BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
--------------------------------------------------
PHẠM QUANG TUYẾN
LẬP BIỂU THỂ TÍCH, CẤP ĐẤT VÀ SẢN LƯỢNG CHO THÔNG
BA LÁ (PINUS KESIYA ROYLE EX.GORDON) Ở HÀ GIANG
CHUYÊN NGÀNH LÂM HỌC
MÃ SỐ: 60.62.60
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: 1. PGS.TS. TRẦN VĂN CON
2. TS. PHAN MINH SÁNG
Hà Nội, 2010
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
--------------------------------------------------
PHẠM QUANG TUYẾN
Cuối cùng xin bày tỏ lòng biết ơn đến tất cả bạn bè đồng nghiệp và người
thân đã giúp đỡ tôi có được bản luận văn này.
Tác giả rất vui lòng nhận được những góp ý, bổ sung của bạn đọc để bản
luận văn được hoàn chỉnh hơn nữa.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, tháng 09 năm 2010
Tác giả
Phạm Quang Tuyến
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bảng biểu điều tra trong kinh doanh rừng có vai trò và vị trí đặc biệt đối với
sản xuất lâm nghiệp không chỉ bởi khả năng ứng dụng: tính thuận tiện, tính khoa
học, tính chính xác... mà còn do khả năng dự báo sản lượng, năng suất rừng trong
tương lai. Với vai trò to lớn đó, các bảng biểu điều tra đã được nhiều nước tiên tiến
ở châu Âu, châu Mỹ vận dụng vào việc kinh doanh rừng từ thế kỷ XIX. Trong
những vừa năm qua, thực hiện chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng, diện tích
rừng trồng nước ta ngày một tăng, cơ cấu các loài cây trồng ngày một nhiều như:
Thông bá lá, Thông mã vĩ, Thông nhựa, Keo tai tượng, Keo lá tràm, Keo lai, Mỡ,
Bồ đề, Sa Mộc, Tếch, Quế, Bạch đàn Uro,... hàng loạt các bảng biểu điều tra đã
được xây dựng nhằm đáp ứng thực tiễn của sản xuất.
Tuy nhiên, do điều kiện thời gian, kinh phí còn hạn hẹp nên một số bảng biểu
mới chỉ được xây dựng và áp dụng cho một vùng, một địa phương hoặc một chương
trình nào đó mà chưa xây dựng được cho phạm vi toàn quốc. Trong nghiên cứu xây
dựng bảng biểu điều tra có một điểm rất quan trọng là trong mỗi loài cây thì ở mỗi
vùng sinh thái lại có kiểu hình dạng riêng, kiểu sinh trưởng riêng, cấp năng suất
khác nhau,... Do đó, trong nghiên cứu lập biểu điều tra, việc thu thập số liệu phải
Trước yêu cầu của sản xuất trong việc kinh doanh rừng Thông ba lá ở Hà
Giang thì vấn đề đặt ra là: Các biểu điều tra rừng Thông ba lá đã lập cho vùng Tây
Nguyên có thể sử dụng cho rừng Thông ba lá ở Hà Giang không? Nếu sử dụng được
thì độ chính xác bao nhiêu? Hay phải phải xây dựng một số bảng biểu phù hợp với
điều kiện sinh thái ở địa phương? Vì vậy, để sử dụng biểu Thông ba lá đã được lập
cho vùng Tây Nguyên ứng dụng hiệu quả cho tỉnh Hà Giang và các địa phương ở
miền núi phía Bắc, chúng ta cần phải có những số liệu kiểm tra, điều chỉnh biểu
hoặc xây dựng mới trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu biểu điều tra rừng Thông
ba lá ở Tây Nguyên.
Từ những yêu cầu của thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Lập biểu thể tích, cấp đất và sản lượng cho Thông ba lá (Pinus kesiya Royle
ex.Gordon) ở Hà Giang”
3
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Ngoài nước
1.1.1. Nghiên cứu về lập bảng biểu điều tra rừng trên thế giới
Nghiên cứu sinh trưởng, năng suất rừng là nội dung chính của môn điều tra
và sản lượng rừng (Growth an yield study). Bộ môn khoa học này ra đời từ giữa thế
kỷ XVIII, gắn liền với tên tuổi của Oettelt (1765) và Paulsen (1787). Vào thời điểm
đó những nhu cầu về buôn bán gỗ, rừng dẫn tới sự ra đời của môn khoa học này.
