Bệnh tuyến trùng hại thông ba lá Pinus kesiya Royle,
nguyên nhân v giảI pháp phòng trừ
Phạm Quang Thu
Phòng bảo vệ Thực vật rừng
1. Mở dầu
Lâm Đồng là một tỉnh nam Tây Nguyên, tài nguyên rừng và đất rừng có vai trò quan trọng trong
việc phát triển kinh tế và bảo vệ môi trờng đầu nguồn trong khu vực. Theo số liệu của Bộ Lâm nghiệp
(nay là Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn) năm 1995, tổng diện tích đất có rừng của toàn tỉnh là
559.039 ha trong đó có 127.440 ha rừng cây lá kim (chủ yếu là thông 3 lá và thông 2 lá), chiếm 22,8%
cha kể đến diện tích rừng hỗn giao cây lá rộng với cây lá kim và cây họ dầu với cây lá kim và 27.009
ha rừng trồng thông ba lá.
Thông ba lá Pinus kesiya là cây bản địa, phân bố chủ yếu ở Lâm Đồng, một phần của tỉnh Kon Tum
và vùng núi cao Hoàng Su Phì của tỉnh Hà Giang. Thông ba lá có ý nghĩa kinh tế xã hội và môi trờng
quan trọng của thành phố Đà Lạt nói riêng và toàn tỉnh Lâm Đồng nói chung, vì vậy, gần nh tất cả diện
tích rừng thông tự nhiên và rừng thông trồng ở đây đợc đa vào loại rừng đặc dụng.
Bệnh héo thông, cây thông bị héo vàng rồi chết đợc phát hiện lần đầu tiên ở Lâm Đồng vào khoảng
năm 1994. Từ đó đến nay mức độ gây hại và sự lây lan của dịch bệnh đã tăng lên đáng kể. Theo thống
kê của chi cục Kiểm lâm tỉnh Lâm Đồng năm 1999, diện tích rừng thông ba lá bị hại với triệu chứng héo
vàng rồi chết với một diện tích vào khoảng 1000 ha. Tuy nhiên tỷ lệ và mức độ bị hại là khác nhau ở các
khu vực khác nhau. Tỷ lệ cây chết ở một số lâm phần bị bệnh khá cao ở một số địa phơng nh ở Cam
Ly, thành phố Đà Lạt, KLong KLanh và Đa Sa huyện Lạc Dơng.
Đứng trớc tình hình dịch bệnh có chiều hớng lây lan, loại bệnh này đã gây đợc sự chú ý của
nhiều nhà khoa học và các cơ quan quản lý. Đầu tiên các nhà chuyên môn của tỉnh Lâm Đồng cho rằng
nguyên nhân gây nên triệu chứng héo thông và gây chết cây là do sâu non của vòi voi đục vỏ và phá
hoại phần vỏ của cây dẫn đến cây không còn khả năng dẫn truyền các chất dinh dỡng.
Những năm sau các nhà khoa học của trờng Đại học Nông Lâm Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
đã tiến hành nghiên cứu nguyên nhân gây héo cây. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy đã phát hiện rất
nhiều sâu non vòi voi trong vỏ của những cây thông đã héo và chết từ năm trớc.
Chi Cục kiểm lâm tỉnh Lâm Đồng đã điều tra, thu mẫu gỗ của cây thông bị chết từ các khu rừng
2. phơng pháp nghiên cứu
2.1. Địa điểm nghiên cứu
2.1.1. Địa điểm điều tra
Việc điều tra, đánh giá tỷ lệ bị bệnh và mức độ bị bệnh tại các khu vực sau:
- Cam Ly, thành phố Đà Lạt
- Hồ Tuyền Lâm, thành phố Đà Lạt
- Núi Lang Bian, huyện Lạc Dơng
- KLong KLanh, huyện Lạc Dơng
2.1.2. Địa điểm gây bệnh nhân tạo và nghiên cứu đặc điểm của xén tóc.
