BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
----------------
TRẦN TRUNG THÀNH
NGHIÊN CỨU DIỄN BIẾN MỘT SỐ YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG RỪNG
DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG THỨC SỬ DỤNG ĐẤT THUỘC
DỰ ÁN RENFODA KHU VỰC XUNG YẾU VÙNG VEN HỒ SÔNG ĐÀ
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60.62.60
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGÔ ĐÌNH QUẾ
Hà Nội, 2010
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Vùng đầu nguồn sông Đà là vùng phòng hộ có vai trò quan trọng đối
với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ta. Trong những năm qua, cùng
với việc xây dựng đập Hoà Bình là việc khai thác rừng bừa bãi, tập quán đốt
nương làm rẫy và phương thức sử dụng đất không hợp lý. Rừng nơi đây đang
đứng trước nguy cơ bị suy thoái nghiêm trọng gây ảnh hưởng xấu đến môi
trường sinh thái, kinh tế xã hội và đời sống cộng đồng trong khu vực. Hậu quả
động nhất định tới môi trường rừng đầu nguồn sông Đà. Để tìm hiểu sâu vấn
đề này chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu : “Nghiên cứu diễn biến một số yếu
tố môi trường rừng dưới tác động của các công thức sử dụng đất thuộc dự
án RENFODA khu vực xung yếu vùng ven hồ sông Đà”.
3
Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Rừng có hai chức năng cơ bản là: Cung cấp nguyên liệu và phòng hộ
môi trường. Trên phạm vi thế giới cũng như Việt Nam, trong những năm gần
đây chức năng cải thiện môi trường của rừng ngày càng trở nên quan trọng và
được chú ý đến nhiều hơn. Vì vậy, rất nhiều chương trình của nhà nước và
các tổ chức Quốc tế về phát triển lâm nghiệp đều hướng tới phục hồi rừng,
phủ xanh đất trống đồi núi trọc nhằm cải thiện môi trường sinh thái ở Việt
Nam. Mặc dù nhà nước đã có những chuyển đổi rất lớn về chiến lược phát
triển rừng theo hướng phòng hộ và cải thiện môi trường, song các nghiên cứu
cơ bản về tác động môi trường của các trạng thái rừng còn rất hiếm hoi. Đây
cũng là tình trạng chung của các nước kém phát triển ở vùng nhiệt đới trong
khi các nước ôn đới đã có khá nhiều nghiên cứu cơ bản về vấn đề này, tuy
nhiên ít có thể áp dụng trong điều kiện kinh tế, tự nhiên ở các nước nhiệt đới
cũng như ở Việt Nam.
Do thiếu các nghiên cứu cơ bản của ảnh hưởng rừng đến các yếu tố môi
trường, nên các Dự án và chương trình trồng rừng của nước ta từ trước tới nay
rất thiếu cơ sở cho việc chọn cơ cấu cây trồng và các phương thức kinh doanh
lâm nghiệp, chưa phát huy được chức năng phòng hộ và cải thiện môi trường
của mình, nhiều nơi, đã ảnh hưởng xấu đến môi trường và phòng hộ.
Chính vì vậy mà việc nghiên cứu diễn biến của một số yếu tố môi
trường rừng đến các các công thức sử dụng đất là một vấn đề hết sức cần
tế do Bạch đàn đưa lại còn lớn hơn nhiều so với mặt hại nếu có.
Theo Smith.C.T (1994) thì việc trồng rừng có thể đem lại những ảnh
hưởng tích cực khi mà độ phì đất được cải thiện. Ngược lại nó đem lại ảnh
hưởng tiêu cực nếu nó làm mất cân bằng hay cạn kiệt nguồn dinh dưỡng trong
đất. Nhìn chung việc trồng rừng cải thiện các tính chất vật lý đất. Tuy nhiên
việc sử dụng cơ giới hoá trong xử lý thực bì, khai thác, trồng rừng là nguyên
nhân dẫn đến sự suy giảm sức sản xuất của đất.