Trong giai đoạn phát triển đầu tiên, sản lượng rừng chưa gắn với những quan điểm
sinh thái học. Việc nghiên cứu trên dần dần mới hoàn thiện và phát triển thêm
những bước mới (Trịnh Đức Huy, 1988).
Bảng biểu điều tra rừng ngày nay đã có những bước tiến rất quan trọng trong
việc ứng dụng vào việc kinh doanh rừng. Việc ứng dụng các bảng biểu: thể tích,
thương phẩm, biểu cấp đất,... vào kinh doanh rừng là một công cụ đắc lực khó có
trưởng cho rừng đồng tuổi (Trịnh Đức Huy., 1988) như sau:
* Tiếp cận toàn lâm phần (Whole stand):
Theo hướng này, ta có thể nghiên cứu mối quan hệ giữa các chỉ tiêu sinh
trưởng lâm phần như trữ lượng/ha, sản lượng/ha… với các nhân tố tạo thành nó như
tuổi lâm phần, chiều cao, đường kính bình quân lâm phần, tổng diện ngang/ha, mật
độ, chỉ số cấp đất …rất được quan tâm. Đầu thế kỷ XX, đã có những biểu sản lượng
được xây dựng bằng phương pháp đồ thị (Missellaneous Publication 50 - dẫn theo
Burkhart,1982). Phương trình tương quan nhiều biến số đầu tiên được Markiney và
Chaiken (1959) sử dụng để lập biểu sản lượng cho rừng thông Lobelly (dẫn theo
Burkhart, 1982).
* Tiếp cận theo phân bố kích cỡ ((Size class distribution):
Việc nghiên cứu phân phối trữ lượng rừng theo kích cỡ, thường áp dụng cho
cỡ đường kính. Hướng nghiên cứu này phát triển mạnh từ những năm 60 trở lại đây
với nhiều tác giả tiêu biểu như: Cluter (1967, 1971), Lekhart (1971, 1972), Burkhart
(1974)… Trên mỗi cỡ kính thì lấy các giá trị về chiều cao, thể tích, số cây… bằng
những quy luật tương quan hay thống kê trị số trung bình hoặc sử dụng các mẫu
5
biểu lập sẵn. Vấn đề cốt lõi của phương pháp nghiên cứu này là xác định được hàm
phân phối mật độ cho các cỡ đường kính trong quá trình vận động theo thời gian
của rừng.
* Tiếp cận theo cây cá lẻ (Invidual tree):
Một số tác giả đã tập trung vào nghiên cứu quy luật sinh trưởng của các cây đại
diện lâm phần như: cây trung bình, cây sinh trưởng tốt nhất,... từ đó, ta thấy rằng có
hai cách nghiên cứu cây đó là: xem như các cây sinh trưởng độc lập với nhau
(Distance independent) và có xem xét với các cây bạn trong lâm phần (Distance
dependent). Trong trường hợp thứ hai, mỗi cây được gắn một chỉ số cạnh tranh
(Conpettition index) và coi chỉ số này là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến
sinh trưởng của nó (Trịnh Đức Huy., 1988).
(1.5)
Trong đó y = biến cây hoặc lâm phần (chiều cao, đường kính hoặc thể tích); t =
tuổi; y’ = tăng trưởng; a, b, c và d = các tham số của phương trình; ln = hàm logarit
tự nhiên. Phương pháp xây dựng mô hình sinh trưởng, sản lượng trên thế giới đã
6
được giới thiệu chi tiết ở nhiều giáo trình về sản lượng rừng trong nước cũng như ở
nước ngoài (Alder, 1980; Amaro et al., 2003; Nguyễn Ngọc Lung & Đào Công
Khanh, 1999; Pretzsch, 2001; Pretzsch, 2009; Vũ Tiến Hinh, 2003).