- Trung tâm Nghiên cứu Lâm sinh Lâm Đồng
- Phòng Nghiên cứu Bảo vệ rừng
2.2. Phơng pháp nghiên cứu
2.2.1Xác định tỷ lệ bị bệnh:
Ô tiêu chuẩn điển hình đợc bố trí trên các tuyến đợc đặt tại 4 điểm điều tra, diện tích ô tiêu
chuẩn là 400m
2
. Mỗi địa điểm 60 ô điều tra. Trên ô tiêu chuẩn, tình trạng sức khoẻ, tỷ lệ bị bệnh của cây
đợc đánh giá thông qua đo lợng nhựa chảy ra qua vết đục vào thân cây.
Dùng đục chuyên dụng, lỗ đục hình tròn đờng kính 12 mm, đóng nhẹ vào thân cây ở vị trí 1.3
m cho tới khi đục chạm vào phần gỗ của thân cây, lấy đục ra và tách phần vỏ cây ở lỗ đục ra. Sau 10
phút đánh giá lợng nhựa chảy ra lỗ đục, lợng nhựa chảy ra đợc chia làm 3 cấp: A, B, C và D là cây
đã chết không còn có nhựa. Các chỉ tiêu của cấp lợng nhựa chảy ra qua lỗ đục nh sau:
A: cây khoẻ, lợng nhựa tiết ra nhiều
B: cây yếu, lợng nhựa tiết ra ít
C: cây đã nhiễm bệnh, vỏ phía trong còn tơi nhng không có nhựa
D: cây đã chết.
Nếu nh căn cứ vào lợng nhựa tiết ra qua lỗ đục vào thân cây và dựa vào kết quả nghiên cứu
của các nhà khoa học Nhật Bản về mối quan hệ giữa sự ngừng hoặc giảm khả năng tiết nhựa với việc cây
3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Điều tra đánh giá tỷ lệ và mức độ bị bệnh
3.1.1. Tỷ lệ bị bệnh
Đánh giá tình trạng sức khoẻ của cây hay còn gọi là tỷ lệ bị bệnh đợc tiến hành trên các ô tiêu
chuẩn điển hình ở 4 địa điểm điều tra. Các nhà côn trùng học Nhật Bản đã phát hiện ra mỗi qua hệ rất
gần giữa sự giảm hoặc ngừng tiết nhựa khi đục một lỗ nhỏ qua lớp vỏ vào đến phần gỗ của thân cây
thông ở đầu mùa hè và những cây này sẽ chết vào mùa thu (Mamiya, 1983). Kết quả điều tra về tỷ lệ bị
bệnh thông qua lợng nhựa tiết ra qua lỗ đục ở các địa điểm điều tra đợc tính trung bình của 60 ô tiêu
chuẩn đợc trình bày ở bảng 1.
Bảng1: Tỷ lệ bị bệnh ở các điểm điều tra
Langbian Tuyền Lâm Cam Ly KLong KLanh Chỉ số
Số cây % Số cây % Số cây % Số cây %
A 40 63.5 30 53.6 37 52.1 39 52.0
B 11 17.5 11 19.6 12 16.9 9 12.0
C 3 4,7 4 7.2 8 11.3 10 13.3
D 9 14.3 11 19.6 14 19.7 17 22.7
Tổng 63 100.0 56 100.0 71 100.0 75 100.0
Kết quả ở bảng trên cho thấy tỷ lệ bị bệnh của thông ba lá do tuyến trùng khác nhau ở các điểm
điều tra. Theo nh cách tính về tỷ lệ bị bệnh thông qua lợng nhụa tiết ra ít ở cấp B và C đều có trị số
khoảng 20%, trung bình của 4 điểm điều tra là 25,6%. Số cây đã bị chết hoàn toàn trung bình là: 19,1%.
Nh vậy, tỷ lệ bị bệnh trung bình ở 4 điểm điều tra gồm cả cây có lợng nhựa chảy ra ít và cả cây đã
chết do bệnh ở mức 44.7%.
3.1.2. Sự chết hàng năm của cây thông do tuyến trùng
Hai ô tiêu chuẩn định vị đợc đặt tại Cam Ly trên rừng trồng 10 tuổi với diện tích mỗi ô là 1 ha.
