Áp dụng phương pháp kế toán chi phí theo hoạt động (ABC) để tính chi phí và giá thành sản phẩm tại các công ty dược phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
----------***----------

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

ÁP DỤNG PHƢƠNG PHÁP KẾ TOÁN THEO HOẠT ĐỘNG (ABC)
ĐỂ TÍNH CHI PHÍ VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÁC
CÔNG TY DƢỢC PHẨM NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƢỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 62.34.01.02

TRẦN TÚ UYÊN

Người hướng dẫn khoa học
PGS. TS. Nguyễn Thị Quy
PGS.TS. Đào Thị Thu Giang

HÀ NỘI – 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan rằng:
- Luận án tiến sĩ kinh doanh này do chính tác giả nghiên cứu và thực
hiện.
- Các thông tin, số liệu sử dụng trong Luận án này hoàn toàn trung thực
chính xác và có căn cứ.
- Lập luận, phân tích, đánh giá, kiến nghị được đưa ra dựa trên quan điểm
cá nhân và nghiên cứu của tác giả Luận án, không có sự sao chép của bất cứ tài


i


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT
Từ đầy đủ

STT

Kí hiệu

1

CNTT

2

CP

3

CPKH

4

CPSXDD

5

DN


11

NCTT

Nhân công trực tiếp

12

NK

13

NVL

14

NVLTT

Nguyên vật liệu trực tiếp

15

QLDN

Quản lý doanh nghiệp

16

SX


Nhập khẩu
Nguyên vật liệu

Sản xuất
Sản xuất chung
Sản xuất kinh doanh
Sản xuất kinh doanh dở dang

ii


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG ANH
STT

Từ viết tắt

Từ đầy đủ

Nghĩa

1

ABC

Activity Based Costing

Chi phí theo/dựa trên hoạt động

2


6

EPS.

Earning Per Share

Lãi cơ bản trên mỗi cổ phiếu

7

FDI

Foreign Direct Investment

Đầu tư trực tiếp nước ngoài

8

GDP

Gross Domestic Product

Tổng sản phẩm quốc nội

9

GMP

Good Manufacturing Practice


ROE

Return on equity

14

TCS

Traditional Costing System

15

TPP

16

Hệ thống tính giá theo phương pháp
truyền thống

Trans-Pacific Strategic

Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên

Economic Partnership

Thái Bình Dương

TQM



LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài, lĩnh vực nghiên cứu
Toàn cầu hóa kinh tế và tự do hóa thương mại hiện nay đang là một xu thế
tất yếu và diễn ra ngày càng sâu rộng. Điều này đã tạo ra nhiều cơ hội nhưng cũng
không ít thách thức cho sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp Việt Nam. Các
doanh nghiệp muốn hội nhập cần có trong tay công cụ quản lý kinh tế vững mạnh
để cải thiện hiệu quả kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Một
trong những yếu tố then chốt để tăng năng lực cạnh tranh là kiểm soát chặt chẽ,
hạch toán chính xác và đầy đủ chi phí. “Làm sao để xác định chi phí sản xuất một
cách chính xác nhất”, “làm sao để quản trị chi phí một cách hiệu quả” là những câu
hỏi không mới nhưng luôn là vấn đề hóc búa đối với nhà quản trị doanh nghiệp, đặc
biệt khi giá thành là yếu tố căn bản quyết định lợi nhuận của sản phẩm. Hiện nay
khi hầu hết các doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam đều coi giá thành là cơ sở chính
để xác định giá bán thì việc tính giá thành chính xác là điều kiện sống còn của mỗi
doanh nghiệp.
Ngành dược phẩm Việt Nam là ngành có vị trí hết sức quan trọng xét cả về
yếu tố kinh tế và xã hội. Ngành dược phẩm không những đáp ứng nhu cầu thiết yếu
trong đời sống hàng ngày của nhân dân mà còn đóng góp một phần ngân sách
không nhỏ vào nền kinh tế quốc gia. Tuy nhiên ngành dược đang phải đối mặt với
áp lực cạnh tranh rất lớn, khi các quy định mới trong đấu thầu được áp dụng, các
hãng dược nước ngoài sẽ được cung cấp thuốc bình đẳng với các doanh nghiệp
trong nước. Do vậy mà thông tin về chi phí sẽ là kim chỉ nam giúp cho các nhà quản
trị kiểm soát tốt chi phí để có thể cung cấp ra thị trường các sản phẩm với giá thành
cạnh tranh, có ngân sách đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và phát triển đồng thời có
các quyết định về phân phối và Marketing phù hợp, kịp thời.
Trong khi các nước phát triển trên thế giới đã xây dựng phương pháp kế toán
quản trị chi phí hiện đại, cung cấp thông tin hữu ích cho cho các nhà quản trị thì tại
Việt Nam nói chung và trong các doanh nghiệp dược phẩm nói riêng vẫn áp dụng
phương pháp kế toán chi phí truyền thống. Theo phương pháp kế toán này, chi phí