1.1.1.3. Biểu cấp đất
Theo tổng hợp kết quả nghiên cứu ở các nước vùng nhiệt đới, tổ chức Nông
lương Thế giới (FAO, 2004) đã chỉ ra rằng, khả năng sinh trưởng của rừng trồng
(đặc biệt là rừng trồng nguyên liệu công nghiệp) phụ thuộc rất rõ vào 4 nhân tố chủ
yếu liên quan tới điều kiện lập địa đó là: Khí hậu, địa hình, loại đất và hiện trạng
thực bì, điển hình là các công trình nghiên cứu của Laurie (1974), Julian Evans
(1974), 1992) (Evans J.. 1974; Evans J.. 1992), Pandey (1983), Golcalves J.L.M và
cộng sự (2004).
Theo Alder (1980), Vanclay (1999, 2007), Pretzsch (2009), cấp đất – biểu thị
sức sản xuất của lập địa có thể được đánh giá bằng những phương pháp: 1) Dựa vào
các nhân tố lập địa; 2) Dựa vào các yếu tố thực bì (thực vật) và 3) Dựa vào các yếu
tố trung gian.
Theo Cajender (1962), việc phân loại đánh giá rừng bằng chỉ tiêu cấp đất
(Site Index) do Huber thực hiện lần đầu tiên ở nước Đức năm 1824. Đến đầu thế kỷ
XX, phương pháp này được phổ biến rộng rãi ở Châu Âu, rồi lan truyền sang Bắc
Mỹ. Phương pháp được đánh giá đơn giản và hiệu quả.
Từ khi Eichhorn (1904) phát hiện ra quy luật “Trữ lượng rừng là một hàm số
của chiều cao bình quân lâm phần”, thì phương pháp phân chia cấp đất được củng
cố cơ sở lý luận bền vững và chắc chắn (theo Assmann.E..- 1970). Nội dung chính
Grundner (1913), Schwappach (1893), Wiedemann, (1932) và Schober (1967). Đặc
điểm của thế hệ biểu sản lượng này là được xây dựng trên cơ sở thực nghiệm vững
chắc – với các thí nghiệm về biện pháp kỹ thuật lâm sinh (tỉa thưa) được đo đếm
lâu dài. Tuy nhiên, việc sử dụng biểu sản lượng này bị giới hạn trong phạm vi rừng
của các khu vực có ô đo đếm định vị.
Giai đoạn 3: Được bắt đầu từ Gehrhardt (1909, 1923), là thế hệ biểu sản
lượng được xây dựng từ việc sử dụng số liệu thực nghiệm kết hợp với các nguyên lý
lý thuyết và nguyên lý sinh trắc học. Phương pháp chủ yếu là xây dựng một hệ
8
thống phương trình trên cơ sở số liệu đủ lớn nhằm mô phỏng tốt nhất có thể các quy
luật sinh trưởng tự nhiên để từ đó dự đoán cấp đất và sản lượng. Một số tác giả tiêu
biểu là Assmann và Franz (1963), Hamilton and Christie (1973, 1974), Vuokila
(1966), Schmidt (1971) và Lembcke et al. (1975). Thế hệ biểu này có nhiều tiến bộ
hơn so với hai thế hệ trên, nhưng về cơ bản việc dự đoán sản lượng, cấp đất cũng
như “đầu ra” các biện pháp lâm sinh vẫn dựa vào quy luật được mô phỏng từ nguồn
số liệu thực nghiệm nên độ linh hoạt của biểu không lớn.
Giai đoạn 4: Với những đại diện tiêu biểu như Franz (1968), Hoyer (1975),
Hradetzky (1972), Bruce et al. (1977) và Curtis et al. (1981, 1982). Các biểu thuộc
thế hệ này mô phỏng quá trình phát triển lâm phần từ nhiều điều kiện gây trồng
khác nhau. Ví dụ như điều kiện lập địa, mật độ, chế độ chăm sóc. Tất cả các thông
tin về sinh trưởng, sản lượng rừng có liên quan được tổng hợp trong một mô hình
sinh trắc học phức tạp để từ đó, mô phỏng sự phát triển của lâm phần và đưa ra tất
cả những kịch bản lâm sinh có thể có và trên cơ sở đó đưa ra các biểu sản lượng
tương ứng.
