PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH OAI
TRƯỜNG THCS PHƯƠNG TRUNG
.
Đề tài : Áp dụng phương pháp bàn tay nặn bột vào
giảng dạy bộ môn vật lí”
Người thực hiện:Nguyễn Thị Thanh Tâm
Năm học :2015-2016
Phòng GD ĐT Thanh Oai
Trường THCS Phương Trung
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
1
ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học 2015-2016
SƠ YẾU LÍ LỊCH
Họ và tên : Nguyễn Thị Thanh Tâm
Ngày, tháng , năm sinh: 9-12-1982
Năm vào ngành : 1-11-2012
Chức vụ : Giáo viên
Đơn vị công tác : Trường THCS Phương Trung
Trình độ chuyên môn : Đại học lý
Hệ đào tạo : Từ xa
Bộ môn giảng dạy: Vật lý 8 và vật lý 9
thức đã được thầy cô giảng dạy.
Vật lí học là cơ sở của nhiều ngành kĩ thuật quan trọng. Sự phát triển của
khoa học vật lí gắn bó chặt chẽ và có tác động qua lại trực tiếp với sự tiến bộ của
khoa học kĩ thuật. Vì thế, những hiểu biết và nhận thức về vật lí có giá trị to lớn
trong đời sống và sản xuất, đặt biệt trong công cuộc xây dựng đất nước.
Bên cạnh đó, môn vật lí có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục
tiêu đào tạo của trường trung học cơ sở. Chương trình vật lí trung học cơ sở có
nhiệm vụ cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức vật lí cơ bản, ở trình độ
này bước đầu hình thành ở học sinh những kĩ năng cơ bản phổ thông vá thói
quen làm việc khoa học, góp phần tạo ra ở các em năng lực nhận thức và các
phẩm chất nhân cách mà mục tiêu giáo dục đề ra.
Đổi mới phương pháp dạy nhất là tăng cường hướng dẫn học sinh thực
hành thí nghiệm, giáo viên phải làm sao phát huy tính tích cực chủ động lĩnh hội
tri thức của học sinh. Giáo viên với vai trò là người chỉ đạo giúp học sinh giải
quyết vấn đề mới nẩy sinh hoặc mâu thuẫn nhận thức.
1.2. Cơ sở thực tế:
Sau một thời gian giảng dạy Vật lý ở trường THCS Phương Trung ,THCS
Liên Trung (Đan Phượng )và đến thăm quan một số trường khác trong huyện
nữa,tôi nhận thấy một số điều sau:
Vật lý cũng như các môn học khác, có vai trò tác động đến con người
không chỉ về trí tuệ mà còn cả về tư tưởng, tình cảm. Bên cạnh đó, còn góp phần
xây dựng con người phát triển hoàn thiện về: “ĐỨC-TRÍ-THỂ-MĨ”. Ở những
mức độ khác nhau . Mặc dù có vai trò, chức năng, nhiệm vụ quan trọng trong
giáo dục thế hệ trẻ, nhưng hiện nay, việc dạy học Vật lý chưa hoàn thành tốt vai
trò của mình và một thực tế đáng buồn là học sinh không thích học môn Vật lý,
sợ học môn Vật lý . Các em tiếp thu kiến thức một cách hời hợt, thiếu chính xác,
thiếu hệ thống. Vì đa phần các em cho rằng học Vật lý phải ghi nhớ quá nhiều
kiến thức khô khan, không chịu vận dụng vào thực tế.
3
+Phương pháp kiểm tra , đối chiếu, so sánh
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
+Học sinh lớp 8A1 trường THCS Phương Trung
+Phạm vi nghiên cứu : Trong suốt năm học 2015-2016
5. Kế hoạch nghiên cứu
Tháng 9-10 : khảo sát thực tế
Tháng 11-12: Nghiên cứu tìm giải pháp khắc phục những tồn tại về kĩ năng làm
thí nghiệm vật lý
4
Các tháng còn lại áp dụng những giải pháp đã tìm để nâng cao kĩ năng làm thí
nghiệm vật lý kết hợp sử dụng nhiều dụng cụ thí nghiệm sẵn có ,sưu tầm,tự làm.
6.Tài liệu tham khảo:
1. Sách giáo khoa vật lí 8– NXB giáo dục.
2. Sách giáo viên vật lí 8– NXB giáo dục, Một số vấn đề đổi mới phương pháp
dạy học môn vật lí THCS – NXB giáo dục.
3.Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên THCS chu kì III – NXB giáo
dục
4.Tài liệu tập huấn giáo viên môn vật lí về dạy học: Áp dụng phương pháp bàn
tay nặn bột vào giảng dạy bộ môn vật lí
PHẦN II.