tỷ lệ áp dụng phương pháp ABC trong một ngành hay một quốc gia; thứ ba, các lợi
ích và khó khăn mà phương pháp ABC mang lại; thứ tư: các nhân tố ảnh hưởng tới
việc áp dụng phương phương pháp này, thứ năm, các nghiên cứu về ABC trong một
doanh nghiệp cụ thể (case study). Sau đây Luận án sẽ trình bày mục đích và hiệu
quả đạt được của từng nghiên cứu cụ thể.

v


Trước hết, các nghiên cứu so sánh phương pháp ABC và phương pháp
truyền thống có thể kể đến là nghiên cứu của Cooper và Kaplan (1988) mô tả ABC
như một hệ thống có thể vẽ một bức tranh về giá thành sản phẩm hoàn toàn khác so
với phương pháp truyền thống. Những khác biệt này phát sinh do phương pháp
ABC tiếp cận tinh vi hơn để tách chi phí sản xuất tại nhà máy, chi phí của công ty,
và các chi phí khác của doanh nghiệp, các chi phí này bước đầu sẽ tập hợp vào từng
hoạt động sau đó phân bổ tới từng sản phẩm.
Innes and Mitchell (1993) cho rằng phương pháp ABC đã khắc phục được
những nhược điểm về sự không chính xác trong tính toán của các phương pháp kế
toán truyền thống và đây là một tiến bộ đáng kể về cách tính chi phí. Cũng theo hai
nhà nghiên cứu này phương pháp ABC đã cung cấp một phương pháp cơ bản để
tính toán chi phí của sản phẩm, điều này mang lại lợi ích không chỉ cho nhà quản lý
mà còn cho cả khách hàng. Ngoài ra, so với phương pháp truyền thống phương
pháp ABC còn cung cấp mức độ đóng góp của từng hoạt động vào quá trình sản xuất
giúp nhà quản trị dễ dàng ra quyết định cắt giảm hay đẩy mạnh hoạt động hơn.
Gần đây, Appah et al (2013) đã tiến hành nghiên cứu nhằm so sánh việc áp
dụng phương pháp ABC và phương pháp truyền thống tại các doanh nghiệp sản
xuất tại Nigeria. Tác giả đã gửi bảng hỏi tới kế toán trưởng của 40 doanh nghiệp sản
xuất phía Tây Nam Nigeria. Kết quả điều tra cho thấy 60% doanh nghiệp cho rằng
việc áp dụng phương pháp ABC hiệu quả hơn bởi kiểm soát chi phí tốt hơn, tăng
khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp, tuy nhiên, 40% cho rằng so với phương

hệ với việc áp dụng phương pháp ABC, trong khi đó không có sự khác biệt đáng kể
về quy mô của doanh nghiệp giữa nhóm áp dụng ABC và nhóm không áp dụng
ABC.
Một nghiên cứu khác về ABC được Nguyen và Brooks tiến hành vào năm
1997 (Nguyen and Brooks-1997) tại bang Victoria tại Úc. Nghiên cứu đã sử dụng
Bảng hỏi gửi tới 350 doanh nghiệp sản xuất tại Úc với tỷ lệ trả lời là 120 công ty,
chiếm tỷ lệ 34%. Theo kết quả điều tra chỉ có 15 công ty tương đương 12,5% số
doanh nghiệp trả lời có áp dụng phương pháp kế toán ABC, 3 công ty (tương đương
2,5%) từ chối áp dụng phương pháp ABC, 10 công ty (8,3%) có ý định áp dụng
phương pháp ABC trong tương lai, 92 công ty còn lại (tương đương 76,7%) không
có ý định áp dụng ABC. Nghiên cứu cũng chỉ ra có sự khác biệt rõ ràng giữa các
công ty áp dụng và không áp dụng ABC về sự đa dạng của sản phẩm, quy mô doanh
nghiệp, mức độ cạnh tranh, trái lại không có sự khác biệt về sự đa dạng sản phẩm và