5
Trong vùng nhiệt đới, rừng cây mọc nhanh ảnh hưởng đến đất không
chỉ ở việc tiêu thụ dinh dưỡng. Một yếu tố quan trọng hơn là có sự đảo lộn
quá trình trao đổi vật chất giữa rừng và đất khi thay các hệ sinh thái tự nhiên
đa dạng, bằng một hệ sinh thái nhân tạo độc canh.
Theo Lee Soo-hwa (2007) cho rằng đất rừng tốt có thể thấm được
khoảng 250 mm nước mưa trong một giờ. Tuy nhiên, cũng theo ông thì rừng
không qua tác động cải thiện cấu trúc sẽ không tốt cho cải thiện nguồn nước
thậm chí còn làm tăng sự thiếu nước do làm cho một lượng lớn bị ngăn giữ từ
các tầng tán và bốc hơi. Ngược lại, khi rừng được cải thiện tầng tán thì sẽ tạo
điều kiện cho nước mưa thấm vào đất nhiều hơn, sự chiếu sáng sẽ làm cho các
vi sinh vật đất như giun hoạt động tốt hơn vì vậy có tác dụng duy trì nguồn
nước và cải thiện nguồn nước tốt hơn. Các khu rừng được cải thiện cấu trúc
tốt đã được chứng minh là có tác dụng ngang bằng và đôi khi còn nhỏ hơn cả
các đập nước trong việc làm giảm các vấn đề do nước gây ra dù đó là lũ lụt
hây hạn hán (Lee-Soo-hwa, 2007, />Theo Nisbet (2001), bản thân rừng có thể có tác dụng làm giảm dòng
chảy mặt và chống xói mòn tốt, tuy nhiên các hoạt động trồng rừng và tác
động vào rừng như: Làm đường, làm đất trồng rừng, khai thác...có thể làm
tăng dòng chảy mặt và xói mòn cho lưu vực.
Theo Farley và cộng sự (2005) đã chỉ ra rằng khi đất trảng cỏ và đất
chảy cũng như lượng nước được tích trữ trong lưư vực. Tổng sản lượng nước
hàng năm của lưu vực tăng lên khi tăng tỷ lệ khai thác rừng, và sản lượng
nước lớn nhất ứng với phương thức chặt trắng toàn diện. Mặc dù việc trồng rừng và
những biện pháp bảo tồn đất có những tác dụng nhất định trong việc giảm đỉnh lũ
nhưng ít có trường hợp nào cho thấy các biện pháp đó có tác dụng làm tăng dòng
chảy kiệt (Bruijnzieel, 2004)[29].
7
Nhiều nghiên cứu khác cũng cho thấy việc trồng rừng đã làm giảm sản
lượng nước bình quân và dòng chảy trong mùa khô của lưu vực. Trong không
ít trường hợp, dòng chảy kiệt bị giảm đáng kể sau trồng rừng. Tuy nhiên,
trong một số trường hợp nó lại tăng dòng chảy ngầm và dòng chảy kiệt nhờ
có việc làm tăng tính thấm nước của đất (Van Dijk và Keenan, 2007). Trung
bình, sự giảm sản lượng dòng chảy do trồng rừng biến động trong khoảng từ
50 mm/năm đối với vùng khô cho đến 300 mm/năm đối với vùng ẩm ướt.
Điều đó có thể làm giảm sản lượng nước tương đối năm ở mức 20 - 40% (Ge
Sun và cộng sự, 2005)[30].
