặp gỡ Việt Nam các
lớp tập huấn về phƣơng pháp BTNB đã đƣợc triển khai cho các giáo viên cốt
cán và các cán bộ quản lý tại nhiều địa phƣơng trong toàn quốc.
Tháng 12/2009, Giáo sƣ Trần Thanh Vân đã gặp gỡ và trao đổi về
chƣơng trình BTNB tại Việt Nam với Thứ trƣởng Nguyễn Vinh Hiển và Vụ
trƣởng Vụ Tiểu học Lê Tiến Thành.
6
1.1.5. Nguyên tắc vận dụng phương pháp bàn tay nặn bột trong dạy
học Tự nhiên và xã hội
a, Học sinh cần phải hiểu rõ câu hỏi đặt ra hay vấn đề trọng tâm của bài học.
Để học sinh có thể tiếp thụ thực sự với tìm tòi nghiên cứu và cố gắng để hiểu
kiến thức, học sinh cần thiết phải hiểu rõ câu hỏi hay vấn đề dặt ra càn giải
quyết trong bài học. Để đạt yêu cầu này, bắt buộc học sinh phải tham gia vào
bƣớc hình thành các câu hỏi. Có nghĩa là học sinh cần phải có thời gian để
khám phá chủ đề của bài học, thảo luận các vấn đề và các câu hỏi có thể đặt ra
để từ đó suy nghĩ về những gì cần đƣợc nghiên cứu, phƣơng án thực hiện nhƣ
thế nào.
Vấn đề câu hỏi xuất phát phù hợp là câu hỏi tƣơng thích với trình độ
nhận thức của học sinh, gây mâu thuẫn nhận thức học sinh , kích thích nhu
cầu tìm tòi- nghiên cứu học sinh.
b, Tự làm thí nghiệm là cốt lõi của việc tiếp thu kiến thức
Học sinh cần thiết phải tự thực hiện và tự điều chỉnh thí nghiệm của
mình cho phù hợp với hiện tƣợng , kiến thực mà học sinh quan tâm, nghiên
cứu, Sở dĩ học sinh tự làm thí nghiệm trực tiếp là cơ sở cho việc hiểu bản chất
cốt lõi của các khái niệm và thông qua các thí nghiệm học sinh có thể hình
thành kiến thức xung quanh mình.
Trƣớc khi học đƣợc kiến thức, học sinh đến với những suy nghĩ ban
đầu của mình về các kiến thức, sự vật , hiện tƣợng theo cách suy nghĩ và
quan niệm của các em. Những suy nghĩ và quan niệm ban đầu này, là những
quan niệm riêng của các em thông qua vốn sống và vốn kiến thức đã thu thập
đƣợc ngoài trƣờng học. Các quan niệm này có thể đúng hoặc sai. Trong quan
trình làm thí nghiệm trực tiếp, học sinh sẽ tự đặt câu hỏi, tự thử nghiệm các
thí nghiệm để để tìm ra câu trả lời và tự rút ra các kết luận mới về kiến thức.
8
làm, đang thảo luận với học sinh khác. Các ý tƣởng, dự đoán, các khái niệm,
kết luận cần đƣợc phát biểu rõ ràng bằng lời hay viết ra giấy để chia sẻ thảo
luận với các học sinh khác.
Việc trình bày ý tƣởng, dự đoán kết luận của học sinh có thể kết hợp cả
việc trình bày lời và viết, vẽ ra giấy. Đôi khi trình bày, biểu đạt ý kiến của
học sinh có thể giúp các em hiểu ra mình đã hiểu đúng hay chƣa.. Phần lớn
các em học sinh thích trình bày bằng lời hơn là việc viết ra giấy. Việc trình
bày bằng lời hay viết ra giấy thì đều cần sự linh hoạt , phù hợp với từng hoạt
động , thời gian. Đây cũng là yếu tố quan trọng để giáo viên rèn luyện ngôn
ngữ nói và viết cho học sinh trong quá trình dạy học.