vii


tỷ lệ chi phí sản xuất chung trên tổng chi phí giữa các công ty áp dụng và không áp
dụng phương pháp ABC.
Thứ ba là nhóm các nghiên cứu về thuận lợi và khó khăn mà phương pháp
ABC mang lại. Vào năm 1999, Clarke et al đã công bố kết quả điều tra 511 trong
1000 doanh nghiệp sản xuất lớn nhất của Ai Len theo xếp hạng của tạp chí Tài
chính và Kinh doanh về tình hình áp dụng kế toán ABC tại các doanh nghiệp này.
Các câu hỏi được gửi tới kế toán trưởng trong từng công ty. Số Bảng hỏi nhận về
hợp lý là 40% (tương đương 204 doanh nghiệp), trong đó có 12% (24 công ty) đã áp
dụng ABC, 20% (42 công ty) đang nghiên cứu về ABC, 13% (26 công ty) từ chối
áp dụng ABC, còn lại 55% (112 công ty) không xem xét áp dụng ABC. Nghiên cứu
cũng chỉ ra những ưu điểm của ABC như: phương pháp ABC cung cấp thông tin chi
phí chính xác hơn dẫn tới các quyết định quản trị tốt hơn, đem lại lợi ích cho nhân
viên và cho khách hàng. Liên quan tới những khó khăn khi áp dụng phương pháp

quả của việc đầu tư. Hơn thế nữa, phương pháp ABC còn chỉ rõ được nguồn phát
sinh chi phí, giúp quản trị tốt hơn trong việc thiết kế sản phẩm, sản xuất sản phẩm
và xây dựng chiến lược giá.Về nguyên nhân không áp dụng ABC được các nhà
nghiên cứu chỉ ra gồm ba nguyên nhân chính. Nguyên nhân thứ nhất là các khó
khăn do điều kiện áp dụng ABC như: trình độ của nguồn nhân lực, trình độ về công
nghệ thông tin, chi phí tốn kém. Nguyên nhân thứ hai được chỉ ra: do việc khó phân
lọai chi phí thành các hoạt động cụ thể, chi phí để phân loại có thể lớn hơn lợi ích
mang lại sau khi có được thông tin chi phí chính xác. Nguyên nhân cuối cùng là do
các doanh nghiệp đang hài lòng với hệ thống tính giá thành của mình, thiếu thông
tin và kinh nghiệm về phương pháp ABC, quy mô doanh nghiệp nhỏ, quá trình sản
xuất và kiểm soát chi phí đơn giản.
Cũng trong năm 2004 Manalo (2004) tiến hành cuộc điều tra đối với 500
doanh nghiệp lớn nhất Philippines (theo tạp chí The Fookien Times Philippine
Yearbook, 2001). Kết quả điều tra cho thấy có 17% (tương đương 83 doanh nghiêp)
đang áp dụng phương pháp ABC, có 55% (275 doanh nghiệp) vẫn áp dụng phương
pháp truyền thống, các công ty còn lại là 28% (142 công ty) đang xem xét có nên áp
dụng ABC hay không. Điều tra cũng làm rõ nguyên nhân của việc chưa áp dụng
phương pháp ABC là: thiếu thông tin về ABC, hạn chế về nguồn nhân lực, cũng
như hệ thống công nghệ thông tin phụ trợ.
Vào năm 2005, Cohen et al (2005) tiến hành điều tra trên 177 công ty lớn ở
Hy Lạp. Cuộc điều tra nhằm tìm hiểu tỷ lệ áp dụng phương pháp ABC trong ba loại
hình sản xuất: doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp thương mại, doanh nghiệp dịch
ix