Sự ảnh hưởng của rừng trồng tới dòng chảy không chỉ ở diện tích mà
còn sự phân bố của nó và các biện pháp tác động vào rừng (Zhang và cộng sự,
2007)[33]. Ảnh hưởng sự phấn bố không gian của rừng tới nguồn nước đã
được nghiên cứu một cách khá hệ thống trong công trình của Carsten và cộng
sự (2007). Công trình này đã chỉ ra rằng ảnh hưởng của rừng tới nước trên
quy mô rộng vẫn cần phải được nghiên cứu nhiều hơn nữa. Đồng thời các tác
giả đã đề nghị hướng nghiên cứu nên tập trung giải quyết các vấn đề còn bỏ
ngỏ như: Xác định những tính chất quan trọng về trạng thái cấu trúc của rừng
để chúng ta có thể căn cứ vào đó mà điều khiển số lượng và chất lượng nước
trong lưu vực; xác định vị trí, quy mô và sự phân bố không gian tốt nhất của
rừng để tối ưu hoá các ảnh hưởng tốt đến chất chất lượng và sản lượng nước;
tự nhiên ở nước ta cũng đã được quan tâm chú ý từ đầu những năm 1970 với
cơ sở ban đầu do Liên Xô cũ giúp đỡ, nội dung nghiên cứu tập trung vào khả
năng chống xói mòn và điều tiết nước của các trạng thái rừng; các nội dung
nghiên cứu khác như vai trò điều tiết tiểu khí hậu, đất đai... cũng được quan
tâm nhưng chưa nhiều và hệ thống.
Từ năm 1973 đến năm 1981 Viện Nghiên cứu Lâm nghiệp đã xây dựng
các khu nghiên cứu thuỷ văn rừng định vị ở Núi tiên (Hữu Lũng) và Tứ Quận
(Hà Tuyên). Các công trình nghiên cứu trong thời gian này tập trung chủ yếu
9
vào nghiên cứu một số các nhân tố khí hậu rừng, khả năng ngăn cản nước
mưa của tán rừng, ảnh hưởng của độ tàn che rừng tới khả năng giữ đất và điều
tiết dòng chảy mặt của rừng như công trình của Bùi Ngạnh và Nguyễn Danh
Mô (1977)[16], của Bùi Ngạnh và Nguyễn Ngọc Đích (1985)[15],... Đây là
những công trình nghiên cứu khởi điểm rất quan trọng, tạo lập được một số cơ
sở khoa học cho việc xây dựng rừng giữ nước, bảo vệ đất ở nước ta đồng thời
cũng mở ra một hướng nghiên cứu mới, định lượng về thuỷ văn rừng.
Trong những năm 1980 các công trình nghiên cứu đã tập trung vào xói
mòn đất và khả năng giữ nước của một số thảm cây trồng nông nghiệp và
công nghiệp, đặc biệt là ở các vùng Tây Nguyên. Trong thời gian này nhiều
khu nghiên cứu quan trắc định vị đã được xây dựng kiên cố bằng gạch và xi
măng, gỗ, kim loại,… Hàng loạt các công trình mang nhiều sắc thái và đi vào
định lượng một cách vững chắc như công trình nghiên cứu của Nguyễn
Quang Mỹ, Lê Thạc Cán (1983)[13], của Nguyễn Quang Mỹ, Quách Cao
Yêm, Hoàng Xuân Cơ (1984)[14],… Những công trình nghiên cứu này đã
làm rõ ảnh hưởng của nhân tố địa hình tới xói mòn, vai trò phòng hộ về chống
xói mòn của một số thảm thực vật nông nghiệp, đã chú ý tới độ che phủ gắn
liền với các giai đoạn phát triển của cây trồng, định hướng cho việc xây dựng
khô. Về giá trị tuyệt đối , lớp thảm mục có thể hút được 35,840 lít nước trên
1 ha rừng tự nhiên, tương đương với một trận mưa 3,6 mm (Nguyễn Quang
Mỹ, 1990)[12]. Tuy nhiên theo Phạm Văn Điển (2006) thì tỷ lệ % lượng nước
hữu hiệu của vật rơi rụng thấp hơn tỷ lệ % lượng giữ nước tối đa của nó. Nhìn
chung, lượng nước hữu hiệu của vật rơi rụng chỉ đạt từ 2,5 - 83,2 mm/ha.năm,
tương đương với mức 0,1 - 4,6% tổng lượng mưa. Như vậy khả năng giữ
nước của vật rơi rụng rất hạn chế (Phạm Văn Điển, 2006)[5].