Mật độ cây ở ô tiêu chuẩn số 1 là 1.650 cây/ha và mật độ cây của ô tiêu chuẩn số hai là 1.250 cây/ha.
Căn cứ vào triệu chứng hiện tại và tình trạng của các cây đã chết trên 2 ô tiêu chuẩn, việc tính toán số
3.2. Nghiên cứu xác định nguyên nhân gây bệnh
3.2.1. Triệu chứng và quá trình phát sinh, phát triển của bệnh
Khi cây bị nhiễm tuyến trùng ở giai đoạn đầu, mật độ tuyến trùng trong thân của cây còn thấp,
sinh trởng và phát triển của cây cha có dấu hiệu thay đổi, tán lá vẫn xanh và không có sự biểu hiện
khavc biệt nào. Giai đoạn này rất khó phát hiện. Khi tuyến trùng đợc nhiễm vào cây thông qua vectơ
thờng vào mùa vũ hoá của xén tóc, có 2 thời điểm tháng 4 và tháng 10 hàng năm.
Sau khi tuyến trùng xâm nhập vào cây chủ, chúng phát triển nhanh về số lợng và chiếm cứ toàn
bộ hệ thống mạch dẫn trong phần gỗ của thân cây dẫn đến cản trở quá trình cung cấp nớc từ rễ cây lên
phần tán lá, toàn bộ lá cây có hiện tợng héo dần và rủ xuống. Lợng nhựa trong cây cũng giảm đi rõ
rệt. Sau khoảng 3-4 tháng lá cây bắt đầu héo và chuyển dần thành màu vàng và khô có màu nâu đỏ (xem
ảnh 1). ảnh 1: Thông ba lá bị nhiễm tuyến trùng
Do đặc điểm của tuyến trùng gây bệnh héo thông là chúng không tự nó di chuyển từ cây này sang
cây khác đợc mà phải nhờ vào vectơ, đó là một số loài thuộc họ cách cứng, chủ yếu là các loài xén tóc.
4
Xén tóc trởng thành thờng chọn các loài cây bị bệnh, sinh trởng kém, lợng nhựa trong thân cây
giảm để đẻ trứng. Trứng nở thành sâu non, hết tuổi 1 sâu non chui vào vỏ và làm thành các đờng hầm
sống trong thân cây. Sắp đến thời kỳ vũ hoá của xén tóc, tuyến trùng trong thân cây di chuyển đến
buồng nhộng và bám vào cơ thể, lỗ thở, gốc cánh của xén tóc trởng thành. Xén tóc trởng thành sau
khi vũ hoá đã mang một lợng lớn tuyến trùng trên cơ thể của mình để nhiễm cho các cây khoẻ khác.
Sau khi vũ hoá, xén tóc trởng thành vẫn còn cha phát triển đầy đủ về khả năng sinh sản, chúng đòi hỏi
phải có thời gian ăn bổ sung để cơ thể thành thục thờng từ 2 đến 3 tuần. Thức ăn của chúng là những vỏ
non của ngọn và cành thông trên cây đang sống có độ tuổi trên dới một năm. Lúc này tuyến trùng sẽ từ
các lỗ thở chui ra và xâm nhập vào cây thông khoẻ qua các vết cắn của xén tóc. Đây là thời kỳ phát tán
và nhiễm bệnh héo thông do tuyến trùng từ cây chết do bị bệnh sang các cây khoẻ khác. Chính vì thế,
triệu chứng điển hình của những cây thông bị bệnh tuyến trùng thì trên cành và ngọn non của cây thông
đã chết phải có các vết cắn và vết vỏ bị gặm do xén tóc (xem ảnh 2, chỗ mũi tên).