vụ, đồng thời tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng tới quyết định thay đổi hệ thống kế
toán quản trị chi phí hiện tại. Trong nghiên cứu này có 88 trong số 177 doanh
nghiệp trả lời, đạt tỷ lệ 49,7%. Hy Lạp là nước có tỷ lệ áp dụng ABC tương đối cao,
36 công ty trong tổng số 88 công ty trả lời đã áp dụng ABC, tương đương 40,9%.
Số còn lại 52 công ty tương đương 50,1% hiện không áp dụng ABC. Trong số các

ABC trong các doanh nghiệp tại Ma-rốc. Nghiên cứu đã chỉ ra có 12,9% trong tổng
số 62 doanh nghiệp tại Ma- rốc có áp dụng phương pháp ABC, nghiên cứu cũng sử
dụng nghiên cứu định lượng và kiểm định Khi bình phưong (chi square) để kết luận
không mối liên hệ giữa chiến lược kinh doanh của doanh và việc áp dụng ABC.
Hạn chế của nghiên cứu này là không chỉ ra tại sao lại chỉ chọn nhân tố chiến lược
kinh doanh mà không phải các nhân tố khác cũng như không mô tả cụ thể về mẫu
điều tra.
Cuối cùng là nhóm các nghiên cứu về phương pháp ABC tại một doanh
nghiệp cụ thể (case study). Năm 1995 Anderson đã nghiên cứu về việc thực hiện
phương pháp ABC tại BCA là nhà sản xuất máy bay Boeing lớn tại Mỹ. Sau khi
thực hiện được 1 năm, ABC đã mang lại hiệu quả lớn cho công ty: công ty đã tiết
kiệm được khoảng 1,6 triệu USD trong vòng 12 tháng, lợi nhuận trên tài sản (ROA)
tăng đáng kể mà không làm tăng chi phí hoạt động. Bên cạnh đó, sau khi áp dụng
ABC, các loại chi phí chất lượng (tổng chi phí dự phòng, thẩm định, thất bại, làm
lại…) đã giảm đáng kể: từ 1,3 triệu USD mỗi quý giảm xuống còn 350 nghìn USD
mỗi quý. Những kết quả này đã làm nhóm nghiên cứu về ABC đưa ra kết luận việc
áp dụng ABC giúp nâng cao chất lượng sản phẩm, hạn chế lãng phí, mang lại lợi
nhuận cao, tăng khả năng cạnh tranh, giúp công ty dễ dàng đạt được các mục tiêu
dài hạn của mình. Ngoài ra vào năm 2013, Yung I & Hwei Cheng Wang cũng
nghiên cứu về việc áp dụng ABC tại công ty truyền thông B tại Đài Loan. Đây là
một trong những doanh nghiệp sản xuất thiết bị đài phát thanh, điện thoại có dây và
điện thoại không dây lớn nhất Đài Loan, đã áp dụng phương pháp ABC với quy
trình 7 bước. Trong bài viết các tác giả đã phân tích kỹ quy trình áp dụng ABC tại
công ty và so sánh kết quả tính giá thành theo phương pháp ABC và phương pháp
truyền thống để thấy rõ sự khác biệt khi tính giá theo hai phương pháp này.
Năm 2012, Yapa et al (2012) đã nghiên cứu về quy trình áp dụng ABC tại
công ty Viễn thông A Thái Lan thông qua việc phỏng vấn chuyên sâu 5 chuyên gia
về quản trị chi phí và một trợ lý giám đốc đang làm việc tại đây. Công ty Viễn
thông A Thái Lan đã áp dụng phương pháp ABC từ năm 2003 và đã đạt được
những kết quả nhất định như tiết kiệm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh, có được hệ

phương pháp ABC của tác giả Bùi Thị Minh Hải.
Năm 2014 tác giả Đào Thị Thu Giang đăng bài “Kế toán chi phí theo hoạt
động (Activity Based Costing-ABC): Khuôn khổ lý thuyết và khả năng áp dụng tại
Việt Nam”, tạp chí Kế toán, tháng 5 năm 2014. Nghiên cứu đã nêu ra những ưu
xii