Thế hệ biểu sản lượng thứ 4 là thế hệ tiên tiến nhất, nhưng đòi hỏi kiến thức
chuyên gia về sinh trưởng, sản lượng, sinh thái rừng và sự thành thạo về toán học và
khoa học máy tính – mà năng lực của nhiều nước đang phát triển chưa đáp ứng
được, đặc biệt là trên phạm vi sản xuất, quản lý. Vì vậy, việc xây dựng biểu sản
cứu lập biểu điều tra rừng ở Việt Nam; tác giả Nguyễn Văn Trương nghiên cứu thể
tích cây đứng cho rừng gỗ hỗn loài (Nguyễn Văn Trương, 1973) hay tác giả Vũ
Đình Phương đã lập biểu thể tích cho cây Bồ đề (Vũ Đình Phương, 1970, 1971);
Nghiên cứu về lập biểu rất đáng chú ý là biểu thể tích và biểu độ thon cho cây rừng
hỗn loài lá rộng của Nguyễn Ngọc Lung (1972). Đó là những tác giả tiên phong cho
việc nghiên cứu lập biểu thể tích ở Việt Nam.
Trong giai đoạn từ năm 1980 trở lại đây đã có rất nhiều tác giả đi sâu vào lập
biểu thể tích như: Trịnh Đức Huy (1988) trong nghiên cứu dự đoán sản lượng rừng
và năng suất gỗ của rừng trồng bồ đề. Tác giả đã xây dựng được biểu thể tích cho
cây Bồ đề ở phía Bắc Việt Nam (Trịnh Đức Huy, 1988); tác giả Bảo Huy (1993)
nghiên cứu lập biểu thể tích cho rừng Tếch ở Đắc Lắc (Bảo Huy, 1995) hay công
trình nghiên cứu lập biểu thể tích cho cây Thông mã vĩ ở Đông Bắc của Nguyễn Thị
10
Bảo Lâm năm 1996. Ngoài ra, các tác giả Nguyễn Ngọc Lung và Đào Công Khanh
đã nghiên cứu lập biểu thể tích cho loài Thông ba lá (Nguyễn Ngọc Lung và Đào
Công Khanh, 1999). Trong nghiên cứu này, tác giả đã sử dụng các phương trình
đường sinh thân cây có vỏ, không vỏ và các mô hình thể tích có vỏ để lập biểu theo
3 phương án: (1) Biểu thể tích thân cây có vỏ và không vỏ theo 5 cấp chiều cao đối
với các cỡ đường kính từ 8 đến 80 cm ; (2) Biểu thể tích 2 nhân tố D x H cho rừng
non và cây Thông kích thước nhỏ có D từ 4 đến 28 cm, mỗi cỡ D là 1cm, tỷ lệ vỏ
theo cỡ D ; (3) Biểu thể tích 2 nhân tố D x H cho các lâm phần trưởng thành có cỡ
D từ 8 đến 80cm, biểu cho thể tích cây cả vỏ (Vcv) và tỷ lệ % thể tích vỏ (Vv). Kết
quả này đã được kiểm tra và cho sai số với độ chính xác từ 0,73-1,45%.
Những nghiên cứu gần đây tập trung nhiều vào việc lập biểu cho các loài cây
trồng rừng chủ yếu. Điển hình là tác giả Vũ Tiến Hinh (2000) đã lập biểu sản lượng
cho Sa Mộc, Thông đuôi ngựa, Mỡ ở các tỉnh phía Bắc (Vũ Tiến Hinh. et al., 2000);
tác giả Đào Công Khanh và cộng sự (2001) đã nghiên cứu lập biểu thể tích cho
Bạch đàn Urophylla, Keo tai tượng, Tếch, Thông nhựa và kiểm tra biểu sản lượng
học phù hợp.
1.2.1.3. Biểu cấp đất
Nghiên cứu về phân hạng đất, cấp đất đã được các nhà khoa học nghiên cứu
từ rất lâu. Trịnh Đức Huy (1988) đã phân loại cấp đất, cấp năng suất cho rừng Bồ đề
ở vùng trung tâm. Trên cơ sở cấp đất, tác giả đã dự đoán trữ lượng và năng suất cho
rừng Bồ đề ở các giai đoạn tiếp theo (Trịnh Đức Huy., 1988). Nguyễn Thị Bảo Lâm
(1996) đã lập biểu cấp đất cho Thông đuôi ngựa vùng Đông Bắc. Tác giả đã chia ra
làm 4 cấp đất, từ tuổi cơ sở đã xây dựng được biểu cấp đất cho loài Thông mã vĩ
vùng Đông Bắc (Nguyễn Thị Bảo Lâm., 1996). Bảo Huy (1995) lập biểu cấp đất
cho rừng Tếch; Hoàng Xuân Y (1997) lập biểu cấp đất cho rừng Mỡ trồng tại vùng
nguyên liệu giấy (Hoàng Xuân Y., 1997).
