1
NGUYỄN VINH HIỂN
NGÔ VĂN HƢNG - NGUYỄN THỊ HOA
Vận dụng
Phƣơng pháp “Bàn tay nặn bột”
Trong dạy học môn Sinh học THCS Hà Nội, Tháng 12 năm 2011
4
Phần 1: Những vấn đề chung
1.1. Phƣơng pháp "Bàn tay nặn bột" trong dạy học Sinh học ở trường THCS
1.1.1. Giới thiệu chung về phƣơng pháp "Bàn tay nặn bột"
1.1.1.1. Phƣơng pháp "Bàn tay nặn bột là gì" ?
"La main à la pâte" "Bàn tay nặn bột" (tiếng Pháp: "La main à la pâte" ; tiếng Anh: Hand on)
là một phƣơng pháp dạy học tích cực dựa trên thí nghiệm nghiên cứu, áp dụng
cho việc giảng dạy các môn khoa học tự nhiên. "Bàn tay nặn bột" (BTNB) chú
trọng đến việc hình thành kiến thức cho học sinh bằng các thí nghiệm tìm tòi
nghiên cứu để chính các em tìm ra câu trả lời cho các vấn đề đƣợc đặt ra trong
cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều
tra…
Với một vấn đề khoa học đặt ra, học sinh có thể đặt ra các câu hỏi, các giả
thuyết từ những hiểu biết ban đầu, tiến hành các thí nghiệm nghiên cứu để kiểm
chứng và đƣa ra những kết luận phù hợp thông qua thảo luận, so sánh, phân tích,
tổng hợp kiến thức.
Cũng nhƣ các phƣơng pháp dạy học tích cực khác, BTNB luôn coi học sinh
là trung tâm của quá trình nhận thức, chính các em là ngƣời tìm ra câu trả lời
và lĩnh hội kiến thức dƣới sự giúp đỡ của giáo viên.
Mục tiêu của BTNB là tạo nên tính tò mò, ham muốn khám phá, yêu và say
mê khoa học của học sinh. Ngoài việc chú trọng đến kiến thức khoa học, BTNB
bảo trong suốt thời gian học tập.
5. HS bắt buộc có mỗi em một quyển vở thực hành do chính các em ghi
chép theo cách thức và ngôn ngữ của chính các em. 6
6. Mục tiêu chính là sự chiếm lĩnh dần dần của HS các khái niệm khoa học
và kĩ thuật đƣợc thực hành, kèm theo là sự củng cố ngôn ngữ viết và nói.
Những đối tƣợng tham gia.
7. Các gia đình và/hoặc khu phố đƣợc khuyến khích thực hiện các công việc
của lớp học.
8. Ở địa phƣơng, các đối tác khoa học (trƣờng Đại học, Cao đẳng, Viện
nghiên cứu, ) giúp các hoạt động của lớp theo khả năng của mình.
9. Ở địa phƣơng, các Viện Đào tạo giáo viên (Trƣờng cao đẳng sƣ phạm, đại
học sƣ phạm) giúp các GV kinh nghiệm và phƣơng pháp giảng dạy.
10. GV có thể tìm thấy trên Internet các website có nội dung về những
môđun (bài học) đã đƣợc thực hiện, những ý tƣởng về các hoạt động,
những giải đáp thắc mắc. Họ cũng có thể tham gia những hoạt động tập
thể bằng trao đổi với các đồng nghiệp, với các nhà sƣ phạm và với các
nhà khoa học. GV là ngƣời chịu trách nhiệm giáo dục và đề xuất những
hoạt động của lớp mình phụ trách.
1.1.1.3. Triển khai "Bàn tay nặn bột" tại Việt Nam
- Tại thời điểm BTNB mới đƣợc ra đời và khởi xƣớng ở Pháp, cha đẻ của nó,
giáo sƣ Georges Charpak đã đƣợc Giáo sư Trần Thanh Vân-Chủ tịch hội Gặp
gỡ Việt Nam (Rencontres du Vietnam) mời đến Tp Hồ Chí Minh trong một hội
thảo quốc tế lớn về Vật lý. Tại đây GS. G.Charpak đã cam kết phát triển BTNB
trong các trƣờng học tại Việt Nam.
1998-1999: 2 giáo viên đầu tiên của Việt Nam đã đƣợc Hội Gặp gỡ Việt
Nam tạo điều kiện sang Pháp học tập và nghiên cứu về BTNB.