nhược điểm của phương pháp kế toán ABC và khả năng vận dụng trong các doanh
nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, những nghiên cứu này chỉ dừng lại cung cấp khung lý
thuyết chung cho tất cả các loại hình doanh nghiệp, muốn áp dụng tại các ngành,
các doanh nghiệp khác nhau cần phải có những nghiên cứu về đặc điểm hoạt động
sản xuất kinh doanh của từng ngành, đặc điểm phát sinh các chi phí cụ thể.
Nghiên cứu về ABC áp dụng trong các doanh nghiệp cụ thể bao gồm các
nghiên cứu sau: năm 2013 hai tác giả Nguyễn Thị Mai Chi, Nguyễn Năng Phúc có
bài “Bàn về kế toán quản trị chi phí theo hoạt động”, tạp chí Kinh tế và Phát triển.
Bài báo trình bày một cách khái quát nội dung kế toán quản trị chi phí theo hoạt
động kết hợp với việc khảo sát thực tế tại công ty HACOMEX nhằm khẳng định ưu
điểm của phương pháp ABC. Năm 2013, Trần Trung Tuấn, Lê Ngọc Thăng, Ngô
Duy Việt có bài “Vận dụng phương pháp xác định chi phí theo hoạt động (ABC) tại
các công ty dệt may Việt Nam trong điều kiện tái cấu trúc doanh nghiệp sau khủng
hoảng kinh tế”, tạp chí Kinh tế và Phát triển, tháng 12 năm 2013. Bài báo đã nêu
khả năng áp dụng phương pháp kế toán ABC trong các doanh nghiệp dệt may Việt
Nam.
Nghiên cứu sâu hơn về ABC cả về mặt lý thuyết và thực tiễn có tác giả Phan
Hồng Hải năm 2012 với đề tài luận án tiến sỹ “Nghiên cứu quản trị chi phí kinh
doanh theo quá trình hoạt động (ABC/ABM) trong các doanh nghiệp chế biến gỗ
Việt Nam”. Luận án đã đánh giá thực trạng về quản trị chi phí kinh doanh trong các
doanh nghiệp chế biến gỗ Việt Nam. Trong nghiên cứu của mình tác giả đã gửi
phiếu điều tra tới 60 doanh nghiệp chế biến gỗ và lựa chọn xí nghiệp sản xuất Bao
bì tại Hà Nội làm ví dụ điển hình. Tuy nhiên nghiên cứu chưa chỉ rõ tại sao phương

toán quản trị nhằm cắt giảm chi phí, cải tiến hoạt động… cũng là một nhiệm vụ cấp
bách đối với mỗi doanh nghiệp dược. Do đó việc nghiên cứu về ngành Dược để có
thể đưa ra các giải pháp giúp các doanh nghiệp quản trị chi phí tốt hơn, tăng hiệu
quả kinh doanh, vượt qua khó khăn trong giai đoạn hiện nay là việc làm cần thiết.
Đây chính là những nội dung tác giả sẽ làm sáng tỏ trong Luận án của mình.
3. Mục tiêu nhiệm vụ và câu hỏi nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở tìm hiểu lý luận về phương pháp ABC và nghiên cứu thực trạng
áp dụng phương pháp ABC tại các doanh nghiệp dược phẩm niêm yết trên thị
trường chứng khoán Việt Nam, Luận án sẽ đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện
và nâng cao khả năng áp dụng phương pháp ABC tại các công ty này.

xiv


3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, Luận án sẽ thực hiện các nhiệm vụ cụ
thể sau đây:
1. Hệ thống hóa lý thuyết về phương pháp kế toán chi phí theo hoạt động ABC.
2. Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới việc áp dụng phương pháp kế toán chi
phí theo hoạt động ABC của các nước trên thế giới, kết hợp với thực tiễn Việt Nam
để xây dựng mô hình kinh tế lượng nhằm tìm ra các các nhân tố ảnh hưởng tới việc
áp dụng phương pháp kế toán chi phí theo hoạt động trong các công ty dược phẩm
nói chung và các công ty dược phẩm niêm yết nói riêng.
3. Nghiên cứu thực trạng áp dụng phương pháp kế toán chi phí theo hoạt động
tại các công ty dược phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Đối với
các công ty đã áp dụng, Luận án sẽ phân tích những ưu, nhược điểm của việc áp
dụng phương pháp này. Đối với những công ty chưa áp dụng, Luận án sẽ đi sâu
phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới việc áp dụng đã tìm được ở mục tiêu thứ 2, xem
liệu các công ty này có phù hợp với việc áp dụng phương pháp kế toán chi phí theo