Các nghiên cứu của Vũ Thanh Te, Trần Quốc Thưởng, Phạm Anh Tuấn
(2005) về tác động của lớp phủ thực vật đến khả năng gây xói mòn đất và vận
chuyển bùn cát trên lưu vực sông chợ Lèn đã nhận thấy lớp phủ thực vậy càng
11
dày thì khả năng làm chậm dòng chảy trên bề mặt sườn dốc càng tăng (từ 7 11 lần) (Lại Thị Loan, 2009)[10].
Khi so với lượng mưa, dòng chảy mặt biến động rất lớn và thường dao
động trong khoảng từ 3 - 5% đối với rừng Thông (Phùng Văn Khoa, 1997),
5,2 - 28,7% - trong đó cao nhất ở trảng cỏ đến thảm cây bụi, rừng trồng và
thấp nhất ở rừng tự nhiên (Phạm Văn Điển, 2006). Lượng dòng chảy mặt phụ
thuộc vào nhân tố lượng mưa, địa hình, tính chất đất, cấu trúc thảm thực vật
và cả phương pháp quan trắc. Hệ số dòng chảy mặt thường có liên hệ chặt chẽ
với các nhân tố độ dốc mặt đất, hệ số xói mòn đất, độ giao tán hoặc độ tàn che
tầng cây cao, độ che phủ của thảm tươi cây bụi và độ che phủ của rừng (Phạm
Văn Điẻn, 2006).
Trong nghiên cứu về vai trò bảo vệ nguồn nước của 4 dạng thảm thực
vật (thảm cây bụi cao, thảm cây bụi thấp, rừng trồng Keo và rừng trồng Bạch
đàn), Nguyễn Thế Hưng 2008 đã cho thấy khả năng giữ nước của các thảm
thực vật giảm dần từ thảm cây bụi cao đến rừng trồng Keo, rừng trồng Bạch
đàn và thấp nhất là thảm cây bụi thấp, với tổng lượng nước hàng năm giữ
được trong các thảm thực vật tương ứng là 988,97 tấn/ha, 639,07 tấn/ha,
Một số công trình nghiên cứu về sử dụng đất dốc, hạn chế xói mòn và
tăng độ phì của đất cho một số vùng với những đối tượng cụ thể. Việc thiết
lập băng cây xanh theo đường đồng mức nhằm cắt dòng chảy bề mặt có hiệu
quả cao, lượng nước trôi có thể giảm từ 31% - 42%, lượng đất trôi có thể
giảm 49% - 52% và năng suất cây trồng tăng 41% - 43% (Đậu Cao Lộc và
các cộng tác viên, 1998). Mặc dù hàng rào cây xanh họ đậu chiếm khoảng
10% diện tích, song năng suất cây trồng vẫn tăng 15 - 25% so với không làm
băng xanh (Nguyễn Tử Xiêm và Thái Phiên, 1999)[22].
Số liệu nghiên cứu của Nguyễn Quang Mỹ (1984)[14] ở Tây Nguyên
cho thấy độ tàn che của thảm cây trồng có ảnh hưởng rất lớn tới độ vẩn đục
13
của dòng chảy (hay còn gọi là dòng rắn), thảm cây trồng có độ che phủ yếu
thì nồng độ đậm đặc của dòng chảy chiếm tỉ lệ cao hơn.
Nghiên cứu của Trần Quang Bảo (1999)[1] tại Cẩm Xuyên – Hà Tĩnh
cho thấy cường độ xói mòn đất dưới tán rừng Bạch đàn trắng phụ thuộc vào
mật độ rừng trồng và độ xốp, độ dốc, độ dày tầng đất.
