PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm trở lại đây Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến sự
phát triển kinh tế, văn húa, xã hội ở các vùng nông thôn, vùng sõu…đặc biệt là
vùng nông thôn miền núi.Với vùng nông thôn miền núi các chính sách đưa ra đều
hướng tới việc nâng cao hiệu quả kinh tế, chất lượng cuộc sống của người dân và
xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái. Vì vậy, việc phát triển các hệ thống canh
tácmang lại hiệu quả trên nhiều mặt ở các tỉnh miền núi đã và đang là vấn đề cấp
thiết.
Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế - xã hội – môi trường và hiệu quả tổng hợp
của các hệ thống canh tác tại miền núi có sự khác nhau và phụ thuộc nhiều vào
việc chọn lựa các hệ thống canh tácthích hợp với điều kiện từng vùng. Nếu việc
chọn lựa các hệ thống canh tác chỉ tính đến hiệu quả kinh tế - xã hội mà không tính
đến hiệu quả môi trường thì dễ dẫn đến làm cạn kiệt nguồn tài nguyên ở khu vực
đó. Ngược lại, nếu chỉ xét đến hiệu quả môi trường mà không chú ý đến hiệu quả
kinh tế - xã hội thì việc nâng cao mức sống của người dân và phát triển kinh tế
vùng là điều khó có thể thực hiện được. Trên thực tế, ở các vùng sản xuất NLN,
hiện tượng xói mòn rửa trôi trên các vùng đất dốc diễn ra rất mạnh làm đất đai
nghèo dinh dưỡng làm giảm khả năng canh tác dẫn đến năng suất cây trồng cũng
giảm dần, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và kinh tế của người dân.
Việc phát triển các hệ thống canh tácđang là một hướng đi có triển vọng ở
miền núi Việt Nam, nhằm giải quyết đa dạng các nhu cầu về sản phẩm NLN; các
hệ thống canh tác còn tỏ ra có hiệu quả hơn hẳn các lối canh tác truyền thống như
độc canh, du canh bỏ húa…trước đây.
Cao Sơn là một xã miền núi, nằm trong vùng phòng hộ hồ thủy điện Hũa
Bình thuộc huyện Đà Bắc, tỉnh Hũa Bình đã và đang được phát triển nhiều hệ
thống canh tác khác nhau. Song, các hệ thống canh tác này được xây dựng dựa trên
việc khai thác và sử dụng đất đai bằng những kinh nghiệm
sẵn có và với trình độ hạn chế, nên hiệu quả của các hệ thống canh tácthấp. Cho
đến nay, ở xã Cao Sơn, huyện Đà Bắc, tỉnh Hũa Bình vẫn còn thiếu những nghiên
Hệ thống là một tổng thể có trật tự các yếu tố khác nhau có quan hệ tác
động qua lại. Hệ thống không phải là một phép cộng đơn giản của các yếu tố, các
đối tượng mà là sự kết hợp hữu cơ giữa các yếu tố, các đối tượng. Mỗi hệ thống
bao gồm nhiều hệ thống nhỏ hợp thành, đến lượt mình nú lại là bộ phận cấu thành
của bộ phận lớn hơn.
Các yếu tố bên ngoài hệ thống nhưng có tác động tương tác với hệ thống
gọi là yếu tố môi trường. Những yếu tố môi trường tác động lên hệ thống gọi là
yếu tố đầu vào, những yếu tố môi trường chịu tác động trở lại của hệ thống gọi là
yếu tố đầu ra.
Trong thiên nhiên có hai loại hệ thống cơ bản:
- Hệ thống kín: Là hệ thống mà ở đó các yếu tố tương tác với nhau trong phạm vi
hệ thống
- Hệ thống mở: Là hệ thống mà ở đó các yếu tố tương tác với nhau giữa các yếu tố
đầu vào và đầu ra, giữa yếu tố bên trong và bên ngoài.