1999: NXB Giáo dục đã xuất bản lần đầu tiên cuốn sách "Bàn tay nặn bột"
Ninh Bình. Tập huấn cho giáo viên Tiểu học, THCS tỉnh Bình Định.
1.1.2. Một số vấn đề về sử dụng phƣơng pháp "Bàn tay nặn bột" trong dạy
học môn Sinh học ở trƣờng THCS
Sinh học là một khoa học thực nghiệm. Các kiến thức sinh học cần đƣợc
hình thành bằng phương pháp quan sát và phương pháp thí nghiệm. Một số
phần chƣơng trình sinh học ở THCS mang tính khái quát, trừu tƣợng khá cao ở 8
cấp vi mô hoặc vĩ mô, cho nên trong một số trƣờng hợp phải hƣớng dẫn HS lĩnh
hội bằng tƣ duy trừu tƣợng (phân tích, tổng hợp, so sánh, vận dụng kiến thức lí
thuyết đã học ), dựa vào các thí nghiệm mô phỏng, các sơ đồ khái quát và các
bảng so sánh.
Quan sát và thí nghiệm là các phƣơng pháp nghiên cứu cơ bản của khoa
học tự nhiện, của các môn khoa học thực nghiệm, trong đó có sinh học. Sinh học
là một khoa học đã và sẽ không thể phát triển đƣợc nếu không có quan sát, thí
nghiệm.
Quan sát và thí nghiệm đã tạo khả năng cho các nhà khoa học phát hiện và
khai thác các sự kiện, hiện tƣợng mới, xác định những quy luật mới, rút ra
những kết luận khoa học và tìm cách vận dụng vào thực tiễn.
Đối với quá trình dạy học các môn khoa học tự nhiên, khoa học thực
nghiệm, quan sát và thí nghiệm cũng là phƣơng pháp làm việc của học sinh
(HS), nhƣng với HS những bài tập quan sát hoặc các thí nghiệm đƣợc giáo viên
(GV) trình bày hay do chính các em tiến hành một cách độc lập (thực hành quan
sát, thí nghiệm của HS) dƣới sự tổ chức, hƣớng dẫn của GV thƣờng để giải
quyết những vấn đề đã biết trong khoa học, rút ra những kết luận cũng đã biết
tuy vậy đối với các em HS vẫn là mới.
Thông qua quan sát, thí nghiệm, bằng các thao tác tƣ duy phân tích, tổng
hợp, trừu tƣợng hóa và khái quát hóa giúp các em xây dựng các khái niệm. Bằng
cách đó các em nắm kiến thức một cách vững chắc và giúp cho tƣ duy phát triển.
trình thực nghiệm.
b. Cần có dự kiến hệ thống chuẩn đánh giá, xác định phƣơng tiện và cách
thức đánh giá (nhƣ test kiểm tra) nhằm so sánh sự biến đổi trƣớc và sau thực
nghiệm.
c. Lựa chọn mẫu thực nghiệm, nhóm mẫu phải tiêu biểu cho cả lớp đối
tƣợng nghiên cứu. Nếu có nhóm thực nghiệm và đối chứng, phải kiểm tra ban
đầu để khẳng định tính tƣơng đƣơng đó.
d. Tiến hành các bƣớc thực nghiệm thận trọng đối với mục tiêu mà giả
thiết đề ra. Phải theo dõi sát sao các diễn biến một cách khách quan của quá 10
trình thực nghiệm, ghi chép dầy đủ, tỉ mỉ, chính xác các số liệu thông qua thực
nghiệm.
e. Xử lý kết quả nghiên cứu. Các kết quả thực nghiệm phải đƣợc xử lý
thận trọng bằng toán thống kê hay máy tính để khẳng định mối liên hệ của các
biến số trong quá trình nghiên cứu.
Phƣơng pháp kiểm tra
Là phƣơng pháp nghiên cứu nhờ vào hệ thống bài thử (còn gọi là bài tập
kiểm tra - Test) đƣợc tiêu chuẩn hoá về nội dung, hình thức và đƣợc thực tiễn
thừa nhận nhằm đánh giá các khả năng khác nhau của đối tƣợng nghiên cứu.
