BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
---------------------------
NGUYỄN ANH ĐỨC
NGHIÊN CỨU KẾT CẤU VÀ HIỆU QUẢ CỦA MỘT SỐ LOẠI HÌNH
CANH TÁC Ở HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Hà Nội, 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
-------------------------
NGUYỄN ANH ĐỨC
NGHIÊN CỨU KẾT CẤU VÀ HIỆU QUẢ CỦA MỘT SỐ LOẠI HÌNH
CANH TÁC Ở HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH
CHUYÊN NGÀNH: LÂM HỌC
MÃ SỐ: 60.62.02.01
ii
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn ......................................................................................................... i
Mục lục .............................................................................................................. ii
Danh mục các từ viết tắt.................................................................................... v
Danh mục các bảng .......................................................................................... vi
Danh mục các hình ......................................................................................... viii
ĐẶT VẤN ĐỀ ................................................................................................... 1
Chương 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ....................................... 3
1.1. Ở ngoài nước ........................................................................................ 3
1.1.1. Canh tác nương rẫy ................................................................... 3
1.1.2. Loại hình canh tác trong nông trại ............................................ 7
1.1.3. Nông lâm kết hợp ...................................................................... 9
1.2. Ở Việt Nam ........................................................................................ 13
1.2.1. Loại hình canh tác nương rẫy ................................................. 13
1.2.2. Loại hình canh tác trang trại ................................................... 20
1.2.3. Loại hình canh tác nông lâm kết hợp ...................................... 21
Chương 2. MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .....25
2.1. Mục tiêu nghiên cứu .......................................................................... 25
2.1.1. Về lý luận ................................................................................ 25
2.1.2. Về thực tiễn ............................................................................. 25
2.2. Nội dung nghiên cứu .......................................................................... 25
2.3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ......................................................... 25
2.3.1. Đối tượng nghiên cứu ............................................................. 25
2.3.2. Phạm vi nghiên cứu ................................................................ 26
2.4. Phương pháp nghiên cứu ................................................................... 26
2.4.1. Thu thập tài liệu thứ cấp ......................................................... 26
iv
4.1.3. Lựa chọn các LHCT điển hình ............................................... 63
4.2. Nghiên cứu kết cấu của các loại hình canh tác .................................. 71
4.2.1. Đặc điểm về cấu trúc và bố trí các loài cây trong các mô hình canh
tác ...................................................................................................................71
4.2.2. Đánh giá tính hợp lý của các mô hình nghiên cứu ................. 73
4.3. Đánh giá hiệu quả của các loại hình canh tác .................................... 76
4.3.1. Hiệu quả kinh tế ...................................................................... 76
4.3.2. Hiệu quả xã hội của các LHCT............................................... 78
4.3.4. Hiệu quả tổng hợp từ LHCT ................................................... 82
4.4. Một số giải pháp phát triển kỹ thuật nhằm cải tiến kết cấu và nâng cao
hiệu quả canh tác ....................................................................................... 90