Hiện nay nghiên cứu hệ thống có hai phương pháp cơ bản:
- Nghiên cứu hoàn thiện hoặc cải tiến một hệ thống đã có sẵn. Thông qua phương
pháp phân tích hệ thống nhằm tìm ra điểm hẹp hay chỗ thắt lại của hệ thống cần
được sửa chữa, khai thông để hệ thống hoàn thiện hơn, hoạt động có hiệu quả hơn.
- Nghiên cứu xây dựng hệ thống mới, phương pháp này mang tính chất vĩ mô đòi
hỏi phải có sự tính toán, cân nhắc kỹ càng.
2.1.2. Lý thuyết về hệ thống nông nghiệp
Nông nghiệp đã gắn bó với con người từ hàng vạn năm nay, nú là ngành
quan trọng sản xuất ra vật chất duy trì và phát triển xã hội loài người. Ngày nay,
khái niệm hệ thống nông nghiệp đã trở lên phổ biến và nhìn từ
nhiều góc độ khác nhau thì việc áp dụng vào nghiên cứu phát triển nông nghiệp ở
mỗi nước là có sự khác nhau.
Theo Phạm Chí Thành và cộng sự, 1969 [6] đến nay đã có một số định
nghĩa về hệ thống nông nghiệp như sau:
- Hệ thống nông nghiệp là sự biểu hiện không gian của sự phối hợp các ngành sản
Khái niệm về HTCT:
HTCT là sự bố trí một cách thống nhất và ổn định các ngành nghề trong nông trại,
được quản lý bởi hộ gia đình trong môi trường tự nhiên, sinh học và kinh tế xã hội,
phù hợp với mục tiêu, sự mong muốn và nguồn lực của hộ.
- Yếu tố sinh học: Là bao gồm các cây trồng, vật nuôi được canh tác để thoả
mãn mục tiêu, sự mong muốn và nguồn lực của hộ.
+ Hệ phụ trồng trọt: Hệ phụ trồng trọt là một phần chủ yếu của HTCT, nói đến
trồng trọt là nói đến cây trồng vì vậy hệ thống cây trồng lại là bộ phận quan trọng
của hệ phụ trồng trọt, là trung tâm của hệ phụ trồng trọt.
+ Hệ phụ chăn nuôi: Là bao gồm tổng hợp các khâu kỹ thuật từ chọn giống đến
thức ăn, chế biến sản phẩm, …Hệ phụ này có quan hệ chặt chẽ đến trồng trọt,
chúng tác động qua lại với nhau nhằm thoả mãn mục tiêu và nhu cầu của nông hộ
sao cho sự tác động đó đem lại hiệu quả về mọi mặt là cao nhất.
- Yếu tố tự nhiên: Bao gồm các yếu tố quan trọng là khí hậu, đất và nước,
các yếu tố này có ý nghĩa quyết định đến việc hình thành vùng sinh thái nông
nghiệp, từ đó bố trí cây trồng, vật nuôi phù hợp.
- Yếu tố kinh tế, xã hội: Là những yếu tố như tín dụng, thị trường, các phong
tục tập quán trong đời sống cũng như trong canh tác, các yếu tố này ảnh hưởng rất
lớn đến hoạt động của các HTCT.
- Người nông dân: Là người trực tiếp tạo ra sản phẩm, có tác động lớn đến
hiệu quả của các HTCT.
Như vậy, tất cả các yếu tố của HTCT có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Khi
một yếu tố thay đổi sẽ dẫn đến các yếu tố khác thay đổi và dẫn đến hệ thống thay
đổi theo.
Theo H.G. Zandstra HTCT là một khái niệm chưa được phổ cập, phải phõn
biệt nó với việc nghiên cứu nông học, quản lý tài nguyên hay hệ thống nông
nghiệp. Nghiên cứu HTCT nhằm tăng lợi nhuận sản xuất cõy
trồng từ những tàinguyên thiên nhiên sẵn có, lấy hệ thống cõy trồng làm
biến số, đó là hoạtđộng bịgiới hạn trong ngành trồng trọt vàđượcđặt trong
thường chiếm tới 50 -60% trong tổng
số đất nông nghiệp được khai thác. Đất nông nghiệp ở vùng đồi núi thực chất là
vấn đề nghiên cứu canh tác trên đất dốc, nghiên cứu mối quan hệ giữa HTCT với
vấn đề xói mòn, rửa trôi[5].