Đề tài nghiên cứu cấp nhà nước về tăng trưởng và sản lượng Thông ba lá
Nguyễn Ngọc Lung và Đào Công Khanh (1999) đã xây dựng được hệ thống các
biểu sản lượng, trong đó biểu cấp đất được chia làm 5 cấp đất và sử dụng phương
12
trình tương quan giữa chiều cao tầng trội (Hdom) với tuổi (T) của 257 cặp hợp
Hdom/T. Tại tuổi thành thục công nghệ T=60 tuổi, lấy dãn cách ∆H=5m chia lên trên
và xuống dưới đường cong Hdom/T bình quân để có được 5 cấp đất (Nguyễn Ngọc
Lung. & Đào Công Khanh., 1999).
Vũ Tiến Hinh (2003) lập biểu cấp đất cho Sa Mộc, Thông mã vĩ, Mỡ. Biểu
cấp đất lập cho lâm phần Sa mộc trồng thuần loài đều tuổi ở các tỉnh phía Bắc được
lập theo chiều cao ưu thế H0 (chiều cao bình quân của 20% số cây có đường kính
lớn nhất trong lâm phần) và được phân thành 4 cấp (I, II, III, IV) tương ứng với các
cấp đất từ tốt đến xấu. Tương tự như vậy, biểu cấp đất cây Mỡ lập cho những lâm
phần ở vùng Trung tâm phía Bắc và vùng Đông Bắc cũng được lập theo chiều cao
ưu thế H0 và chia thành 4 cấp (Vũ Tiến Hưng., 2006).
Theo Đào Công Khanh (2001), các phương pháp phân chia đường cong cấp
đất được nhiều tác giả ở nước ta sử dụng khá phong phú. Các tác giả Vũ Đình
để từ đó xác định mật độ tối ưu lâm phần.
Vũ Tiến Hinh và một số tác giả lại xây dựng mô hình quan hệ giữa tổng diện
tích tán lâm phần với chiều cao, đường kính và mật độ lâm phần, hoặc có thể một,
hai trong ba chỉ tiêu này và trên cơ sở đó, để xác định mật độ tối ưu. Một số tác giả
khác cho rằng quan hệ giữa đường kính tán với đường kính của cây bình quân
(thường rất chặt chẽ) sẽ xác định được mật độ tối ưu của lâm phần ở một tuổi nào
đó (Đào Công Khanh. et al., 2001).
Nguyễn Ngọc Lung (1999) mô tả quy luật sinh trưởng diện tích tán bình
quân của các lâm phần Thông ba lá bằng phương trình đường thẳng: S t = A + Bi.T.
Ngoài phương pháp xác định trực tiếp sinh trưởng diện tích tán bình quân như trên,
còn lại chủ yếu được xác định gián tiếp qua các chỉ tiêu phân chia cấp đất như H0
như:
- Rừng Tếch ở Đắc Lắc (Bảo Huy, 1995): St = 1,494 + 2,521.LnH0
(1.6)
- Rừng Mỡ (Vũ Tiến Hinh, 2000): St = 2,193.H00,532
(1.7)
14
- Rừng Keo tai tượng (Khúc Đình Thành, 2003): St = 0,3292.Hg1,2415 (1.8)
- Mô hình sinh trưởng cây bình quân: Vũ Tiến Hinh (1995), Nguyễn Thị Bảo
Lâm (1996) khi nghiên cứu lựa chọn cây tiêu chuẩn bình quân lâm phần Thông đuôi
ngựa đã kết luận, có thể dùng cây bình quân theo tiết diện ngang (cây có D = Dg, H
= Hg) thay cho cây bình quân thể tích. Sử dụng chỉ tiêu D g, Hg để xác định thể tích
bình quân lâm phần thông qua phương trình thể tích. Vũ Tiến Hinh, Phạm Ngọc
Giao (1997) cho thấy, với đối tượng rừng trồng có chu kỳ kinh doanh không dài
(phạm vi phân bố đường kính không lớn) ở nước ta, có thể sử dụng D g, Hg làm kích
một số loài cây trồng ở nước ta, như biểu sản lượng Keo lá tràm toàn quốc (1996),
biểu sản lượng Sa Mộc, Thông mã vĩ, Mỡ (2000) sử dụng tỉa thưa có giãn cách. Với
các biểu sản lượng này, tuổi càng cao, kỳ giãn cách càng dài. Vũ Tiến Hinh, Phạm
Xuân Hoàn (1999, 2003) khi nghiên cứu về cây Quế ở Yên Bái cho rằng tỉa thưa
với kỳ giãn cách cố định, có thể là 2 năm (Vũ Tiến Hinh., 2003).