4.4.1. Cải thiện kết cấu các LHCT hiện có ....................................... 90
4.4.2. Xây dựng mới các LHCT ....................................................... 93
4.4.3. Phát triển, nhân rộng các LHCT hiện có ................................ 94
4.4.4. Hướng dẫn các biện pháp các kỹ thuật canh tác ..................... 94
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ ............................................. 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TT
Từ viết tắt
Nghĩa từ
Tỷ lệ thu hồi nội bộ
8
BCR
Tỷ lệ thu nhập so với chi phí
9
UBND
Ủy ban nhân dân
10
QLNN
Quản lý nhà nước
11
QLDD
Quản lý đất đai
12
QSD
TT
Trang
2.1
Phân nhóm các xã theo các tiêu chí
27
3.1
Cơ cấu đất đai của huyện Lương Sơn năm 2010
40
3.2
Tình hình quy hoạch sử dụng đất và biến động sử dụng đất từ năm 2006
– 2010
43
3.3
Diện tích, năng suất và sản lượng một số cây trồng hàng năm 2010
45
4.4
Các mô hình canh tác thuộc loại hình canh tác vườn nhà
66
4.5
Các mô hình canh tác thuộc loại hình canh tác nương rẫy
68
4.6
Các mô hình canh tác thuộc loại hình canh tác trên ruộng
69
4.7
Các mô hình được lựa chọn phân tích
70
4.8
Một số đặc điểm về cấu trúc trong các mô hình canh tác
71
86
4.16 Hiệu quả tổng hợp của các LHCT trên đất ruộng và nương rẫy
88
vii
DANH MỤC CÁC HÌNH
TT
Tên hình, biểu đồ
Trang
2.1
Sơ đồ nghiên cứu của đề tài
29
3.1
Cơ cấu sử dụng đất của huyện Lương Sơn năm 2010
42
4.1
không chú ý đến hiệu quả kinh tế - xã hội thì việc nâng cao mức sống của
người dân và phát triển kinh tế vùng là điều khó có thể thực hiện được. Trên
thực tế, ở các vùng sản xuất nông lâm nghiệp, hiện tượng xói mòn rửa trôi
trên các vùng đất dốc diễn ra rất mạnh làm đất đai nghèo dinh dưỡng làm
giảm khả năng canh tác dẫn đến năng suất cây trồng cũng giảm dần, ảnh
hưởng trực tiếp đến đời sống và kinh tế của người dân. Như vậy, nghiên cứu
kết cấu loại hình canh tác thích hợp cho từng vùng và tiểu vùng sinh thái là
cách tối ưu hóa việc sử dụng các tài nguyên đất, nước và lao động để mang
lại hiệu quả kinh tế cao và bảo vệ môi trường được bền vững.
Lương Sơn là một Huyện miền núi của Tỉnh Hòa Bình, đã và đang phát
triển nhiều hệ thống canh tác khác nhau. Song các hệ thống canh tác này được
xây dựng dựa trên khai thác và sử dụng đất đai bằng những kinh nghiệm sẵn
có và với trình độ còn hạn chế nên hiệu quả của các hệ thống canh tác thấp.
Cho đến nay, Huyện Lương Sơn vẫn còn thiếu những kinh nghiên cứu về kết
cấu và hiệu quả của các loại hình canh tác làm định hướng cho việc phát tiển
2
các hệ thống canh tác mang lại hiệu quả tổng hợp. Vấn đề đặt ra là làm thế
nào để có thể lựa chọn được một hệ thống canh tác hợp lý và có tác động tích
cực đến kinh tế, xã hội, môi trường. Loại hình canh tác đó phải nâng cao hiệu
quả sử dụng đất, phát huy được chức năng phòng hộ, đảm bảo tính bền vững
lâu dài và nâng cao đời sống người dân tại các xã của Huyện nói riêng và
Huyện lương Sơn nói chung
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, đề tài: “Nghiên cứu kết cấu và
hiệu quả của một số loại hình canh tác ở huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa
Bình” được thực hiện. Đề tài xác định một số loại hình canh tác có hiệu quả
cao và làm cơ sở đề xuất một số giải pháp kỹ thuật cải thiện cấu trúc và nâng
cao hiệu quả của các loại hình canh tác tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.
4
Có nhiều nghiên cứu trên thế giới về CTNR. Dựa trên những ý kiến và
quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu, Katherine (1991) đã tổng hợp những
quan điểm chủ yếu về CTNR quay vòng (CTNR truyền thống).
Tại Châu Phi thường có những NR gần nhà, NR xa nhà thường được
gây trồng một thời gian ngắn và bỏ hoá khá lâu. Rẫy gần nhà có xu hướng
được canh tác lâu hơn và thời kỳ bỏ hoá ngắn hơn và trong một số vùng
chúng trở thành những vườn hộ thâm canh. Càng đa dạng và có cơ sở di
truyền rộng, hệ DC nông nghiệp sinh thái càng ổn định. Qua việc kết hợp với
loài cây trồng khác nhau. giống khác nhau, NR khác nhau, người dân DC cố
gắng xây dựng một hệ thống bền vững và ổn định nhất để đảm bảo an toàn
lương thực.