2 7 5 3.0 4 Chết 2000 Cam Ly 2.828
3 8 6 3.0 3 Chết 2000 Cam Ly 242
6 11 13 13 15 Chết 1999 Cam Ly 58
8 13 15 9.0 15 Chết 2000 Cam Ly 2.871
5
9 14 6 2.5 4 Chết 2000 Cam Ly 44
10 15 10 3.0 8 Chết 2000 Cam Ly 754
11 16 18 5.0 7 Chết 1999 Cam Ly 58
12 17 15 5.0 7 Chết 1999 Cam Ly 20
13 18 10 5.0 7 Héo 40% Cam Ly 40
14 19a 10 3 7 Héo 90% Cam Ly 21.301
17 21 13 6.0 7 Chết 1999 Cam Ly 290
18 22 6 5.0 7 Chết 1998 Langbian 1.305
22 26 10 6.0 5 Héo 80% Langbian 841
26 30 8 4.0 6 Chết 1998 Langbian 363
27 31 7 5.0 5 Chết 1999 Lâm Hà 470
28 32 7 5.0 5 Chết 1999 Lâm Hà 1.390
29 33 7 3.5 5 Chết 1999 Lâm Hà 20
30 34 6 4.0 5 Chết 1999 Lâm Hà 10
31 35 10 6.0 5 Héo 50% Lâm Hà 20
32 36 10 6.5 5 Chết 2000 Lâm Hà 550
34 38 10 6.5 7 Chết 2000 Klong Klanh 300
35 39 7 6.0 7 Chết 2000 Klong Klanh 540
38 42 10 7.0 7 Héo 98% Klong Klanh 8.580
Kết quả ở bảng trên cho thấy mật độ tuyến trùng biến động ở các mẫu thu thập ở các địa phơng
khác nhau. Mật độ tuyến trùng cao nhất thu đợc từ các mẫu ở Cam Ly, Thành phố Đà Lạt và KLong
KLanh, Lạc Dơng. Mật độ tuyến trùng cao nhất cũng tìm thấy ở mẫu gỗ của các cây mới chết.
V 71.8(68.3-75.3) 72.7(67.0-78.0)
A 28.8(23.2-38.1) 42.3(36-47) 29.4(23.6-37.3) 42.3(36.0-47.0)
B 11.8(8.9-18.5) 9.4(7.6-11.3) 12.1(9.0-15.7) 9.4(7.6-11.3)
C 20.9(16-27.4) 26.4(21-31) 12.5(8.9-15.4) 26.0(23.0-32.0)
6
c 2.2(1.7-2.8) 4.2(3-5.40
St 12.8(9.5-14.4) 14.9(14.0-17.0) 12.3(9.0-15.3) 15.9(14.0-18.0)
Pu 66.5(45.0-97.2)
* Theo Mamiya và Kryohara, 1972
Ghi chú:
- L : chiều dài cơ thể (
m)
- Sp: chiều dài gai sinh dục đực (
m)
- V: chiều dài từ đầu tới bộ phận sinh dục ngoài x 100 / chiều dài cơ thể
- a: chiều dài cơ thể / chiều rộng cơ thể tại điểm giữa
- b: chiều dài cơ thể/ chiều dài từ đỉnh đầu tới van thực quản
- c: chiều dài cơ thể / chiều dài của đuôi
- c: chiều dài đuôi / chiều rộng cơ thể tại hậu môn
- St: chiều dài của kim hút (
m)
- Pu: chiều dài của túi tử cung sau (
m)
Dựa vào những số đo cơ bản và các tỷ lệ đợc trình bày chi tiết trong bảng 4, tuyến trùng phân lập từ
các cây thông chết ở tỉnh Lâm Đồng không trùng với bất cứ loài nào trong tổng số 37 loài đã đợc mô tả
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam với 6 công thức thí nghiệm nh sau:
Công thức1: Nhiễm bằng nớc cất
Công thức 2: Nhiễm 1000 con tuyến trùng/1 cây
Công thức 3: Nhiễm 2000 con tuyến trùng/1 cây
Công thức 4: Nhiễm 3000 con tuyến trùng/1 cây
Công thức 5: Nhiễm 4000 con tuyến trùng/1 cây
Công thức 6: Nhiễm 5000 con tuyến trùng/1 cây
Mỗi công thức thí nghiệm 30 cây thông 3 lá xuất xứ Lâm Đồng 2 năm tuổi. Trên các cây thông
thí nghiệm dùng dũa sắt chà sát nhẹ trên các cành nhỏ với chiều dài 5-10 cm (trông nh vết xén tóc ăn
vỏ cây). Số lợng tuyến trùng ở các công thức thí nghiệm đợc nhỏ vào giấy hút ẩm đặt trên vết thơng
vừa tạo ra ở các cành và băng kín băng giấy paraphin. Tiến hành chăm sóc và thoi dõi thí nghiệm, Kết
quả cho thấy: chỉ có công thức thứ 6 với mật độ 5000 con tuyến trùng/1 cây xuất hiện triệu chứng héo
sau thời gian 12 tháng (xem ảnh 4). Các công thức khác cây vẫn sinh trởng bình thờng. Tuy nhiên khi
kiểm tra lợng nhựa tiết ra các cây ở các công thức thí nghiệm đều có lợng nhựa ra ít hơn so với công
thức đối chứng.