NỘI DUNG
I-CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN:
1- Cơ sở lí luận:
Như chúng ta đã biết phương pháp BTNB là một phương pháp dạy học tích cực
chú ý nhiều đến việc rèn luyện kỹ năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói và viết
cho HS.
Môn vật lý là môn học trực quan, kiến thức hình thành cho học sinh thông
qua các hiện tượng, từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng. Do đó các thí
nghiệm (TN) và các phương tiện nghe nhìn (PTNN) có vai trò rất quan trọng
trong dạy học Vật lí.
TN là nguồn cung cấp thông tin chính xác, tin cậy, dễ hiểu, TN là phương tiện
tốt nhất để kiểm tra tính đúng đắn của kiến thức Vật lí, TN có tác động mạnh đến
các giác quan của học sinh trong dạy học, TN là phương tiện rèn luyện sự khéo
léo cho học sinh, TN góp phần đánh giá năng lực nhận thức và làm phát triển
khả năng tư duy và TN giúp củng cố vận dụng kiến thức vững chắc.
2.2. Về phía giáo viên:
Giáo viên luôn có tinh thần sáng tạo, tìm tòi giải pháp cho học sinh thí
nghiệm thực hành để các em làm quen dần với khoa học, qua đó nhằm rèn thêm
kĩ năng và thao tác trên dụng cụ.
Bên cạnh đó, khả năng của giáo viên còn hạn chế trong việc tự làm thiết bị
dạy học, hạn chế về thời gian, kinh phí…
Phương tiện nghe nhìn cũng có vai trò quan trọng, nên giáo viên cần quan
tâm sử dụng chúng trong dạy học vật lí. Mỗi loại PTNN có chức năng khác
nhau, người GV cần khai thác các tiềm năng vốn có trong việc chuyển tải tri
thức của các loại PTNN khác nhau. Có như thế, PTNN mới hỗ trợ có hiệu quả
cho hoạt động của thầy và trò trên giờ lên lớp.
2.3 .Về cơ sở vật chất:
6
Ngay từ đầu năm, nhà trường đã kiểm tra, giám sát việc sử dụng đồ dùng
thiết bị dạy học. Trường có trang bị thiết bị thực hành nhưng chất lượng chưa
cao. Bên cạnh đó, không có phòng học thí nghiệm nên cũng khó khăn cho giờ
dạy Vật lý
hành khảo sát thực tế, kết quả như sau:
Số học sinh thích học môn vật lý là: 10 em
Số học sinh thấy bình thường là : 18 em
Số học sinh sợ học vật lý là : 17 em
3. Các giải pháp :
7
Ứng dụng phương pháp bàn tay nặn bột hiệu quả trong giảng dạy môn
vật lý
* Đặc trưng cơ bản của Phương pháp BTNB:
- Bản chất: Việc phát hiện, tiếp thu kiến thức của học sinh thông qua việc GV
giúp HS tự đi lại chính con đường mà các nhà khoa học đã nghiên cứu tìm ra
chân lý (kiến thức): Từ tình huống xuất phát, nêu vấn đề, quan niệm về vấn đề
đó như thế nào, đặt câu hỏi khoa học (giả thuyết khoa học), đề xuất phương pháp
nghiên cứu, thực hiện phương pháp nghiên cứu để kiểm chứng giả thuyết, đưa ra
kết luận.
- Đặc trưng:
+ Dạy học phải tự nhiên như qúa trình tìm ra chân lý.
+ Với PPBTNB, kể cả HS đọc sách trước; học thêm trước hoặc biết trước KT thì
chưa chắc HS hiểu tường tận và đề xuất thí nghiệm CM cho phát biểu đúng. HS
sẽ lúng túng khi hỏi lại: vì sao em biết điều đó? Làm thế nào để em có thể chứng
minh kết luận của em đúng?. Nếu dạy trước thì tiết học không hấp dẫn;
+ PPBTNB chú trọng đến quan niệm ban đầu của học sinh về kiến thức mới sẽ
học.
+ Sử dụng PPBTNB không được nhận xét quan điểm của ai đúng, ai sai. Thông
qua thí nghiệm, chính HS sẽ tự đánh giá đúng hay sai.
+ PPBTNB áp dụng chủ yếu cho dạy khoa học tự nhiên, công nghệ, khoa học
TN, các chủ đề gắn với đời sống thực tiên của HS;
+ Trong CT hiện nay có bài áp dụng cả, có bài áp dụng một phần,
- Xác định được độ lớn của lực đẩy Ác - si - mét khi một vật nổi trên mặt thoáng
của chất lỏng.
- Nêu được điều kiện một vật chìm, nổi, lơ lửng trong chất lỏng.