Phƣơng pháp quan sát
Là phƣơng pháp nhận thức về đối tƣợng nghiên cứu mà không làm ảnh
hƣởng đến đối tƣợng nghiên cứu. Nói cách khác, thông qua quan sát đối tƣợng
nghiên cứu, ta có thông tin để trên cơ sở đó tiến hành các bƣớc tìm tòi và khám
phá tiếp theo.
Quan sát quan trọng hơn nhìn (có những cảm giác thị giác).
Quan sát quan trọng hơn chú ý (xác định các cảm giác thị giác).
Quan sát là:
- Tìm câu trả lời cho câu hỏi.
sát đƣợc.
- Chọn lọc các chi tiết quan trọng có nghĩa là những chi tiết có mối quan hệ
với vấn đề cần giải quyết.
- Không quan sát một cách riêng rẽ, không gắn kết với hoàn cảnh mà phải
quan sát kết hợp với so sánh.
- Không ngoại suy một cách lạm dụng kết quả của những quan sát.
- Chia sẽ các thông tin thu nhận đƣợc bằng lời nói (thông qua phát biểu cá
nhân) hoặc bằng các tranh vẽ sau khi quan sát.
Tranh vẽ quan sát:
Đó là sự thể hiện trung thực từ thực tế quan sát:
- Chọn kế hoạch quan sát, lựa chọn việc định hƣớng các đối tƣợng
- Tuân thủ các chi tiết và tỷ lệ 12
- Trình bày các hình vẽ: toàn bộ diện tích trang giấy phải đƣợc sử dụng,
hình vẽ chiếm phần lớn, tiêu đề và lời chú thích phải đƣợc viết cẩn thận, rõ
ràng.
- Các đƣờng nét của tranh vẽ phải rõ ràng, tinh tế.
- Các lời chú thích phải chính xác, đƣợc bố trí hợp lý và sắp xếp có thổ
chức (theo hàng ngang, không đan xen nhau, xếp các lời chú thích theo
nhóm nếu cần thiết).
Các nét vẽ phải tinh tế, không tô màu. Tốt nhất nên sử dụng giấy trắng,
bút chì vẽ và tẩy. Tranh vẽ quan sát là một bài viết. Đó là "một bản ghi nhớ các
hoạt động đã trải qua".
Phƣơng pháp quan sát:
Quan sát tự do và ngẫu nhiên
Sự tò mò dẫn đến các câu hỏi
Quan sát có tổ chức (đƣợc định
quan sát là sai. So sánh kết quả quan sát đƣợc của tất cả các HS trong lớp giúp
tạo nên một sự nhất trí về những gì thực tế đã diễn ra. Nếu sự thống nhất về kết
quả quan sát này khác với các dự đoán của HS, HS cần phải suy nghĩ về các giả
định mà họ đã thực hiện, hoặc là phải thay đổi các dự đoán đó, nếu không thì
nhƣ thế nào? Rất hữu ích nếu dành thời gian trong lớp cho HS làm việc theo
nhóm và trả lời tất cả các câu hỏi kèm theo. Họ sẽ học đƣợc rất nhiều thông qua
việc thảo luận với những ngƣời khác. Một điều cũng rất quan trọng là bạn thảo
luận về những điều HS phát hiện ra và giới thiệu chúng với cả lớp nhƣ là toàn bộ
đƣợc suy ra từ ý tƣởng của họ và mang đến cho cả lớp sự thống nhất về cách
giải thích khoa học.
Phƣơng pháp phỏng vấn
Là phƣơng pháp nghiên cứu khoa học dùng để thu nhận thông tin thông
qua hỏi và trả lời giữa nhà nghiên cứu (ngƣời phỏng vấn) với các cá nhân khác
nhau về vấn đề quan tâm.
Theo Patton, trong một chƣơng trình phỏng vấn, có 6 dạng câu hỏi cơ bản
có thể dùng cho các đối tƣợng, đó là:
a- Các câu hỏi về lai lịch, nhân thân: là loại câu hỏi thủ tục về những đặc
điểm, lai lịch của ngƣời đƣợc phỏng vấn.
b- Các câu hỏi về kiến thức: là các câu hỏi sử dụng để tìm ra những thông
tin thực sự của ngƣời đƣợc phỏng vấn.
c- Các câu hỏi về cách cƣ xử hoặc kinh nghiệm: là các câu hỏi mà nhà
nghiên cứu hỏi để tìm ra cái mà ngƣời đƣợc phỏng vấn đã làm gần đây hoặc
trong quá khứ.
d- Các câu hỏi ý kiến hoặc đánh giá: dùng để tìm hiểu những điều mà mọi
ngƣời nghĩ về một số chủ đề hoặc một vấn đề 14
e- Các câu hỏi cảm nghĩ: dùng để tìm hiểu những điều mà ngƣời đƣợc hỏi
cảm thấy thế nào về những điều khác nhau.
những cấu trúc, đặc biệt những cơ chế hay quá trình sống ở cấp tế bào, phân tử
và các cấp trên cơ thể.