Thí nghiệm xói mòn dưới các thảm thực vật nông nghiệp khác ở Tây
nguyên được Nguyễn Quang Mỹ nghiên cứu vào những năm 1980 cho thấy
rằng lượng nước tạo dòng và tổn thất về đất phụ thuộc vào đặc điểm che phủ
của các thảm cây trồng. Trong những điều kiện như nhau về đất, vi khí hậu,
địa hình, kỹ thuật canh tác,… nhưng khác nhau về thảm cây trồng thì lượng
nước tạo dòng và xói mòn đất ở đó khác nhau. Hay nói cách khác đi , ở đâu
có độ che phủ đất kém thì dòng chảy mặt và đất xói mòn lớn hơn. Cụ thể đất
khai hoang chiếm 20%; đất trồng lạc chiếm 19%; đất trồng sắn và ngô chiếm
14%; đất trồng lúa chiếm 13,5%; đất trồng cỏ 12%; đất trồng khoai lang
5,5%; đất trồng cafe lâu năm tán che kín thì lượng nước tạo dòng còn lại 2%.
Nghiên cứu về quan hệ rừng Bạch đàn tới môi trường có khá nhiều các
Hiện nay ở Việt Nam trồng chủ yếu 3 loài Keo là: Keo lá tràm, Keo tai
tượng và Keo lai. các loài Keo này được nhiều nghiên cứu ghi nhận là cây có
ảnh hưởng tốt với môi trường như: Có khả năng cố định đạm, cải thiện độ xốp
của đất. Do sinh khối lớn, sinh trưởng nhanh nên lượng rơi rụng, phân giải
chất hữu cơ dưới rừng trồng Keo hàng năm là khá lớn đảm bảo cân bằng dinh
dưỡng trong đất.
Nghiên cứu về mối liên hệ giữa rừng trồng Keo và môi trường: Có các
công trình của Đỗ Đình Sâm, Ngô Đình Quế [19] nghiên cứu về diễn biến độ
phì của đất dưới các rừng trồng Keo ở các cấp tuổi. Trong đố đề cập đến ảnh
hưởng của rừng đến các yếu tố như: Độ xốp của đất, biến đổi hàm lượng mùn,
N,P,K, yếu tố thảm thực vật dưới tán, số lượng vi sinh vật trong đất. Trong
15
thời gian tới cần bổ sung một số nghiên cứu về ảnh hưởng của rừng Keo tới
thảm thực vật dưới tán và khả năng hấp thụ khí nhà kính.
Nhìn chung, một số công trình nghiên cứu ở trong nước cho thấy các
công trình nghiên cứu về tác động của rừng đến môi trường được khởi đầu
khá muộn so với nhiều lĩnh vực khác nhưng lại không được tiến hành liên tục
và toàn diện cả về nội dung, không gian và đối tượng nghiên cứu, vì vậy cho
tới nay còn khá nhiều câu hỏi chưa có lời giải đáp. Mặc dù vậy, các kết quả
nghiên cứu cũng đã tạo ra những cơ sở khoa học cho xây dựng rừng phòng hộ
ở nước ta trong những năm qua. Do vậy việc nghiên cứu diễn biến về môi
trường rừng dưới tác động của các công thức thí nghiệm khác nhau về sử
dụng đất là một vấn đề đặt ra hết sức cấp bách và cần thiết cho việc xây dựng
các mô hình trồng rừng phục vụ cho công tác trồng rừng phòng hộ khu vực
ven hồ Hoà Bình đạt hiệu quả cao.
17
+ Công thức T4: Trồng cây bản địa thuần loài.
+ Công thức L1: Giữa 2 hàng Luồng trồng một hàng cây bản địa thuần loài.
+ Công thức L2: Giữa 2 hàng Luồng trồng 2 hàng cây bản địa.
+ Công thức đối chứng không trồng rừng (đất trống).
2.4. Giới hạn của đề tài
2.4.1. Về không gian
Đề tài chỉ nghiên cứu ở khu vực xung yếu vùng lòng hồ sông Đà nằm
trên địa bàn xã Bình Thanh, huyện Cao Phong, tỉnh Hoà Bình. Thuộc dự án
Phục hồi rừng đầu nguồn tự nhiên bị suy thoái tại miền Bắc Việt Nam
(RENFODA) do tổ chức JICA tài chợ.
2.4.2. Về thời gian
Do thời gian điều tra còn ngắn nên đề tài chỉ có thể đánh giá được bước
đầu hiệu quả của một số công thức sử dụng đất đến khả năng chống xói mòn,
rửa trôi các chất dinh dưỡng trong đất từ năm 2004 - 2009.