e, Dùng tài liệu khoa học để kết thúc quá trình tìm tòi – nghiên cứu
Mặc dù rằng là thí nghiệm là điều quan trọng nhƣng không thể qua việc
nghiên cứu tài liệu khoa học. Với các thí nghiệm đơn giản, không thể đáp ứng
hết nhu cầu về kiến thức cần tìm hiểu của học sinh cũng không truyền tải hết
nội dung bài học
Có nhiều nguồn khoa học nhƣ sách khoa học, thông tin trên internet,
báo chí chuyên ngành, tranh ảnh, phim khoa học, mà giáo viên chuẩn bị để
học sinh nghiên cứu tìm ra kiến thức, tuy nhiên nguồn tài liệu quan trọng, phù
hợp và gần gũi nhất với học sinh là sách giáo khoa. Đối với một số thông tin
có thể khai thác thông qua tài liệu, giáo viên có thể cho học sinh đọc sách
giáo khoa và tìm thông tin để trả lời câu hỏi liên quan.
f, Khoa học là một công việc cần sự hợp tác.
Tìm tòi- nghiên cứu là một công việc cần sự hợp tác trong công việc,
Trong nghiên cứu khoa học thực sự cũng vậy, có thể đƣa ra những ví dụ về
nghiên cứu khoa học một mình nhƣ một nhà động vật học tự mình quan sát,
nghiên cứu về tập tính của một loài động vật nào đó…. Nhƣng phải nói lại
rằng, sau khi có kết quả nghiên cứu , nhà nghiên cứu phải công bố kết quả của
10
11
(4)Tiến hành thực nghiệm tìm tòi – kiểm tra giả thuyết, (5) Trình bày, báo
cáo, nêu kết luận về giải thuyết.
Bước 1: Đưa ra tình huống và câu hỏi có vấn đề : Thực chất đây là
bƣớc kích thích tò mò, thích tìm tòi, nghiên cứu của HS. Tình huống xuất
phát là tình huống có vấn đề cần giải quyết do GV chủ động đƣa ra sau khi
gây đƣợc sự tò mò thích thú với HS là một cách dẫn nhập vào bài học. Tình
huống xuất phát phải ngắn gọn, dễ hiểu đối với HS và có lồng ghép các câu
hỏi nêu vấn đề. Tình huống xuất phát càng rõ ràng thì việc dẫn nhập cho câu
hỏi nêu vấn đề càng dễ. GV phải dùng câu hỏi mở, tuyệt đối không đƣợc dùng
các câu hỏi đóng (trả lời có hoặc không) đối với câu hỏi nêu vấn đề.
Tuy nhiên, trong trƣờng hợp tình huống xuất phát có thể chính là câu
hỏi nêu vấn đề.
Bước 2: Nêu ý kiến và xây dựng thành giả thuyết khoa học:
Hình thành biểu tƣợng ban đầu là bƣớc quan trọng, đặc trƣng của
phƣơng pháp BTNB. Bƣớc này khuyến khích học sinh nêu những suy nghĩ,
nhận thức ban đầu của mình trƣớc khi đƣợc học kiến thức. Hình thành biểu
tƣợng ban đầu, giáo viên có thể yêu cầu học sinh nhắc lại kiến thức cũ đã học
có liên quan đến kiến thức mới của bài học. Khi yêu cầu học sinh trình bày
biểu tƣợng ban đầu, giáo viên có thể yêu cầu nhiều hình thức biểu hiện của
học sinh, có thể là bằng lời nói (thông qua phát biểu cá nhân), bằng cách viết
hay vẽ để biểu hiện suy nghĩ. Xem thêm phần trình bày về biểu tƣợng ban đầu
để rõ hơn phần lý luận của biểu tƣợng ban đầu
Bước 3: Đề xuất các câu hỏi và phương án tìm tòi:
Làm cho HS bộc lộ, nêu đƣợc ý kiến về vấn đề mà GV vừa đƣa ra (ở
bƣớc 1) để từ đó hình thành các giả thuyết của HS là bƣớc quan trọng, đặc
trƣng của PPBTNB. Từ những khác biệt và phong phú về ý kiến ban đầu của
HS, GV khuyến khích, gợi mở để HS đề xuất câu hỏi, nêu ý kiến về vấn đề
một nhà nghiên cứu thực thụ, đặc trƣng cho PPBTNB. Trong quá trình HS
13
thực hiện thí nghiệm, thực nghiệm; GV cần chú ý theo dõi và giúp đỡ HS(nếu
cần).