ảnh 4: Cây con thí nghiệm gây bệnh nhân tạo bị chết
Lấy mẫu gỗ thân các cây bị chết từ thí nghiệm chiết lọc tuyến trùng trên phễu Biéc Man cũng
thu đợc tuyến trùng có đặc điểm giống nh loài đã nhiễm gây bệnh.
3.2.3. Vectơ truyền tuyến trùng
3.2.3.1. Nuôi xén tóc và nghiên cứu về phân loại
8
Quan sát thân và các cành lớn của các cây thông bị bệnh có các lỗ đẻ trứng của xén tóc. Lỗ đẻ trứng
có hình máng có kích thớc 3 -5 mm, sâu 2-3mm (xem ảnh 5) do xén tóc trởng thành tạo ra và đẻ
trứng. Trứng nở thành sâu non và sâu non tuổi 2 bắt đầu chui qua vỏ cây và đục đờng hầm chui vào
thân cây. Sâu non sau tuổi 1 cho đến khi vũ hoá hoàn toàn sống trong thân gỗ của cây. Khi sâu non sống
trông thân gỗ chúng thải phân ra ngoài qua các lỗ đờng hầm, căn cứ vào màu sắc và vị trí của chất thải,
ta có thể đoán đợc vị trí của sâu non.
- Loài: Monochamus alternatus Hope
- Giống: Monochamus
- Họ: Cerambycidae
- Bộ: Coleoptera
9ảnh 6: Xén tóc M. alternatus trởng thành
3.2.3.2. Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của xén tóc M. alternatus
* Một số tập tính sinh hoạt
- Sâu trởng thành thờng khoét thành những lỗ có đờng kính 1-2 mm trên lớp vỏ của thân các
cây yếu hoặc chết do bị bệnh héo thông để đẻ trứng. Mỗi lỗ chỉ có duy nhất một trứng tuy nhiên
không phải lỗ nào cũng tìm thấy trứng, số lợng lỗ có trứng chiếm tỷ lệ 50 65% so với tổng số
lỗ điều tra; điều này chứng tỏ chúng có sự chọn lọc rất kỹ càng cho nơi đẻ trứng. Nhiều khi
những lỗ cũng đợc tìm thấy trên những cành thông với đờng kính trên 2cm.
- Sâu non tuổi 1 nở từ trứng, sống và ăn phần dới của lớp vỏ. Sau một giai đoạn phát triển sâu non
đục vào phần tợng tầng nơi dẫn nhựa của cây và tiếp tục đục vào phần gỗ của cây, ăn và sống ở
đó cho đến khi hóa nhộng. Trong giai đoạn này sâu non lột xác 3 4 lần và sau đó chuyển sang
giai đoạn nhộng.
- Sâu non đẫy sức ( cuối tuổi 4 hoặc 5 ) chúng làm thành buồng nhộng cuối đờng hầm và nằm bất
động để hoá nhộng, giai đoạn này kéo dài khoảng 2 3 tuần. Đây là thời gian tuyến trùng tập
trung quanh trong buồng nhộng và xâm nhập vào lỗ thở của nhộng và sâu trởng thành khi vũ
hóa.