Từ những điểm đã trình bày có thể diễn tả mô hình biến động sinh thái
rừng nhiệt đới qua DC như sau (Jordan, 1985).
+ Chu kỳ du canh bỏ hoá
Dựa vào các tài liệu tham khảo và nghiên cứu, Katherinewarrner đã đưa
ra 6 giai đoạn trong chu kì DC, trong đó người dân DC cần đề ra những quyết
định then chốt về vị trí, thời gian, loài cây trồng và đầu tư lao động, 6 giai
đoạn đó là: chọn lập địa và phát quang, đốt, trồng, làm cỏ và bảo vệ, thu
hoạch, diễn thế.
+ Thường nông dân DC có quyền chọn NR ở bất cứ nơi nào trong rừng.
Cũng có các cộng đồng dân tộc quy định vùng được tiến hành làm NR. Ở các
vùng ẩm thuộc Đông Nam Á và lưu vực sông Ama zon người dân thường lựa
chọn rừng nguyên sinh hoặc rừng thứ sinh để làm NR. Ngoài ra NR còn được
lựa chọn dựa vào cự li cách xa nhà hoặc thôn bản, loài cây có thể gây trồng và
lao động sẵn có.
+ Phát quang thường được tiến hành vào đầu mùa khô để có thời gian
cho cây khô và có thể đốt được.
như sau:
6
- CTNR thường gắn với du cư của bộ tộc. Họ tiến hành CTNR không
có ý thức quay trở lại nương cũ và sử dụng triệt để độ phì tự nhiên của đất sau
khi phát quang rừng. Qua một thời gian, cả bản làng di chuyển tới nơi mới
còn rừng để tiếp tục làm NR.
- Do sử dụng liên tục NR nên khi bỏ hoá độ phì đất giảm mạnh, cỏ
chiếm ưu thế trên NR và rừng gieo giống xung quanh cũng bị phá mạnh, khả
năng phục hồi rừng rất khó khăn và cần thời gian dài. Do vậy kiểu CTNR này
gây tác hại xấu đến môi trường, hạn chế khả năng diễn thế phục hồi lại rừng
và độ phì đất.
Tóm lại, từ những nghiên cứu của các nhà khoa học về CTNR giúp mọi
người có cái nhìn đúng hơn về bản chất của CTNR và phân biệt được các
LHCT trong nương rẫy, đặc biệt CTNR quay vòng (luân hồi) và CTNR tiến
triển. Những đặc điểm của CTNR nhằm hiểu rõ hơn về người dân DC: họ có
kiến thức, hiểu biết về môi trường xung quanh và vận dụng một cách thích
ứng để tiến hành canh tác nông nghiệp trong những khu rừng nhiệt đới ẩm và
mối quan hệ giữa thực vật rừng và đất rừng mỏng manh, dễ dàng bị phá vỡ
khi tác động vào hệ sinh thái rừng nhiệt đới. Họ biết cách quản lí rừng và tạo
điều kiện cho canh tác nông nghiệp được liên tục, lâu dài và bền vững ở mức
độ nhất định. Ít ra từ đó mọi người nhìn người DC không phải dưới con mắt
của những người phá rừng là chủ yếu. Đất đai bỏ hoá sau NR thường chúng ta
cho là đất hoang hoá, không sử dụng nhưng thực chất đang nằm trong chuỗi
diến thế của rừng và nằm trong quá trình sử dụng khép kín của hệ thống
CTNR. Cho tới nay một quan niệm chung vẫn phổ biến là CTNR gây phá
hoại môi trường, làm thoái hoá đất và là một trong những nguyên nhân chính
gây mất rừng ở nhiều nước trong khu vực Châu Á và Thái Bình Dương.