18
2.5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chung
Nghiên cứu diễn biến một số yếu tố môi trường dưới tác động của các
công thức sử dụng đất
Nghiên
cứu về
sinh
trưởng
củaDiê
hưởng
của
các
công
thức
sử
dụng
đất
đến
dòng
chảy
bề mặt
Ảnh
hưởng
của
các
công
thức
Sử
dụng
đấtđến
tính
chất
đất
Ảnh
hưởng
của các
công
2.5.1. Phương pháp ngoại nghiệp (Phương pháp bố trí thí nghiệm và giải
pháp kỹ thuật của dự án)
2.5.1.1. Đối Với nội dung 1
(1) Với công thức T2
- Trồng Keo lai (Acacia hybrid) và cây bản địa cùng một lúc (gồm
những loài cây như: Lim xanh (Erythrophleum fordii), Lim xẹt (Pentophorum
pterocarpum), Giẻ đỏ (Lithocarpus ducampii), Re gừng (Cinamomum
obtusifolium), Sao đen (Hopea odorata). Diện tích 1,8 ha.
- Mỗi công thức thí nghiệm được lặp lại 3 lần với diện tích 0,6 ha/ô,
giữa các ô thí nghiệm được chừa 2m làm gianh giới.
+ Giải pháp kỹ thuật
- Xử lý thực bì: Phát dọn thực bì toàn diện, xếp dọn thực bì đã phát
thành từng giải theo đường đồng mức (giữa 2 hàng cây)
- Làm đất: làm đất theo phương thức cục bộ, đào và lấp hố trước khi
trồng 1 tháng, kích thước hố trồng keo là 40 x 40 x 40 cm, hố trồng cây bản
địa có kích thước 50 x 50 x 50 cm.
- Mật độ trồng: Keo lai 830 cây/ ha (6 x 2m). Cây bản địa 660 cây/ ha
trồng xen giữa 2 hàng Keo (6 x 2,5m)
Các loài cây trồng trên có tiêu chuẩn như sau:
- Keo: được gieo từ hạt trong bầu PE , có chiều cao H 0,4m, Do 0,4
cm, cân đối, sinh lực tốt không sâu bệnh.
- Cây bản địa: được giao từ hạt trong bầu PE, cây con đạt trên 20 tháng
tuổi với H 0,6 - 0,75 m, Do 0,5 – 0,7 cm, cân đối, sinh lực tốt không sâu bệnh.
- Thời vụ trồng vào vụ xuân hè (tháng 5 - 6)
- Bón phân: bón lót 200g phân vi sinh sông gianh và 200g NPK 5:10:3/
hố. Bón thúc 150g NPK 5:10:3.
+ Chăm sóc:
20
21
- Tiêu chuẩn cây trồng:
- Hạt Cốt khí: Hạt mẩy, đều, không có mầm bệnh.
- Cây bản địa: Được gieo từ hạt trong bầu PE loại 10 x15, từ 20 tháng
tuổi trở lên, có H = 0,6 - 0,75m, D = 0,5 - 0,7cm trở lên (tuỳ theo từng loài
cây cụ thể), cân đối, sinh lực tốt, không sâu bệnh.
- Thời vụ trồng rừng: Vụ Xuân - Hè (tháng 5 - tháng 6).
- Bón phân: + Bón lót: Mỗi hố bón lót 200g phân vi sinh Sông Gianh
và 200g NPK 5: 10: 3.
+ Bón thúc: Mỗi hố bón thúc 150g phân NPK 5: 10: 3.
- Trồng rừng: Khi thời tiết thuận lợi (có mưa) đủ ẩm thì mang cây đi
trồng, trồng cây phải ém chặt gốc và thẳng trục.
- Tiến hành kiểm tra nghiệm thu sau khi trồng 1 tháng.
+ Chăm sóc:
- Năm thứ nhất chăm sóc 2 lần, lần 1 vào tháng 6 - 7 và tháng 10 - 11
- Năm thứ 2 + 3 chăm sóc 3 lần vào các tháng 3 - 4, 7 - 8, 10 - 11.