- HTCT Taungya (Taungya System): Được bắt đầu ở Mianma vào những năm
1856. Nhà nước đã cho trồng rừng gỗ tếch kết hợp trồng lúa cạn, ngô trồng hai
năm đầu khi rừng chưa khép tán. Mục tiêu chính của hệ thống canh tác này là khôi
phục lại rừng bị tàn phá, sản xuất lương thực là thu nhập phụ. Đây là dạng mô hình
chuyển tiếp từ canh tác nương rẫy sang canh tác nông lâm kết hợp[15].
- Theo Blanford 1958, Taungya là một từđịa phương của ngôn ngữ Myanma:
“Taung” nghĩa là canh tác, “ya” làđồi núi. Đõy là một phương thức canh tácđược
phát triển dựa trên hệ thống “Waldfeldbau” nổi tiếng của ngườiĐức, trong đó bao
gồm canh tác các cõy nông nghiệp ở ngay tại rừng. Vào khoảng những năm 50
của thế kỷ XIX, ẤnĐộđã sử dụng hệ thống nàyđể tái sinh,
phục hồi lại rừng trênđấtđã khai hoang bằng cách gieo
hạt Tếch kết hợp với trồng hoa màu của nông dõn. Một cách khái quát, Taungya
là một HTCT mà trong đó bao gồm sự kếthợpđồng thời của hai thành phần (cõy
nông nghiệp và cõy lõm nghiệp) trong những giai đoạnđầu tiên của quá trình
hình thành rừng trồng, đổi lại họ phải giữgìn rừng non, sau vài năm khi
rừng khép tán, hoa màu không thể trồngđược nữa, họ sẽ di chuyển sang khu
vực khác nếu quỹđất cũn cho phép. Như vậy, sản phẩm gỗ là mục tiêu
cuối cùng trong
Taungya nhưng động lực thỳcđẩy trước mắt với thực tiễn là sản xuất lương
thực(Phạm Quang Vinh và các tác giả, 2005)[15].
- HTCT trong nông trại: Dân tộc Infugao (Philippin) biết canh tác lúa nước ở ruộng
có hệ thống tưới nước, kết hợp trồng cây gỗ để lấy củi, cây ăn quả, cây thuốc. Hệ
thống này giữ được nước và chỗng xói mòn, sạt lở đất, đảm bảo tính bền vững[15].
- HTCT trong nông lâm kết hợp: Đa dạng theo nhiều phương thức trồng và mật độ
khác nhau được áp dụng rộng rãi ở Miền Trung và Bắc của Trung Quốc. Cây đa
Nigờria loài cây này được coi là cây có khả năng rút ngắn thời gian bỏ hóa xuống
và có thể thâm canh và phát triển ổn định trên đất nương rẫy. Làm giàu đất canh tác
sau nương rẫy ở Peruvian Amazon đặc điểm chung của các hệ thống cây trồng trên
đất này là khi chặt cây - đốt rẫy các loại cây có giá trị kinh tế được chọn để lại hoặc
được trồng xen với các loại cây lương thực trong thời gian canh tác nhằm mục đích
làm giàu nương bỏ hóa sau khi kết thúc chu kỳ canh tác.
Một số chương trình khoa học của Liên hợp quốc đang cho ứng dụng một
chế độ canh tác hợp lý trên đất dốc theo hệ thống nông lâm kết hợp. Theo hướng
này việc trồng cây rừng, cây nông nghiệp (hoa màu, cây công nghiệp, cây ăn quả)
và phát trỉờn chăn nuôi trên cùng một mảnh đất dốc phù hợp với điều kiện sinh thái
và cho hiệu quả kinh tế cao rất được chú trọng.