Chính phủ tất cả các nước có canh tác DC đều tiến hành nhiều chính sách,
trang trại hộ gia đình nói chung tiếp tục tăng lên, như ở Ấn Độ,
Indonesia, Philippin …Về qui mô trang trại thì biến động theo chiều
8
hướng ngược lại so với số lượng trang trại, hiện nay bình quân diện tích
đất đai của trang trại ít nhất là ở các nước Châu Á…
Trang trại trong nông nghiệp chịu sự chi phối của điều kiện tự nhiên,
dân số cho nên có các đặc điểm khác với những khu vực khác trên thế giới
về số lượng cũng như quy mô. Qua tổng hợp, diện tích bình quân có 0,15
ha/người vì thế nó ảnh hưởng đến quy mô trang trại. Nhật Bản được coi là
nước phát triển mạnh về trang trại hộ gia đình ở Châu Á với 6.117.600
trang trại năm 1950 và 3.691.000 trang trại năm 1993. Đài Loan có
744.000 trang trại năm 1955 và năm 1988 là 739.000 trang trại. Như vậy
về số lượng trang trại cũng như quy mô đều giảm và nhỏ hơn rất nhiều so
với các nước Âu - Mỹ.
Nhìn chung không phải hoàn toàn các trang trại đều như vậy mà
chúng phân hoá theo nhiều loại quy mô khác nhau và chiếm những tỷ lệ
nhất định. Ở Pháp năm 1993 số lượng trang trại nhỏ hơn 5 ha chiếm
27,6%, số lượng trang trại từ 5 – 20 ha chiếm 22,6%, số lượng trang trại
trên 20 ha chiếm 49,8%. Ở Anh năm 1987 số lượng trang trại dưới 20 ha
chiếm 43%, trang trại từ 20 – 100 ha chiếm 45%, trên 100 ha chiếm
11,6%. Nhật Bản năm 1990 số trang trại dưới 0,5 ha chiếm 41,7%, từ 0,5
– 1 ha chiếm 30,3%. Như vậy trong suốt quá trình phát triển của trang
trại ở Châu Âu – Á - Mỹ dù phát triển sớm hay muộn thì chúng ta đều
nhận thấy rằng: Số lượng các trang trại nhỏ ngày càng giảm, số lượng
các trang trại có quy mô lớn ngày càng tăng. Tuy nhiên vẫn tồn tại các
trang trại vừa và nhỏ nhằm hợp tác bổ sung cho nhau trong quá trình
phát triển. Hiện nay, trang trại hộ gia đình đem lại cho nền nông nghiệp
Dương gồm 12 nước thành viên tham gia trong đó có Việt Nam được tổ chức
tại Băng Cốc - Thái Lan. Hội nghị đã đưa ra một số lý do để tiến hành phương
10
thức CTNR đó là vùng Châu Á Thái Bình Dương do có dân số chiếm 69%
dân số thế giới, trong khi đó chỉ có 28% đất canh tác nông nghiệp so với đất
canh tác toàn thế giới. Do mâu thuẫn dân số và đất đai canh tác mà hàng năm
khoảng 2 triệu ha rừng bị tàn phá, nên cần có những giải pháp về NLKH.
Theo thống kê của FAO tính đến năm 1990 đã có tới 117 quốc gia trên thế
giới áp dụng phương thức NLKH. Trong thực tế canh tác NLKH đã có nhiều
hệ thống mang lại hiệu quả cao, như:
- Hệ thống Taungya (Taungya system): Hệ canh tác này được đặc trưng
bởi sự kết hợp giữa việc trồng cây nông nghiệp và cây lâm nghiệp trong giai
đoạn đầu của trồng rừng. Như vậy mục đích chính của hệ canh tác là trồng
rừng, cây nông nghiệp chỉ là kết hợp trong một vài năm đầu.
- Rừng rẫy luân canh: Trong chu trình CTNR truyền thống giai đoạn bỏ
hóa (fellow) là rất quan trọng để phục hồi độ phì của đất. Trong những năm
gần đây thuật làm giàu (enricher fellow) được áp dụng rộng rãi và có thể chia
thành 2 phương án: Một là, bỏ hóa làm giàu kinh tế, nghĩa là làm tăng giá trị
kinh tế của thảm thực vật hữu canh bằng cách trồng thêm các cây gỗ có giá trị
hàng hóa và cây lương thực, thực phẩm khác; ví dụ MH trồng Song Mây ở
Luangan Dayaks của (Weistock, 1984), trồng cây gỗ đa mục đích xen ruộng
bậc thang ở Ifugao ở Phippin (Conklin, 1980). (theoVũ Biệt Linh, Nguyễn
Ngọc Bình, 1995). Hai là bỏ hóa làm giàu sinh học nghĩa là tăng khả năng cải
tạo đất của thảm thực vật hữu canh bằng các cây cải tạo đất.