- Năm thứ 4 + 5 chăm sóc 2 lần vào các tháng 3 - 4, 9 - 10 với nội dung:
Luỗng phát dây leo, bụi rậm, đánh gốc Lau, Chít, Chè vè, xới cỏ, vun gốc, bón phân.
(3) Với công thức L1 và L2.
L1: Trồng 1 hàng Luồng xen một hàng cây bản địa thuần loài
L2: Trồng 1 hàng Luồng xen 2 hàng cây bản địa hỗn giao theo hàng
Mô hình nghiên cứu có tổng diện tích là 1,5 ha và được trồng hỗn giao
theo hàng. Các công thức thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ
với 3 lần lặp, mỗi lần lặp có diện tích 0,25 ha. Loài cây được gây trồng gồm
có 4 loài gồm: Luồng Thanh Hóa (Dendrocalamus membranaceus), Lim xanh
(Erythrophleum fordii), Giẻ đỏ (Lithocarpus ducampii) và Re hương
(Cinamomum parthenoxylum) và các công thức được bố trí trồng như sau:
23
+ Chăm sóc:
- Năm thứ nhất chăm sóc 2 lần, lần 1 vào tháng 8, lần 2 vào tháng 11.
Nội dung chăm sóc gồm: luỗng phát dây leo, bụi rậm, đánh gốc Lau, Chít,
xới cỏ vun gốc và bón phân.
- Năm thứ 2, 3, 4 và 5 chăm sóc 3 lần, lần 1 vào tháng 3, lần 2 vào
tháng 7 và chăm sóc lần 3 vào tháng 11. Nội dung chăm sóc gồm luỗng phát
dây leo, bụi rậm, vun gốc và điều chỉnh không gian dinh dưỡng cho các loài
cây sinh trưởng thông qua viêc điều tiết thảm thực bì.
Thu thập số liệu sinh trưởng (phương pháp chung)
Trên mỗi ô thí nghiệm lập một ô tiêu chuẩn, tuỳ từng công thức thí
nghiệm mà diện tích ô được lập khác nhau sao cho dung lượng đo đếm mỗi
loài cây là 30 cây. Các cây được đánh số thứ tự trong quá trình đo đếm và
được quan sát thu thập số liệu hàng năm. Các chỉ tiêu đo đếm là: Tỷ lệ sống
(%), chỉ tiêu sinh trưởng (D0, Hvn), Chất lượng cây trồng, sâu bệnh hại...
- Tỷ lệ sống được xác định bằng phương pháp đếm số cây chết trong ô
tiêu chuẩn.
- Đo đường kính gốc (D0): Dùng thước kẹp kính có độ chính xác đến
(mm), đo theo hai chiều Đông tây và Nam bắc tại vị trí gốc, sau đó lấy trung
bình giữa hai lần đo.
- Đo chiều cao vút ngọn (Hvn): Dùng sào có khắc vạch chính xác đến (cm)
- Chất lượng cây trồng được xác định bằng phương pháp phân loại cây
tốt, trung bình và cây xấu. Chỉ tiêu phân loại dựa vào hình thái sinh trưởng và
phát triển của các loài cây trong mô hình. Cây tốt là cây sinh trưởng nhanh và
có hình thái phát triển cân đối, không bị sâu bệnh; Cây trung bình là cây sinh
trưởng trung bình và có hình thái phát triển không cân đối, ít bị sâu bệnh; cây
xấu là cây sinh trưởng kém, còi cọc.
- Sâu bệnh hại được xác định thông qua việc giám định tại rừng bằng
2.5.1.4. Đối với nội dung 4
Trong mỗi ô định vị ta dùng phương pháp ghi chỉ số nước chảy qua
đồng hồ đo nước lắp trên bể hứng. Số liệu dòng chảy bề mặt theo đợt mưa
chính là chỉ số cuối của đồng hồ ( chỉ số theo dõi lần trước) trừ đi chỉ số đầu