- "Bàn tay nặn bột" không càn có dụng cụ nặng nề đắt tiền: những vật dụng hàng
ngày và vài vật liệu đơn giản là đủ.
- Thí nghiệm tiến hành đơn giản và không cần có sự hiểu biết kĩ thuật gì đặc
biệt.
- Đặc điểm: GV không định hƣớng các giả thiết mà để cho các em tự nghĩ ra thí
nghiệm làm sao thực hiện đƣợc cái mà các em đi tìm. Thầy giáo chỉ yêu cầu các
em tự phác hoạ hay vẽ sơ đồ thiết bị thí nghiệm, tìm ra vật liệu và đối chiếu kết
quả. Sau đấy bằng cuộc tranh luận giàu lí lẽ, các em đi đến lôgic hơn, chặt chẽ
hơn và các em sẽ có một phƣơng pháp khoa học. Dần dần thực tế sẽ đƣợc thừa
nhận và các giả định khác bị bác bỏ.
Những định hƣớng trên sẽ góp phần đào tạo những con ngƣời năng động,
sáng tạo, dễ thích ứng trong cuộc sống lao động sau này. Nhƣ vậy, phƣơng pháp
"Bàn tay nặn bột" không chỉ là phƣơng tiện để chuyển tải nội dung mà còn đƣợc
coi nhƣ một thành phần học vấn. Rèn luyện phƣơng pháp học đƣợc coi nhƣ một
mục tiêu dạy học.
Sau đây là sự cụ thể hoá vận dụng một trong các kiểu dạy học tích cực là
phƣơng pháp “Bàn tay nặn bột” trong chƣơng trình môn Sinh học ở THCS.
1.1.3. Những điểm cần chú ý khi vận dụng phƣơng pháp "Bàn tay nặn bột"
Bàn tay nặn bột khuyến cáo một tiến trình ƣu tiên cho xây dựng những tri
thức (hiểu biết, kiến thức) bằng khai thác, thực nghiệm và thảo luận.
Đó là sự thực hành khoa học bằng hành động, hỏi đáp, tìm tòi, thực
nghiệm, xây dựng tập thể chứ không phải phát biểu lại các kiến thức có sẵn xuất
phát từ sự ghi nhớ thuần tuý.
HS tự mình thực hiện các thí nghiệm, các suy nghĩ và thảo luận để hiểu
đƣợc phần đóng góp của mình.
17
Bàn tay nặn bột khuyến khích trao đổi bằng ngôn ngữ nói về những quan
sát, những giả thuyết, những thí nghiệm và những giải thích. Một số trẻ có khó
khăn về ngôn ngữ trong một số lĩnh vực nào đó đã phát biểu ý kiến một cách tự
giác hơn khi các thao tác trong hoạt động khoa học bắt buộc chúng phải làm
việc tập thể và phải đối mặt với các hiện tƣợng tự nhiên.
Tính nghiêm ngặt của phát biểu khoa học, sự đòi hỏi khách quan hoá, hợp
thức hoá có thể góp phần hình thành tƣ tƣởng biết phê phán về những phát biểu
phi khoa học. Sự tranh luận khoa học cũng có thể tạo thành kiểu tranh luận trong
xã hội cả khi bản chất các kiểu tranh luận đó là khác nhau (đồng thuận khoa học
không thể dựa trên bỏ phiếu – nhƣ trong các cuộc họp tập thể): HS học cách bảo
vệ quan điểm của mình, biết lắng nghe ngƣời khác, biết thừa nhận trên cơ sở của
lí lẽ, biết làm việc cho mục đích chung trong một khuôn khổ nhất định.
Viết
Văn phong (lối viết) là cách thức thể hiện ra ngoài những hoạt động suy
nghĩ của mình.