- Trồng xen theo đường băng (alley cropping): Là một kỹ thuật canh
tác NLKH trong đó có cây họ đậu cố định đạm mọc nhanh, được trồng thành
hàng và theo đường đồng mức, giữa hai hàng cây này người ta canh tác cây
nông nghiệp. Kỹ thuật này được nghiên cứu tại Viện Nông Nghiệp Nhiệt đới
Nông - Lâm - Súc kết hợp. Cơ cấu SDĐ thích hợp ở đây là 40% diện tích
12
dành cho nông nghiệp, 20% cho cây lâm nghiệp, 20% cho chăn nuôi, 20%
làm nhà và chuồng trại.
+ Mô hình SALT 3 (Sustainable Agro-Forest Land Technology): Kỹ
thuật canh tác Nông - Lâm kết hợp bền vững. Đây là mô hình SDĐ tổng hợp
dựa trên cơ sở kết hợp trồng rừng quy mô nhỏ với việc sản xuất lương thực,
thực phẩm. Cơ cấu SDĐ thích hợp ở mô hình này là 40% diện tích dành cho
nông nghiệp, 60% dành cho cây lâm nghiệp, MH này đòi hỏi đầu tư cao cả về
nguồn lực và vốn liếng cũng như sự hiểu biết.
+ Mô hình SALT 4 (Small Agro-Fruit Livehood Technology): Kỹ thuật
sản xuất nông lâm nghiệp với cây ăn quả kết hợp với quy mô nhỏ. Đây là mô
hình SDĐ tổng hợp được xây dựng trên cơ sở hoàn thiện những mô hình nói
trên. Cơ cấu SDĐ dành cho lâm nghiệp 60%, dành cho nông nghiệp 15% và
dành cho cây ăn quả là 25% diện tích. Đây là MH đòi hỏi đầu tư cao về nguồn
lực, vốn, kiến thức và kinh nghiệm.
Nhiều nước trên thế giới đã áp dụng hệ thống canh tác này:
Ở Malaysia mô hình canh tác kết hợp chăn nuôi Gà và Cừu dưới rừng
Cao Su và cây họ dầu, đã tăng thêm nguồn thu nhập từ thịt, mỡ và tăng lượng
phân bón cho đất, giảm công làm cỏ.
Ở Braxin, mô hình canh tác cây Syzygium aromeficum được trồng kết
hợp với cây Hồ Tiêu đen (pipennnigrun), trong 25 năm trở lại đây đã trồng
trên 500ha, có 50% diện tích đang cho thu hoạch. Ở miền nam Brazil có
khoảng 30000 ha cây Cao Su trong đó có 2000 ha cây cao su trồng kết hợp
với kakao theo phương thức bố trí 2 hàng Kakao có 2 hàng Cao Su.
Ở Thái Lan để SDĐ hiệu quả, nhà nước đã có chủ trương phát triển
theo mô hình NLKH, kết quả đã thành công trong các nông trường trồng Ngô,
Dứa ở vùng Hang Khoai, tạo ra các khu rừng hỗn giao gồm nhiều tầng: Rừng
hưng thịnh nhất của nền nông nghiệp DC của thế kỷ XX. Người dân DC tự
do phát nương làm rẫy, khai thác các sản phẩm từ rừng nên đời sống của
14
đồng bào no đủ, ở giai đoạn này đã có những bản làng định cư từ lâu và
đến thời điểm này không còn chịu sự bóc lột của thực dân phong kiến nữa
nên đã có sự phát triển đáng kể trong đời sống, văn hoá tinh thần nhất là
một số tỉnh miền núi phía bắc như Hoà Bình, Sơn La…Mặc dù canh tác
DC ở giai đoạn này phát triển cực thịnh, nhưng chưa ảnh hưởng nhiều đến
rừng. Đặc điểm canh tác ở giai đoạn này là thời gian bỏ hoá dài và rừng
quanh bản làng được quản lý tập thể theo hình thức cộng đồng với các luật
tục riêng. Mỗi bản làng có cách quản lý rừng như hình thức "rừng ma"
hoặc "rừng thiêng", nơi cấm khai thác, săn bắn, đốt nương làm rẫy. Đó
chính là những khu rừng đầu nguồn bảo vệ cuộc sống của họ. Canh tác DC
vẫn được đảm bảo nghiêm ngặt những kỹ thuật cổ truyền và đảm bảo thời
gian bỏ hoá tương đối dài. Võ Đại Hải (2003).