- Về cơ chế truyền bệnh của xén tóc đợc Miyazaki và cộng sự mô tả nh sau: Sâu non đã tiết một
số axít béo cha no nh linoleic axít ở buồng nhộng trong giai đoạn hóa nhộng đã kích thích sự
tập trung của tuyến trùng tới buồng nhộng và xâm nhập vào cơ thể của xén tóc M. alternatus.
Tuy nhiên, việc di chuyển tập trung quanh buồng nhộng của tuyến trùng còn bị chi phối bởi
nhiều yếu tố khác nh vật lý, sinh hóa và sinh học của chúng mà cha đợc xác minh. Khi vũ
1-00 K'Long K'Lanh 24 1 - 2000 25 3 - 2000 1
2-00 K'Long K'Lanh 24 1 - 2000 26 3 - 2000 1
3-00 K'Long K'Lanh 24 1 - 2000 1 4 - 2000 1
4-99 Lang Bian 8 8 - 1999 20 9 - 1999 4
5-99 Lang Bian 8 8 - 1999 21 9 - 1999 4
6-00 Lang Bian 25 1 - 2000 26 3 - 2000 1
7-00 Lang Bian 25 1 - 2000 2 4 - 2000 1
8-00 Lang Bian 25 1 - 2000 5 4 - 2000 1
9-99 Cam Ly 7 8 - 1999 22 9 - 1999 2
10-99 Cam Ly 7 8 - 1999 23 9 - 1999 1
11-00 Cam Ly 26 1 - 2000 27 3 - 2000 1
12-00 Cam Ly 26 1 - 2000 13 4 - 2000 1
13-00 Cam Ly 26 1 - 2000 15 4 - 2000 1
14-99 Tuyền Lâm 9 8 - 1999 25 9 - 1999 2
15-99 Tuyền Lâm 9 8 - 1999 1 10 - 1999 3
16-00 Cam Ly 18 4 - 2000 15 6 - 2000 4
17- 00 Cam Ly 18 4 - 2000 27 6 - 2000 1
18-00 Cam Ly 18 4 - 2000 2 7 - 2000 1
Kết quả ở bảng trên chỉ ra rằng xén tóc trởng thành có 2 giai đoạn vũ hoá trong năm. Giai đoạn
thứ nhất bắt đầu từ cuối tháng 3 đến đầu tháng 7. Giai đoạn 2 từ cuối tháng 9 đến đầu tháng 11.
3.3. Biện pháp phòng trừ
Việc phòng trừ bệnh héo thông 3 lá do tuyến trùng đợc tiến hành trên nguyên tắc phòng trừ
tổng hợp, bao gồm biện pháp kỹ thuật lâm sinh, biện pháp vật lý cơ giới (chặt đột cây bệnh, thiêu huỷ
xén tóc và tuyến trùng), biện pháp dùng bẫy pheromon và dùng bẫy cây tuơi để tiêu diệt vectơ truyền
bệnh.
3.3.1. Biện pháp kỹ thuật lâm sinh
chất dẫn dụ có nguồn gốc hoá học: Hodolon và C1 do Tiến sỹ Akiomi Yamane, Chuyên gia ngắn hạn
của tổ chức JICA cung cấp và hớng dẫn sử dụng.
Chất dẫn dụ đợc đựng trong hộp sắt, mở nắp và đợc đặt trong một chiếc hộp nhựa, đáy hộp
đựng nớc có pha 1 chút dầu hoả để giết côn trùng khi bay vào hộp nhụa và rơi xuống nớc (xem ảnh 8).
12
ảnh 8: Thí nghiệm đặt bẫy xén tóc trởng thành
Thí nghiệm đợc theo dõi định 2 ngày một lần thu thập mẫu và ghi chép số loài côn trùng thu
đợc ở mỗi loại chất dẫn dụ ở các bẫy và các địa điểm. Số lợng cá thể xén tóc loài Monochamus
alternatus và loài cánh cứng khác bình quân cho từng loại chất dẫn dụ/1 bẫy và địa điểm đặt mẫu đợc
ghi ở bảng 6.