Nó cũng cho phép giữ lại dấu vết của các thông tin đã thu nhận đƣợc, tổng
hợp và hình thức hoá để làm nảy sinh ý tƣởng mới. Nó cũng làm cho thông báo
đƣợc dễ dàng tiếp nhận dƣới dạng đồ thị vì thông tin đôi khi khó phát biểu và
cho phép ghi lại các kết quả tranh luận.
Chuyển từ nói sang viết
Chuyển từ một cách thức thông báo này sang một cách thức khác là một
giai đoạn quan trọng. Bàn tay nặn bột đề nghị giành một thời gian để ghi chép
cá nhân, để thảo luận xây dựng tập thể những câu thuật lại các kiến thức đã đƣợc
trao đổi và học cách thức sử dụng các cách thức viết khác nhau.
CÁC PHƢƠNG DIỆN KHÁC NHAU CỦA MỘT
TIẾN TRÌNH TÌM TÕI NGHIÊN CỨU
Cũng có thể đƣợc thực hiện trong giai đoạn cuối để đem lại ý nghĩa
cho các kiến thức đã đƣợc hình thành trong lớp.
Tìm kiếm tài liệu: cách thức này có thể thay thế cho việc thực nghiệm trực tiếp
khi không thể tiến hành các thực nghiệm, hoặc có thể đƣợc dùng để thúc đẩy 19
hoặc cũng có thể đƣợc dùng nhƣ phƣơng tiện cuối cùng để đối chiếu kiến thức
đƣợc xây dựng trong lớp với .
NHỮNG BIỂU TƢỢNG BAN ĐẦU
Để làm xuất hiện chúng:
Về nói
Thảo luận cá nhân: là thảo luận với chính bản thân và đƣợc đánh giá là tích cực
nhất bởi vì nó không có ảnh hƣởng ý kiến của những ngƣời khác.
Thảo luận tập thể : không nên có sự chỉ đạo có tác dụng rèn luyện cho học sinh
biết lắng nghe và chữa đƣợc ý kiến của ngƣời khác.
Thảo luận có thể chỉ đạo một phần : giáo viên đặt ra những câu hỏi.
Ví dụ :“ Thở là thế nào?”, “ Không khí thở vào đi đâu?”
Đặt ra cho học sinh những câu hỏi để giải thích các sự kiện thƣờng gặp trong
đời sống hàng ngày. Ví dụ : Ngƣời ta làm thế nào để gập đƣợc cánh tay?
Bạn hãy làm cho cả lớp đối đầu với một quan niệm do một học sinh đƣa ra
hoặc thậm chí là sự giải thích rút ra từ lịch sử khoa học. Ví dụ : Có phải các ngôi
sao đƣợc treo trên vòm trời?
Về viết
Các câu hỏi tự phát:
Tiếp theo một tình huống khởi động nhƣ em của một học sinh trong lớp vừa
đƣợc sinh ra, các học sinh hoặc giáo viên đặt ra câu hỏi “Em bé đƣợc sinh ra
nhƣ thế nào?”. Học sinh viết tất cả các câu hỏi xung quanh chủ đề này.
Học sinh trả lời cho hệ thống câu hỏi mà giáo viên lập ra (Câu hỏi nửa mở).
Tránh những câu hỏi đóng!
- Cần thiết xây dựng một vốn tri
thức khoa học, bắt buộc phải làm
cho kiến thức đó phát triển MỘT SỰ CHUẨN ĐOÁN
- Về kiến thức của ngƣời học mà họ cần quan
tâm
- Tính đến đƣợc những chƣớng ngại ẩn ngầm và
những khả năng hiểu biết của ngƣời học
- Nhận thức đƣợc con đƣờng còn phải trải qua
giữa các quan niệm của ngƣời học với mục đính
của giáo viên
- Sự chậm chạp của quá trình học tập và con
đƣờng quanh co mà việc học tập này phải trải
qua xử lí
- Xác định một cách thực tế về trình độ bắt buộc
phải đạt đƣợc
- Lựa chọn những tình huống sƣ phạm, các kiểu
can thiệp và những công cụ sƣ phạm thích đáng
nhất.
VÀ, CHẮC CHẮN, MỘT PHƢƠNG TIỆN
ĐÁNH GIÁ
QUAN NIỆM = SỰ CHỈ DẪN
= PHƢỢNG TIỆN THÚC ĐẨY
(ĐỂ ĐẠT MỤC ĐÍCH)
22
VAI TRÕ CỦA NHỮNG BÀI VIẾT
Vì sao phải viết ?