9
II. Thiết bị dạy học:
- Bộ thí nghiệm về lực đẩy Ác - si - mét;
- Bóng bàn: 3 quả;
- Bình thủy tinh 500ml;
- Xilanh và kim tiêm.
III. Tiến trình dạy học cụ thể:
Hoạt động của giáo viên
Hoạt động của học sinh
Pha 1: Tình huống xuất phát.
GV gợi lại cho HS thấy rằng khi thả HS nêu được một số ví dụ trong thực tế
các vật vào nước ta thường thấy có vật như:
thì chìm vào trong nước nhưng có vật - Hòn đá/sỏi/gạch... chìm trong nước;
thì nổi trên mặt nước.
- Tàu, thuyền, xuồng... nổi trên mặt
Yêu cầu HS lấy một số ví dụ trong nước;
thực tế về các vật nổi/chìm trong nước
- Cái lá, miếng bấc... nổi trên mặt nước;
và nêu câu hỏi:
Với điều kiện nào thì một vật chìm ...
trong nước? Với điều kiện nào thì một
vật nổi trên mặt nước?
Pha 2: Hình thành câu hỏi của học sinh
như:
Từ những quan niệm ban đầu, HS đưa
ra các câu hỏi như:
- Lực "đỡ" cho các vật nổi trên mặt
nước có liên quan gì đến phần vật bị
- Có vật rất nặng nhưng nổi, ngược lại ngập trong chất lỏng không?
10
có vật rất nhẹ nhưng lại chìm;
- Với các vật bị chìm vào trong nước
- Các vật nổi luôn có một phần bị ngập thì có lực "đỡ" như đối với các vật nổi
trong nước. Vật càng nặng thì phần bị không?
chìm vào nước càng nhiều;
- Các vật nổi có thể nằm cân bằng trên
mặt nước.
...
GV yêu cầu HS đề xuất các phương án
thí nghiệm nhằm tìm kiếm câu trả lời
cho các câu hỏi mà HS nêu ra bằng
cách nêu các câu hỏi:
HS đề xuất các phương án thí nghiệm:
- Theo các em, ta có thể kiểm tra xem
vật bị ngập trong nước có chịu tác
dụng của lực "đỡ" như trường hợp vật
- Xi lanh có kim tiêm;
- Bộ thí nghiệm lực đẩy Ác - si - mét
gồm: bình chia độ, bình tràn, lực kế và
giá thí nghiệm, vật hình trụ có vạch
chia, cốc nhựa hình trụ cùng thể tích
với vật có vạch chia.
- Dùng xilanh bơm một ít nước vào một
trong các quả bóng bàn rồi thả vào
nước, quan sát và đánh dấu phần ngập
trong nước.
- Bơm dần nước vào trong quả bóng
Yêu cầu HS tiến hành thí nghiệm, vẽ bàn và lặp lại thí nghiệm, quan sát, ghi
hình bố trí thí nghiệm và ghi các kết lại kết quả và nhận xét.
quả thí nghiệm vào vở thực hành.
TN2:
Trong quá trình HS làm thí nghiệm, - Treo quả nặng hình trụ có vạch chia
GV đi đến từng nhóm để giúp đỡ HS vào lực kế (treo trên giá thí nghiệm) để
khi cần, quan sát nhanh vở thực hành đo trọng lực của nó ngoài không khí,
11
của HS để nắm bắt các kết quả thí
nghiệm. Đưa ra những gợi ý, hướng
dẫn cần thiết để các nhóm đi đúng
hướng, tuy nhiên, không làm giúp HS.
ghi lại kết quả đo.
- Giữ nguyên vật trên lực kế, thả cho
hơn trọng lực thì vật sẽ nổi lên trên mặt chất lỏng.
- Khi đã nổi trên mặt chất lỏng thì lực đẩy Ác - si - mét (độ lớn chỉ còn bằng
trọng lượng của phần thể tích chất lỏng bị vật chiếm chỗ) cần bằng với trọng lực
tác dụng lên vật.
- Trường hợp đặc biệt, nếu khi vật bị ngập hoàn toàn trong chất lỏng mà lực đẩy
Ác - si - mét đúng bằng trọng lực tác dụng lên vật thì vật sẽ lở lửng trong chất
lỏng. Khi đó, trọng lượng riêng của chất làm vật đúng bằng trọng lượng riêng
của chất lỏng.
- Từ đó quy ra:
12
Khi dv > dcl thì vật chìm;
Khi dv < dcl thì vật nổi;
Khi dv = dcl thì vật lơ lửng;
GV phát cho HS phiếu tổng kết kiến
thức, giao cho HS tiếp tục đề xuất
phương án thí nghiệm để nghiệm lại
công thức tính lực đẩy Ác - si - mét và
tìm cách làm cho quả bóng bàn lơ lửng
trong nước.