Bảng 6: Số lợng cá thể xén tóc M. alternatus và các loài cánh cứng khác
bắt đợc ở bẫy
Chất dẫn dụ Hodolon Chất dẫn dụ C1 TT
Xén tóc Loài khác Tổng Xén tóc Loài khác Tổng
1 Cam Ly 3,2 10.2 13.4 0 5.4 5.4
2 Tuyền Lâm 5.2 11.2 16.4 0 3.8 3.8
3 Lang Bian 4.4 14.6 19.0 0 2.2 2.2
4 Klong Klanh 5.6 15.8 21.4 1.2 6.0 7.2
Kết quả ở bảng trên chỉ ra rằng: Chất dẫn dụ Hodolon hiệu quả hơn trong việc dẫn dụ xén tóc M.
alternatus và một số loài cánh cứng khác so với chất dẫn dụ C1 (có thành phần chính là nhựa thông).
Các loài cánh cứng khác cũng thu đợc nhiều hơn từ bẫy có chất dẫn dụ Hodolon.
3.3.4. Bẫy xén tóc trởng thành đến đẻ trứng trên khúc gỗ thông tơi
Theo kinh nghiệm của Tiến sỹ Akiomi Yamane, dùng cây thông tơi mới chặt hạ đặt trong rừng
thông bị bệnh cũng hấp dẫn đợc xén tóc M. alternatus trởng thành đến đẻ trứng.
cây sau 1 năm thí nghiệm.
Một tác dụng nữa đối với việc dùng bẫy cây tơi là sau khi xén tóc trởng thành vũ hoá từ các
khúc gỗ làm bẫy (khúc gỗ này đợc chặt từ các cây khoẻ), xén tóc vũ hoá không có tuyến trùng dính vào
lỗ thở và gốc cánh của nó. Vì vậy, đã làm mất khả năng lan truyền tuyến trùng do xén tóc, hạn chế việc
lây lan của bệnh.
4. kết luận
4.1.1. Tỷ lệ bị bệnh đợc hiểu bao gồm các cây đã chết và cha chết lá đã có biểu hiện héo, không
có nhựa và cả những cây còn sống nhng lợng nhựa chảy ra ít bình quân ở 4 ô tiêu chuẩn là
44.7%.
4.1.2. Tại Cam Ly, bình quân mỗi ha hàng năm chết 33 cây, tơng đơng 2.25% số cây có trên ô tiêu
chuẩn.
4.1.3. Nguyên nhân gây nên sự chết của thông đợc xác định là do tuyến trùng Bursaphelenchus sp.
4.1.4. Đã phát hiện đợc loài xén tóc Monochamus alternatus ở trên các cây thông bị bệnh ở tất cả các
địa phơng có thông bị bệnh ở Lâm Đồng. Đây là vectơ truyền tuyến trùng nguy hiểm và đang là
đối tợng phòng trừ ở Nhật Bản, các nớc Bắc Mỹ, Trung Quốc và Hàn Quốc. Loài xén tóc này
một năm có 2 thế hệ. Giai đoạn 1 từ giữa tháng 4 đến cuối tháng 4 và giai đoạn 2 từ cuối tháng 9
đến đầu tháng 10.
4.1.5. Phòng trừ bệnh héo thông do tuyến trùng đợc tiến hành bằng biện pháp phòng trừ tổng hợp. Khi
rừng khép tán, tỉa tha rừng đến mật độ 1000 1250 cây/ha, Chặt và đa toàn bộ cây bị bệnh ra
khỏi rừng, đốt để tiêu diệt sâu non và tuyến trùng trong thân cây bị bệnh. Sử dụng thuốc dẫn dụ
hoá học Hodolon để bẫy xén tóc trởng thành trong thời kỳ vũ hoá từ tháng 3 đến tháng 5 và từ
14
tháng 9 đến tháng 10 hàng năm. Dùng bẫy cây tơi để dẫn dụ xén tóc trởng thành đến để trứng
cũng có hiệu quả hạn chế sự lây lan của dịch bệnh.
Tài liệu tham khảo chính
Kishi Yoichi. 1995. The pine wood nematode and the Japanese pine sawyer. Thomas Company