Ngày nay, mạng lưới nghiên cứu HTCT đã thu hút nhiều quốc gia
trồng lúanhư Banglader, Miếnđiện, Ấnđộ, Indonesia, Malaisia, Nepan, Philippin,
Triềutiên, Srilanca, Thailan, Việt Nam tham gia nghiên cứu. Hệ thống canh
tác là một tổhợp cõy trồng trong không gian và thời gian của 1 vùng khí hậu,
thổ nhưỡngđặcthù, trong mộtđiều kiện kinh tế xó hội nhấtđịnh[18].
2.2. 2. Ở Việt Nam
Trong những năm gần đây, các nhà khoa học trong nước đã không ngừng
nghiên cứu, áp dụng các hệ thống đã được nghiên cứu ở nước ngoài
nhằm tìm ra các hệ thống phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội, điều kiện tự nhiên
từng vùng của nước ta. Sử dụng tốt các nguồn lợi và các mối quan hệ của sinh thái
với hiệu quả đầu tư là cao nhất nhằm phát triển sản xuất của HTCT vùng đất
trũng, HTCT vùng ven biển, HTCT vùng đồi gò, vùng núi cao.
Theo quan điểm hệ thống thì hệ thống nông
nghiệp ViệtNam có các hệphụ: Trồng trọt, chăn nuôi, chế biến và ngành nghề,
hệ phụ VAC (Đào Thế Tuấn, 1987) [8]
Người ta đã nhận thứcđược rằng vấn đề phát triển nông nghiệp trong
tương lai cần có kế hoạch lõu dài, kết hợp giữa sản xuất nông nghiệp và bảo vệ tài
nguyên thiên nhiên đểđảm bảo thực sự tớnh bền vững và phát triển [9]. Cần tiến
4.3.1.1. Chi phí
Chi phí cho cõy lõm nghiệp bao gồm từ khõu mua cõy giống, vật tư(cuốc,
xẻng, dao phát, quang gánh, xảo, phõn NPK) đến khõu trồng (xử lý thực bì,đào hố,
lấp hố…) tiếpđó là khõu chăm sóc, bảo vệ và khai thác. Các chỉ tiêu tính toánđều
dựa vào số liệu thực tếđã thu nhập, kết hợp vớiđối chiếuđịnh mức kinh
tếkỹ thuật trồng rừng.
Chi phí cho cõy nông nghiệp trong PTCT cũng tương tự như với cõy lõm
nghiệp. Tuy nhiên, trên thực tế cõy nông nghiệpđược trồng xen cùng với cõy lõm
nghiệp từ 1 đến 3 năm đầu (tớnh cả năm trồng rừng) do đó chi phí về phõn
búncũng có cả phần của cõy lõm nghiệp mang lại.
Qua điều tra kết hợp với phỏng vấn, số liệu về chi
phí thu được của cácPTCT ở phụ biểu 12, 13, 14, 15, 16.
4.3.1.2. Thu nhập
Nguồn thu từ cõy lõm nghiệp bao gồm sản phẩm khai
thác chớnh là gỗ vàthu cõy. Đối với Luồng là cõy sinh trưởng hàng năm nên
nóđược thu hoạch vào mỗi năm trong suốt chu kỳ kinh doanh; trong mộtđến hai
năm đầu thì người ta thường thu măng, đến năm thứ ba người ta thu hoạch cả cõy
luồng. Cũnđối vớiloài Keo thì sản phẩm khai thác là gỗ Keo được thu hoạch vào
năm cuối của chu kỳ kinh doanh (ởđõy là năm thứ 7). Ngoài ra các sản
phẩm tỉa thưa và ngọn lá. Nhưng thực tế người dõn ởđõy rấtít khi lên rừngNhư vậy, nếu xét theo chỉ tiêu NPV thì cao nhất là HTCT NLKH,
trong đóPTCT 4 (NPV = 29. 164. 109 đồng) được xếp ở vị trí thứ 1,
cũn xếp ở vị trí thứ 5 là PTCT 2 (NPV = 976. 999 đồng).