Bước 5: Trình bày, báo cáo, nêu kết luận về giả thuyết: sau khi hiện
thực thí nghiệm, thực nghiệm nghiên cứu-kiểm chứng (bƣớc 3); các câu trả
lời dần dần đƣợc giải quyết, các giả thuyết đƣợc kiểm chứng, kiến thức đƣợc
hình thành, tuy nhiên vẫn chƣa có hệ thống hoặc chƣa chuẩn xác một cách
khoa học. GV có nhiệm vụ tóm tắt, kết luận và hệ thống lại để HS ghi lại vào
vở, coi nhƣ kiến thức của bài học. GV khắc sâu lại kiến thức cho HS bằng
cách cho HS đối chiếu lại với các ý kiến ban đầu. Nhƣ vậy từ những quan
niệm ban đầu (có thể khác biệt với kết luận khoa học), sau quá trình thực
nghiệm tìm tòi-nghiên cứu-kiểm chứng; chính HS tự phát hiện ra mình sai
hay đúng mà không phải do GV nhận xét một cách áp đặt, từ đó mà các em
thay đổi hoặc điều chỉnh một cách chủ động. Những thay đổi này sẽ giúp HS
ghi nhớ lâu hơn, khắc sâu kiến thức.
- Yêu cầu HS/nhóm HS thuyết trình, báo cáo kết quả thí nghiệm, thực
nghiệm tìm tòi , kiểm chứng đã thực hiện (bƣớc 3).
- HS rút ra kết luận về giả thuyết khoa học; chủ động điều chỉnh nhận
thức của bản thân; GV giúp HS chính xác hóa và kết luận chung về vấn đề
tìm hiểu.
1.1.6. Vai trò của phương pháp bàn tay nặn bột trong dạy học tự
nhiên và xã hội lớp 1
Chƣơng trình tự nhiên và xã hội lớp 1 đƣợc xây dựng theo quan điểm
dạy học tích cực. Đây là một môn mang tính đa ngành, tính thực tiễn cao.
Những hiểu biết mà các em có đƣợc là thực tiễn đang xảy ra xung quanh các
em. Là những điều mà các em có thể áp dụng ngay với bản thân, những ngƣời
- Kiến thức: có một số kiến thức cơ bản về:
+ Con ngƣời và sức khỏe ( cơ thể ngƣời, cách giữa vệ sinh cơ thể và
phòng tránh tai nạn, bệnh tật và vui chơi an toàn)
15
+ Các thành viên trong gia đình, lớp học, một số sự vật hiện tƣợng đơn
giản trong tự nhiên và xã hội.
- Kĩ năng: Bƣớc đầu hình thành phát triển các kĩ năng:
+ Tự chăm sóc sức khỏe cho bản thân, ứng sử hợp lí trong đời sống để
phòng tránh một số bệnh tật và tai nạn
+ Quan sát , nhận xét , nêu thắc mắc, đặt câu hỏi, biết cách diễn đạt
những hiểu biết của mình về các sự vật, hiện tƣợng trong tự nhiên và xã hội.
- Thái độ: hình thành và phát triển các thái độ và hành vi:
+ Có ý thức thực hiện các quy tắc giữ vệ sinh, an toàn cho bản thân, gia
đình và cộng đồng.