Nhận các phiếu tổng kết kiến thức và
dán vào vở thí nghiệm.
Đề xuất phương án thí nghiệm và
chuẩn bị cho buổi thực hành tiếp theo.
5. Hiệu quả của sáng kiến:
Qua một thời gian nghiên cứu, tìm hiểu về việc học môn Vật lý có sự kết hợp
việc thực hiện đề tài, giảng dạy áp dụng phương pháp bàn tay nặn bột ở trường
%
S.lượng
%
15 em 33,3%
5
11,1%
1 em
2,3%
0
0
III- KẾT LUẬN
Dạy học liên môn là một nguyên tắc quan trọng trong dạy học nói chung
và trong dạy học Vật lý nói riêng. Tuy nhiên để thực hiện tốt và có hiệu quả đòi
hỏi sự nỗ lực ở cả thấy và trò. Và việc thực hiện nó không phải bài nào, không
phải phần nào cũng thực hiện được. Ưu điểm của việc ứng dụng phương pháp
bàn tay nặn bột
-Tiến trình tìm tòi nghiên cứu của học sinh không phải là một đường
thẳng đơn giản mà là một quá trình phức tạp.
- Học sinh tiếp cận vấn đề đặt ra qua tình huống (câu hỏi lớn của bài
học); nêu các giả thuyết, các nhận định ban đầu của mình, đề xuất và tiến hành
các thí nghiệm nghiên cứu; đối chiếu các nhận định (giả thuyết đặt ra ban đầu);
đối chiếu cách làm thí nghiệm và kết quả với các nhóm khác;
13
-Nếu không phù hợp học sinh phải quay lại điểm xuất phát, tiến hành
lại các thí nghiệm hoặc thử làm lại các thí nghiệm như đề xuất của các nhóm
khác để kiểm chứng; rút ra kết luận và giải thích cho vấn đề đặt ra ban đầu.
-Trong quá trình này, học sinh luôn luôn phải động não, trao đổi với các
+ Không nêu tên bài học trước khi học (với những bài thể hiện nội dung bài học
ở đề bài).
+ Lựa chọn hoạt động phù hợp với PP BTNB để áp dụng, không nhất thiết hoạt
động nào cũng áp dụng PP.
+ Lưu ý về Kĩ thuật thảo luận nhóm
14
Tuy nhiên theo ý kiến chủ quan của tôi, để khắc phục tình trạng dạy- học Vật
lý như hiện nay, không chỉ đổi mới phương pháp mà phải thay đổi cả cách suy
nghĩ của mọi người, của xã hội về vị trí của môn Vật lý trong việc đào tạo con
người. Hơn nữa, để cải thiện chất lượng dạy và học môn Vật lý hiện nay không
phải chỉ có giáo viên cố gắng mà học sinh cũng phải ý thức hơn trong việc học
tập. Thử hỏi giáo viên dạy hay, tiết học sinh động, hấp dẫn nhưng học sinh
không học bài, không chuẩn bị bài, không đọc sách giáo khoa, vậy thì kết quả sẽ
như thế nào? Vì vậy để nâng cao chất lượng dạy - học môn Vật lý cũng như chất
lượng giáo dục cần có sự quan tâm của tất cả mọi người, của cả xã hội.
IV- KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT:
Để tiến tới việc dạy học tích hợp các môn học trong nhà trường, cần:
- Trước hết cần đào tạo bồi dưỡng đội ngũ chuyên gia về dạy bằng PP
BTNB theo hướng chung của nhiều nước.
- Thiết kế lại nội dung chương trình - sách giáo khoa các môn học theo PP
BTNB.
- Bồi dưỡng và nâng cao năng lực cho đội ngũ giáo viên để đáp ứng được
yêu cầu học tập.
- Thiết kế lại chương trình đào tạo giáo viên trong các trường sư phạm từ
mục tiêu đến nội dung, PP để chuẩn bị năng lực cho đội ngũ giáo viên khi thực
hiện chương trình.
- Đổi mới cách thức tổ chức quản lý trong Nhà trường, cách kiểm tra đánh
Ý KIẾN NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI
CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CỞ SỞ:
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------16
----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------Chủ tịch
(Ký tên, đóng dấu)
MỤC LỤC
Phần I. Đặt vấn đề
1.Lí do chọ đề tài
2. Mục đích nghiên cứu sáng kiến kinh nghiệm
3. Phương pháp nghiên cứu
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5. Kế hoạch nghiên cứu
6.Tài liệu tham khảo
Phần II. Nội dung
Trang
3
3
4
5
5
5
5
6
17
18