dược phẩm Hà Tây làm ví dụ điển hình cho việc áp dụng phương pháp ABC. Ngoài
ra, để có cơ sở so sánh, các doanh nghiệp nước ngoài áp dụng thành công ABC
cũng nằm trong phạm vi nghiên cứu của Luận án.
Về thời gian: Khi đánh giá việc áp dụng phương pháp ABC trong tính chi phí
và giá thành tại các công ty dược phẩm đang niêm yết trên thị trường chứng khoán
Việt Nam, Luận án lấy mốc từ năm 2003 đến hết năm 2015 (khi khái niệm về kế
toán quản trị chính thức được đề cập đến tại khoản 3, điều 4, chương I - Luật kế
toán- năm 2003). Khi đề xuất việc áp dụng phương pháp ABC trong tính chi phí và
giá thành tại các công ty dược phẩm đang niêm yết trên thị trường chứng khoán
Việt Nam Luận án đề xuất các giải pháp đến năm 2030.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận án đã sử dụng năm phương pháp nghiên cứu đó là: phương pháp phân
tích tổng hợp, phương pháp đối chiếu so sánh, phương pháp điều tra xã hội học,
phương pháp nghiên cứu điển hình và phương pháp nghiên cứu định lượng.
- Phương pháp phân tích tổng hợp: được sử dụng chủ yếu ở cả 3 chương với
mục đích làm rõ các vấn đề liên quan tới cơ sở khoa học về phương pháp kế toán
chi phí theo hoạt động và đề xuất giải pháp phù hợp.
- Phương pháp đối chiếu so sánh: chủ yếu được sử dụng ở chương 2 nhằm làm
rõ các vấn đề về thực trạng và đưa ra các nhận xét một cách cụ thể đối với việc áp
dụng phương pháp kế toán chi phí theo hoạt động, mặt khác nghiên cứu cũng so
xvi


sánh kết quả tính giá thành theo phương pháp ABC và phương pháp truyền thống
tại công ty dược phẩm Hà Tây để thấy sự khác biệt giữa hai phương pháp này.
- Phương pháp nghiên cứu tình huống: chủ yếu được sử dụng ở chương 1 và
chương 2. Trong chương 1, Luận án nghiên cứu các doanh nghiệp điển hình trên thế
giới áp dụng thành công phương pháp chi phí theo hoạt động nhằm rút ra bài học
kinh nghiệm phù hợp cho các doanh nghiệp Việt Nam. Chương 2, nghiên cứu thực
trạng áp dụng phương pháp kế toán chi phí theo hoạt động tại công ty dược phẩm

yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam (sau khi đã loại ra 2 công ty chỉ đơn
thuần kinh doanh thiết bị y tế) nhằm tìm hiểu thực trạng áp dụng phương pháp kế
toán ABC tại các công ty dược phẩm niêm yết. Đối với các công ty đã áp dụng
phương pháp này, nghiên cứu tìm hiểu những ưu điểm và hạn chế trong việc áp
dụng phương pháp ABC. Tại các công ty chưa áp dụng, căn cứ vào mô hình các
nhân tố ảnh hưởng ở trên, nghiên cứu tìm hiểu xem liệu những công ty này có
những điều kiện phù hợp để áp dụng phương pháp ABC không? Giải pháp nào nâng
cao khả năng áp dụng phương pháp ABC cho các công ty này?.
6. Những đóng góp mới của Luận án
- Luận án đã tổng hợp lý luận về việc áp dụng phương pháp kế toán chi phí theo