Một số thành tựu của công tác xây dựng bảng biểu điều tra rừng ở Việt Nam
hiện nay:
Các phương pháp điều tra, nghiên cứu và lập bảng biểu đã được giới thiệu,
bổ sung và phát triển tương đối hoàn thiện ở nước ta với các tác giả lớn như Đồng
Sĩ Hiền (1974) cho lập biểu thể tích và độ thon cây đứng, Vũ Tiến Hinh (1998,
2003) và Nguyễn Ngọc Lung (1987a, 1987b, 1999) cho nghiên cứu sinh trưởng và
sản lượng (Đồng Sĩ Hiền, 1974; Nguyễn Ngọc Lung, 1987a; Nguyễn Ngọc Lung,
1987b; Nguyễn Ngọc Lung & Đào Công Khanh, 1999; Vũ Tiến Hinh, 2003). Một
số phương pháp tiêu biểu đã được nhiều tác giả trong nước vận dụng, phát triển và
hoàn thiện tỏ ra có nhiều ưu điểm hơn so với phương pháp kinh điển của thế giới
như sử dụng hệ số thon tự nhiên xây dựng phương trình đường sinh thân cây (Đồng
Sĩ Hiền., 1974), hay sử dụng suất tăng trưởng để mô phỏng các quá trình sinh
trưởng (Vũ Tiến Hinh., 2003; Vũ Tiến Hinh. et al., 2000; Vũ Tiến Hinh. et al.,
1996).
Những nghiên cứu này đã một phần nào đó đáp ứng được yêu cầu của sản
xuất, thể hiện rõ vai trò quan trọng của bảng biểu trong kinh doanh rừng ở nước ta.
16
Nhưng như thế là chưa đủ để đáp ứng yêu cầu của sản xuất, khi mà những đòi hỏi
về tính khoa học, tính chính xác, tính thuận tiện của thực tiễn luôn đặt ra sao cho
việc vận dụng các bảng biểu trong sản xuất, kinh doanh rừng đạt hiệu quả cao nhất.
Biểu sản lượng là biểu quan trọng nhất, vừa để chủ rừng nắm vững kết cấu rừng
trồng, trữ sản lượng và năng suất theo từng tuổi, vừa để cán bộ kỹ thuật có căn cứ
xác định các giải pháp lâm sinh như tuổi khép tán và tuổi tỉa thưa, nuôi dưỡng, tuổi
cấp đất cho nhiều loài cây (Nguyễn Ngọc Lung & Đào Công Khanh, 1999; Trần
Văn Con, 2008; Vũ Tiến Hinh, 2003). Vũ Tiến Hưng (2006) khi nghiên cứu phương
pháp hiệu chỉnh biểu sinh trưởng để xác định một số chỉ tiêu sản lượng cho các lâm
phần Mỡ, Sa Mộc ở một số tỉnh phía Bắc ngoài việc xác định sai số theo giá trị
tuyệt đối và tương đối, đề tài còn dùng tiêu chuẩn U của Wicoxon cho hai mẫu liên
hệ để kiểm tra xem biểu có sai số hệ thống (Vũ Tiến Hưng., 2006).
1.2.3. Bảng biểu điều tra cho kinh doanh rừng Thông ba lá ở Việt Nam
1.2.3.1. Đặc điểm nhận biết và đặc điểm sinh học và sinh thái học
* Đặc điểm nhận biết:
Thông ba lá là loài cho gỗ lớn, có thể cao tới 40 m, đường kính 140 cm.