+ Yêu thiên nhiên, gia đình, trƣờng học, quê hƣơng.
1.2.2. Nội dung cơ bản môn Tự nhiên và xã hội lớp 1
Nội dung môn tự nhiên và xã hội lớp 1 bao gồm 3 chủ đề:
- Chủ đề: Con ngƣời và sức khỏe
+ Cơ thể ngƣời và các giác quan ( các bộ phận chính, vai trò nhận biết
thế giới xung quanh của các giác quan,vệ sinh cơ thể và các giác quan, vệ sinh
răng miệng). Ăn đủ no uống đủ nƣớc.
- Chủ đề: Xã hội
+ Gia đình: Các thành viên trong gia đình ( ông , bà, cha mẹ, anh chị
em ruột), Nhà ở và đồ dùng trong nhà ( địa chỉ nhà ở, chỗ ăn, ngủ, là việc ,
tiếp khách…và các đồ dùng cần thiết trong nhà. Giữ nhà ở sạch sẽ. An toàn
khi ở nhà( phòng tránh đứt tay, chân, điện giật, bỏng…)
Bảng phân phối nội dung môn Tự nhiên và xã hội lớp 1
5
6. Chăm sóc và bảo vệ răng
6
7. Thực hành đánh răng và rửa mặt
7
8.Ăn uống hàng ngày
8
9. Hoạt động và nghỉ ngơi
9
10.Ôn tập: con ngƣời và sức khỏe
10
11. Gia đình
11
1. Nhà ở
12
20
21. Ôn tập: xã hội
21
22. Cây rau
22
23. Cây hoa
23
24. Cây gỗ
24
25. Con cá
25
26. Con gà
26
27. Con mèo
27
34
35. Ôn tập: Tự nhiên
35
1.2.3. Đặc điểm của môn Tự nhiên và xã hội lớp 1
Chƣơng trình đƣợc xây dựng theo quan điểm tích hợp.
- Chƣơng trình môn hoc tích hợp kiến thức của nhiều lĩnh vực khoa
học khác nhau nhƣ: Vật lý, Hoá học, Sinh học, Sức khoẻ, Môi trƣờng, Kỹ
năng sống.
+ Chƣơng trình môn tự nhiên và xã hội đƣợc cấu trúc thành 3 chủ đề
lớn: Con ngƣời và sức khoẻ, Xã hội, Tự nhiên. Chƣơng trình đƣợc cấu trúc
đồng tâm, đƣợc mở rộng và nâng cao dần qua các lớp. Lớp 1 là giao đoạn đầu
của cấu trúc đồng tâm đó.
Trong chƣơng trình môn tự nhiên vã xã hội lớp 1, kiến thức đƣợc trình
bày từ gần đến xa, từ dễ đến khó nhằm phù hợp đặc điểm nhận thức của học
sinh. Đầu tiên các em sẽ học chủ đề sức khỏe, từ những gì gần gũi nhất, tìm
hiểu các bộ phận trên cơ thể chúng ta, sau là cách bảo vệ sức khỏe đơn giản.
Tiếp theo là học về chủ đề xã hội để các em có hiểu biết sơ giản về xã hội
xung quang các em. Cuối cùng là chủ đề tự nhiên sẽ khó hơn, trên cơ sở đó
các em sẽ biết thêm về thế giới tự nhiên và các hiện tƣợng trong tự nhiên.
Chƣơng trình các môn về môn tự nhiên và xã hội lớp 1 đƣợc cấu trúc
linh hoạt, mềm dẻo, thực tiễn, thiết thực, tạo điều kiện cho giáo viên có thể
vận dụng các phƣơng pháp mới vào quá trình dạy học theo hƣớng tích cực
18
hoá hoạt động nhận thức của học sinh. Đồng thời, giúp học sinh có thể vận