4.3.1.4. Tỷ suất giữa thu nhập và chi phí (BCR)
BCR thể hiện tương quan giữa thu nhập và chi phíđầu tư cho từng PTCT
có nghĩa là nó cho biết thu nhập trên mộtđơn vị chi phí sản xuất trong các HTCT
nghiên cứu, PTCT nào có BCR cao thì PTCT đó mang lại hiệu quả kinh
tế cao, đócũng là căn cứđể xếp loại các PTCT. Kết quả tớnh toán xếp
- Khả năng phát triển sản xuất hàng hoá: là tiềm năng
của loại sản phẩm đó cóthểđược tiêu thụ nhanh chóng trên
thị trường vàđápứng nhu cầu của thị trường.
b.Kết quả đánh giá cho điểm hiệu quả xã hội của các PTCTQua bảng cho thấy có PTCT được người dân đánh giá cao,nhưng cũng có
PTCT được người dân đánh giá thấp. Điều đó xuất phát từ một số nguyên nhân
sau:
PTCT 4 (Luồng – ngô – đót xen trong 2 năm đầu) được đánh giá cao vì vốn
đầu tư không cao, phù hợp phong tục tập quán vì từ lâu nú đã được trồng tại địa
phương. Ngoài ra sản phẩm bán ra được tiêu thụ trên thị trường và cũng giải quyết
được phần lớn lao động tại địa phương vì trong 2
năm đầu cần rất nhiều laođộngđể trồng cõy, chăm sóc, thu hoạch. . . Do
tớnh thời vụ cấp thiết trong mùa thu hoạch măng chỉ kéo dài khoảng 2 tháng là thu
hoạch xong nên một số hộ khi thu hoạch phải thuê thêm lao động.
Mặt khác, Luồng là cây phù hợp với điều kiện tự nhiên, sinh trưởng và phát triển
nhanh, chi phí đầu tư thấp vì giống được cấp. Luồng ngoài sản phẩm chính là thu
măng còn cho sản phẩm phụ đó là cây được sử dụng trong xây dựng, giấy…. Trên
thị trường măng Luồng được tiêu thụ khá dễ dàng. Cũng giống như Keo, Luồng
cũng có thể thực hiện NLKH trong 2 đến3 năm đầu khi chưa cho thu măng. Do vậy
PTCT này được người dân đánh giá cao hơn hẳn PTCT 2 và 3 vì khi cho thu hoạch
sản phẩm thì ổn định hàng năm, ít mất mùa, ít sâu bệnh…
PTCT 5 (Luồng – lúa nương xen 2 năm đầu): PTCT được người dân đánh
giá rất cao (xếp thứ 2) xuất phát từ nguyên nhân sau: lúa là loại cây
trồng đượcngười dõn trồng từ rất lõu đời, tận dụng tối đa diện tích đất dốc, đất
NLKH….Mặtkhác, diện tích trồng lúa của xóít, lương thực cung cấp cho
người dõn không đủnên sản phẩm này có giá bán ổn định và rất dễ tiêu
thụ. Ngoài ra, luồng là cõy cho thu hoạch hàng năm, nên
đó giải quyếtđược những nhu cầu trước mắt của ngườidõn địa phương.
phải sử dụng nhiểu phân hóa học trong quá trình canh tác. Ngoài ra, cõy sắnđộ che
phủ cũng thấp, chỉ trồng 1 vụ trong năm,
NLKH là cao nhất), chúng có tính thích ứng và bền vững cao, có tiềm năng lớn.
Mặt khác, HTCT nương rẫy đang tồn tại những nhược điểm rất lớn đó là HTCTnày
phụ thuộc vào thiên nhiên nên năng suất không ổn định. Nền sản xuất độc canh với
một loài cây, một loại tuổi làm cho độ phì của đất giảm nhanh theo thời gian canh
tác, nguy cơ thoái hoá đất lớn. Xét về mặt tài nguyên rừng, canh tác nương rẫy là
nguyên nhân chính của việc mất rừng, đốt nương làm rẫy bừa bãi, khó kiểm soát,
không đáp ứng được mục tiêu phòng hộ rất xung yếu của vùng hồ.Cho nên, có thể
chuyển hoá nương rẫy hiện có thành HTCT NLKH ở địa bàn nghiên cứu, với một
số giải pháp kỹ thuật tác động chủ yếu sau:
- Chọn đối tượng nương rẫy để chuyển hoá thành hệ NLKH.