Viết cho chính
bản thân mình nhằm
cứu
Hiểu
- Tổ chức lại, lựa chọn,
cấu trúc
- Tìm mối quan hệ giữa
các bài viết
- Trình bày lại các bài viết
từ nhũng kết luận tập thể
Truyền
Cái mà ngƣời ta đã hiểu,
một kết luận, một bản
tổng hợp
Đặt câu hỏi
Cho một lớp học khác,
một nhà khoa học
Giải thích
- Cái đã làm
- Cái đã hiểu
- Những đề xuất
Tổng hợp
Tổ chức theo thứ tự ,
thiết lập các mối quan hệ 23
Tác dụng của các bài
viết cá nhân
Tác dụng của các bài
viết của nhóm
Tác dụng của các bài
NHỮNG TƢƠNG TÁC SƢ PHẠM
GIÁO VIÊN - NGƢỜI HƢỚNG DẪN
- đề ra các tình huống, những thách thức
- định hƣớng các hoạt động
- thu hẹp những cái có thể
- chỉ ra, thông tin
GIÁO VIÊN - NGƢỜI TRUNG GIAN
- là nhà trung gian giữa „thế giới‟ khoa học (các kiến thức và thực hành) và
học sinh.
- là ngƣời đàm phán với học sinh những thay đổi nhận thức liên quan với
những câu hỏi đƣợc xử lí, với các thiết bị thực nghiệm thích đáng, với mô
hình giải thích hợp lí,…
- đảm bảo sự đón trƣớc và giải quyết các xung đột nhận thức.
- hành động bên cạnh với mỗi học sinh cũng nhƣ với mỗi nhóm học sinh và
cả lớp. 24
1.2. Các bƣớc của tiến trình dạy học môn Sinh học ở trường THCS theo
phƣơng pháp "Bàn tay nặn bột"
Bàn tay nặn bột khuyến cáo một tiến trình ƣu tiên cho xây dựng những tri
thức (hiểu biết, kiến thức) bằng khai thác, thực nghiệm và thảo luận.
Đó là sự thực hành khoa học bằng hành động, hỏi đáp, tìm tòi, thực
nghiệm, xây dựng tập thể chứ không phải phát biểu lại các kiến thức có sẵn xuất
phát từ sự ghi nhớ thuần tuý.
HS tự mình thực hiện các thí nghiệm, các suy nghĩ và thảo luận để hiểu
đƣợc phần đóng góp của mình.
HS học tập nhờ hành động, cuốn hút mình trong hành động; HS học tập
tiến bộ dần bằng cách tự nghi vấn; HS học tập bằng hỏi đáp với bạn kết đôi và
với bạn hiểu biết hơn, bằng cách trình bày quan điểm của mình, đối lập với quan
thể giúp sửa chữa, phát biểu lại các câu hỏi để đảm bảo đúng nghĩa, tập
trung vào lĩnh vực khoa học và tạo điều kiện cho việc nâng cao khả năng
diễn đạt nói của học sinh;
sự chọn lựa có định hƣớng, có căn cứ của giáo viên trong việc khai thác
các câu hỏi hiệu quả (nghĩa là thích hợp với một tiến trình xây dựng, có
tính đến các dụng cụ thực nghiệm và tƣ liệu sẵn có) có thể dẫn đến việc
học một nội dung trong chƣơng trình;
làm bộc lộ các quan niệm ban đầu của học sinh, đối chiếu chúng với nhau
nếu có sự khác biệt để tạo điều kiện cho lớp lĩnh hội vấn đề đặt ra.
Xây dựng các giả thuyết và thiết kế sự tìm tòi nghiên cứu cần tiến hành để
chứng minh hay loại bỏ các giả thuyết đó
cách quản lí tạo nhóm học sinh của giáo viên (ở các mức khác nhau tùy
thuộc hoạt động, từ mức độ cặp đôi đến mức độ cả lớp); các yêu cầu đƣa
ra ( các chức năng và hành vi mong đợi ở từng nhóm)
phát biểu bằng lời các giả thuyết ở các nhóm;
có thể xây dựng các qui trình để chứng minh hay loại bỏ các giả thuyết