Sang giai đoạn 1960 -1980 là giai đoạn sau cải cách ruộng đất, đi
vào làm ăn tập thể. Ở thời kỳ này, chính sách chung của Nhà nước là hạn
chế phá rừng làm NR, tập trung khai phá ruộng nước nên đã hạn chế
được việc DC. Năm 1967 thực hiện chính sách của Nhà nước về việc
vận động đồng bào dân tộc miền núi ĐCĐC, đồng bào miền xuôi đi xây
dựng vùng kinh tế mới, cùng với việc mở rộng diện tích ruộng bậc thang
để trồng lúa nước đã làm tăng sản lượng lúa nước và khuyến khích khai
hoang trồng cây công nghiệp và cây ăn quả lâu năm ở vùng núi. Một loạt
các nông trường và lâm trường quốc doanh đã được thành lập. Tuy
nhiên, dân số tăng nhanh, đời sống đồng bào trở nên khó khăn, thiếu đói
hơn giai đoạn trước. Thiếu lương thực đồng bào quay lại phá rừng làm
NR, nạn phá rừng diễn ra khá mạnh và bắt đầu gây ra sự mất cân bằng
chính sách giao đất nông, lâm nghiệp về giao quyền SDĐ lâu dài cho
16
người dân, đã khuyến khích người dân đầu tư vào sản xuất, tự giác làm
ăn, học hỏi kinh nghiệm sản xuất của nhau, không ỉ lại trông chờ vào
nhà nước và vì vậy người dân miền núi cũng phải bước vào guồng quay
của cơ chế đổi mới này. Những mô hình NLKH ra đời dần thay thế cho
CTNR truyền thống, bước đầu mang lại hiệu quả kinh tế, dần dần cải
thiện đời sống của một bộ phận dân cư miền núi. Tuy nhiên với điều
kiện đặc biệt và khó khăn như ở các vùng miền núi nước ta thì không
phải mọi người đều nhanh chóng bắt kịp và chuyển đổi cách làm ăn. Nói
chung nhiều đồng bào không có đủ điều kiện và để đảm bảo cuộc sống,
họ vẫn phải tiếp tục DC, cho dù họ biết rằng DC không những không
đảm bảo được cuộc sống mà còn làm suy thoái nguồn tài nguyên vốn
đang dần cạn kiệt, ngăn cản sự tái tạo lại rừng do thời gian bỏ hóa quá
ngắn (2- 3 năm) và làm xuống cấp môi trường nhưng họ vẫn phải làm vì
không còn cách lựa chọn nào khác. (Võ Đại Hải, 2003)
Ở Việt Nam CTNR đang là vấn đề rất được quan tâm và có rất
nhiều công trình nghiên cứu về CTNR.
Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội phối hợp với Viện Khoa
học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam (VASI) và trung tâm Quốc tế
nghiên cứu về NLKH (ICRAF) đã tiến hành tổ chức hội thảo về "Kinh
nghiệm quản lý đất bỏ hoá sau NR ở Việt Nam tại thị xã Bắc Kạn. Hội
thảo đã báo cáo các chương
trình nghiên cứu về quản lý đất bỏ hoá sau NR ở Việt Nam. Trong đó có
các báo cáo công trình nghiên cứu như:
Các tác giả Phạm Xuân Hoàn, Ngô Đình Quế (theo Trần ĐứcViên,
2001), nghiên cứu khả năng phát triển cây Quế trên đất NR ở Yên Bái và