Nơi có độ dốc dưới 15
0
và độ xốp tầng đất mặt từ 40 % trở lên thì cho phép
canh tác nương rẫy.
Nơi có độ dốc mặt đất từ 15
0
- 35
0
và độ xốp tầng đất mặt từ 30 – 40% trở lên
là đối tượng cần chuyển hoá nương rẫy thành HTCT NLKH.
Nơi có độ dốc trên 35
0
thì cần bảo vệ rừng tự nhiên (có thể cho phép khai
thác) mà không thích hợp cho việc xây dựng HTCT NLKH, nhưng có thể xây dựng
HTCT NLKH như một giai đoạn trung gian để tiến tới duy trì rừng tự nhiên.
Ngoài các giải pháp đã đề xuất ở trên cho từng HTCT, tôi xin đề xuất một số
giải pháp chung cho các HTCT, gồm:
- Tiếp tục hỗ trợ nguồn vốn thuộc các chương trình trọng điểm của nhà nước như
chương trình 135 về xoá đói giảm nghèo, chương trình 472 cho các xã vùng lòng
hồ Sông Đà – Hoà Bình, chương trình 661/CP, lồng ghép các dự án trên địa bàn,
tạo vốn lớn, đủ nguồn kinh phí tạo bước đột phá trong sản xuất lâm nghiệp, ổn
định kinh tế xã hội và xây dựng cơ sở hạ tầng [1].
- Hiện nay, suất đầu tư cho 1 ha trồng rừng phòng hộ vẫn còn quá thấp. Suất đầu tư
cho trồng rừng trước năm 2003 là 2, 5 triệu đồng/ha, sau năm 2003 là 4
triệu đồng/ha. Chính vì suất đầu tư thấp làm cho giá công nhân còn quá rẻ, giá
công nhân dao động trong khoảng 11. 000 – 12. 000 đồng/ công (trước năm 2003),
từ sau năm 2003 mới tăng lên 19. 400 đồng – 20. 000 đồng/ công vẫn là qỳa thấp
so với giá cả thị trường, trong khi những công lao động phổ thông khác đã lên tới
mức 30. 000 – 40. 000 đồng/cụng. Trong khi trồng rừng là một công việc khó khăn
và vất vả, giá nhân công thấp không đủ bù đắp sức lao động bỏ ra nên vẫn chưa thu
hút được nhiều người dân tham gia trồng rừng một cách tích cực, chính một phần
do giá nhân công thấp đã làm cho người dân không thực hiện theo thiết kế trồng
rừng, làm ảnh hưởng đến chất lượng rừng trồng. Do đó đòi hỏi nhà nước cần tăng
suất đầu tư để người dân làm nghề rừng, hỗ trợ nguồn giống, hỗ trợ kỹ thuật…[13].
4. 5. 2. 3. Giải pháp về chính sách
- Cần có những chính sách cụ thể để tạo lập vốn theo phương châm huy động vốn
từ nhiều nguồn khác nhau như vốn xoá đói giảm nghèo, vốn của dự ỏn…Trong cơ
cấu vốn đầu tư phải có tỷ lệ cho phát triển sản xuất NLN.
- Nên áp dụng thời hạn cho vay theo chu kỳ kinh doanh của từng loài cây trồng.
Những cây có chu kỳ khai thác hàng năm có thể có thời hạn cho vay ngắn, những
loài cây cho sản phẩm muộn, có thời hạn ưu tiên dài hơn. Ngoài ra, lãi suất cho vay
phải phù hợp với điều kiện kinh tế của người dân ở địa phương.
- Nên nghiên cứu để lập các quỹ bảo hiểm sản xuất để nhằm hạn chế các thiệt hại
khi gặp rủi ro trong quá trình sản xuất như thiên tai, mất mùa, mất giỏ…
- Có chính sách ưu đãi về vốn vay để phát triển sản xuất cây có chu kỳ kinh doanh
dài như cây lâm nghiệp hay một số cây đặc sản.