Thân tròn thẳng. Tán dầy, hình tháp, khi già xòe rộng, vỏ dầy, màu nâu xám, nứt
dọc, sau bong vẩy. Cành xếp vòng, khi non màu nâu vàng nhạt. Lá hình kim,
thường mọc cụm 3 lá trên đầu cành ngắn, dài 15 – 20cm, đường kính 0,7-1mm,
mềm, hơi rủ. Bẹ bao quanh gốc, cụm lá sống dai, dai 10-12mm.
* Đặc điểm sinh học và sinh thái học
Thông là loài mọc tương đối nhanh, mỗi năm sinh 2-4 vòng cành, ở lập địa
thích hợp tăng trưởng bình quân có thể đạt 1,2m/năm chiều cao và 1cm/năm đường
kính. Thông có biên độ sinh thái rộng đối với nhiệt độ, ẩm độ và đất, mọc tự nhiên
ở độ cao từ 900-2000m so với mặt nước biển (Lê Mộng Chân. & Lê Thị Huyên.,
2000).
1.2.3.2. Các nghiên cứu về cấu trúc và bảng biểu Thông ba lá ở Tây Nguyên
Các nghiên cứu về tăng trưởng, sản lượng cho Thông ba lá đã được một số
nhà nghiên cứu và đưa ra các kết quả được tổng hợp lại như sau:
18
Theo Armitage và Burley (1980), khi tổng kết các công trình nghiên cứu về
Thông ba lá trên thế giới đã thấy các nghiên cứu về tăng trưởng sản lượng rừng đều
chưa theo cấp đất, như Wightman (1969) tại Zimbabue; Revila, Bonita (1976) tại
Philippines. Anders (1978) trên cơ sở 102 cây giải tích tại Đà Lạt, đã lập một biểu
(1.10)
Dk = -0,50 + 0,709T – 0,034T2
r = 0,9057
(1.11)
19
Sử dụng phương trình Schumacher Y = a.e-b.T-m để mô tả hàm sinh trưởng
của các cây cá thể đối với nhân tố chính là đường kính thân cây D và chiều cao H,
thể tích thân cây cả vỏ V, thể tích gỗ lớn xuất khẩu (D không vỏ đầu nhỏ) 25cm trở
lên V25 (ov), và các chỉ tiên thống kê đánh giá. Với 5 tiêu chuẩn thống kê đánh giá
sự tồn tại hợp lý của 1 dạng phương trình đã chọn, với xác suất an toàn lớn hơn
0,05, phương trình hoàn toàn đáp ứng độ chính xác, độ tin cậy khi biểu thị quy luật
sinh trưởng đường kính cây bình quân (Nguyễn Ngọc Lung. & Đào Công Khanh.,
1999).
* Lập biểu cấp chiều cao:
Trên cơ sở tương quan giữa chiều cao H và đường kính D dạng H = a (1-e) và từ 1810 cây đo trong mọi vùng phân bố của Thông ba lá, ta đã lập được
bD m
phương trình tổng hợp như sau:
H = 38,88 (1 – e -0,043D)1,509
(1.12)
Thu được 5 đường cong cấp H bằng cách điều chỉnh 2 tham số a và m của
phương trình (Nguyễn Ngọc Lung. & Đào Công Khanh., 1999).
nhanh ∑G và M lâm phần/ha. Biểu này lập trên cơ sở biểu sản lượng mới lập, để
xác định ∑G và M mà bỏ qua cấp đất, đã sử dụng thêm 2 phương trình bổ sung và
kiểm tra bằng 3 loại sai số: hệ thống, sai quân phương, phạm vi giới hạn đều cho kết
quả chấp nhận được.
1.2.3.3. Ứng dụng của biểu Thông ba lá và những đề xuất
Các bảng biểu điều tra được lập cho Thông ba lá ở Tây Nguyên là một công
trình khoa học có nhiều giá trị trong điều tra, kinh doanh rừng Thông ba lá ở Việt
Nam. Do đặc điểm cây sinh thái của Tây Nguyên và miền Bắc có rất nhiều đặc
điểm khác nhau về: nhiệt độ, độ ẩm, độ cao, lập địa,... vì vậy việc để ứng dựng biểu
điều tra trong kinh doanh rừng Thông ba lá ở miền Bắc, cần phải kiểm tra, hiệu
chỉnh biểu..