- HTCT NLKH
+ PTCT 4: Luồng – ngô – đút xen 2 năm đầu
+ PTCT 5: Luồng – lúa nương 2 năm đầu
* Chúng tôi căn cứ vào cấu trúc hiện có của các HTCT mà cụ thể là cấu
trúc của từng PTCT kết hợp với hiệu quả tổng hợp về các mặt kinh tế, xã hội, môi
trường để đề xuất ra PTCT có thể sử dụng để nhân rộng vì tính thích ứng cao của
nú đối với điểm nghiên cứu. Qua điều tra, nghiên cứu, đánh giá có sự tham gia của
người dân cho thấy ở các HTCT NLKH cho hiệu quả tổng hợp cao nhất so với 2
HTCT còn lại. Trong đó, 2 PTCT của HTCT NLKH được đánh giá cao và đề xuất
nhân rộng là:
- PTCT 4: : Luồng – ngô – đút xen 2 năm đầu
- PTCT 5: Luồng – lúa nương 2 năm đầu
*TrongcácHTCTnghiêncứuthìchúngtôinhậnthấyPTCTLuồng–ngô–
đútxen2nămđầuchohiệuquảkinhtếcaonhất,thấpnhấtlàPTCTKeo–ngôxen3nămđầu.
*TrongcácHTCTnghiêncứuthìchúngtôinhậnthấyPTCTLuồng–ngô–
đótxen2nămđầuchohiệuquảkinhtếcaonhất,thấpnhấtlàPTCTKeo–ngôxen3nămđầu.
* PTCT Luồng – ngô – đút là PTCT có hiệu quả xã hội cao nhất, thấp nhất
là PTCT Luồng thuần loài vì sản phẩm thu được không đa dạng.
* Với hiệu quả môi trường thì PTCT Luồng – lúa nương 2 năm đầu được
đánh giá cao nhất, thấp nhất là PTCT Keo – ngô xen 3 năm đầu và Keo - sắn xen 3
năm đầu.
* Hiện nay, ở điểm nghiên cứu vẫn còn tồn tại PTCT độc canh (PTCT luồng
thuần loài) đem lại hiệu quả kinh tế thấp và làm ảnh hưởng đến môi trường.
5.2. Tồn tại
- Luận văn chỉ đi sâu nghiên cứu các HTCT nên chưa nghiên cứu các nhân tố ảnh
hưởng đến các HTCT theo thời gian.
5.3. Kiến nghị
- Để phát triển các HTCT bền vững thì người dân phải biết kết hợp các loại cây
trồng sao cho phù hợp với điều kiện của địa phương, và đáp ứng được
hình 12
3.2.3. Điều tra hiệu quả của hệ thống canh
tác 12
3.2.4. Đề xuất một số giải pháp kỹ thuật nhằm cải thiện
cấu trúc và nâng cao hiệu quả của từng hệ thống canh
tác. 12
3.3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 12
3.3.1. Đối tượng nghiên cứu 12
3.3.2. Phạm vi nghiên cứu 13
3.4. Phương pháp nghiên cứu 13
3.4.1. Thu thập tài liệu thứ cấp 13
3.4.2. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 13
3.4.3. Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của
người dân (PRA) 13
3.4.4. Lựa chọn các HTCT điển hình 16
3.4.5. Phương pháp lập ô tiêu chuẩn và đo đếm các chỉ
tiêu cần đánh giá 16
3.4.6. Phương pháp đề xuất các giải pháp 17
3.4.7. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 17
PHẦN IV 20
KẾT QUẢ NGHIấN CỨU VÀ THẢO LUẬN 20
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của điểm nghiên
cứu 20
4.1.1. Điều kiện tự nhiên 20
4.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội 23
4.1.3. Kết quả điều tra hiện trạng sử dụng đất của xã
Cao Sơn 26
4.1.4. Kết quả điều tra theo tuyến
lát cắt và lịch mùa vụ của một số loạicõy trồng trong
HTCT 27