hoạt động để tính chi phí và giá thành sản phẩm như khái niệm, đặc điểm, nội dung,
các bước tiến hành đối với các doanh nghiệp dược niêm yết trên thị trường chứng
khoán Việt Nam.
- Luận án đã nghiên cứu, tổng hợp và rút ra bài học áp dụng thành công phương
pháp kế toán chi phí theo hoạt động của các doanh nghiệp nước ngoài cho các công
ty dược phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
- Là Luận án đầu tiên ở Việt Nam khảo sát và xây dựng mô hình nghiên cứu
định lượng gồm 5 nhân tố để tìm xem các nhân tố ảnh hưởng như thế nào tới việc
áp dụng phương pháp ABC trong các công ty dược phẩm Việt Nam nói chung và
các công ty dược phẩm niêm yết nói riêng. Luận án đã kết hợp tốt hai phương pháp
điều tra và phương pháp định lượng, các phương pháp này được thực hiện cho kết
quả điều tra đáng tin cậy.
- Luận án đã nghiên cứu phương pháp kế toán chi phí theo cả hai phương pháp
truyền thống và phương pháp ABC để đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện việc áp
dụng phương pháp kế toán chi phí theo hoạt động tại công ty dược phẩm đã áp
dụng, trong đó có giải pháp nhằm gắn kết ABC với ABM (Activity Based
Management- Quản trị theo hoạt động) tại công ty dược phẩm Hà Tây. Ngoài ra,

xviii

LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài, lĩnh vực nghiên cứu
Ngành dược phẩm Việt Nam là ngành có vị trí hết sức quan trọng
xét cả về yếu tố kinh tế và xã hội. Tuy nhiên ngành dược đang phải đối
mặt với áp lực cạnh tranh rất lớn, khi các quy định mới trong đấu thầu
được áp dụng, các hãng dược nước ngoài sẽ được cung cấp thuốc bình
đẳng với các doanh nghiệp trong nước. Các doanh nghiệp dược muốn hội
nhập cần có trong tay công cụ quản lý kinh tế vững mạnh để cải thiện
hiệu quả kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Một
trong những yếu tố then chốt để tăng năng lực cạnh tranh là kiểm soát
chặt chẽ, hạch toán chính xác và đầy đủ chi phí.
Trong khi các nước phát triển trên thế giới đã xây dựng phương
pháp kế toán quản trị chi phí hiện đại, cung cấp thông tin hữu ích cho cho
các nhà quản trị thì tại Việt Nam nói chung và trong các doanh nghiệp
dược phẩm nói riêng vẫn áp dụng phương pháp kế toán chi phí truyền
thống.
Sau quá trình nghiên cứu và tìm hiểu các đặc điểm của các doanh
nghiệp dược phẩm niêm yết Việt Nam, tác giả nhận thấy việc áp dụng
phương pháp kế toán theo hoạt động (ABC- Activity Based Costing) phù
hợp và có khả năng sẽ mang lại lợi ích không nhỏ cho các doanh nghiệp.
phương pháp ABC còn giúp doanh nghiệp quản trị dựa trên hoạt động, từ
đó xác định sản phẩm nào tạo ra giá trị, sản phẩm nào không tạo ra giá trị
giúp cải tiến quá trình, nâng cao năng lực cạnh tranh cho của mình. Chính
vì những lý do trên tác giả chọn đề tài: “Áp dụng phương pháp kế toán
chi phí theo hoạt động (ABC) để tính chi phí và giá thành sản phẩm tại
các công ty Dược phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”
làm đề tài cho Luận án của mình.
2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu
2.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Đến nay có rất nhiều tài liệu cũng như công trình nghiên cứu về

theo hoạt động (Activity Based Costing-ABC): Khuôn khổ lý thuyết và
khả năng áp dụng tại Việt Nam”, tạp chí Kế toán, tháng 5 năm 2014.
Nghiên cứu về ABC áp dụng trong các doanh nghiệp cụ thể bao gồm các
nghiên cứu sau: năm 2013 hai tác giả Nguyễn Thị Mai Chi, Nguyễn Năng
Phúc có bài “Bàn về kế toán quản trị chi phí theo hoạt động”, tạp chí
Kinh tế và Phát triển. Năm 2013, Trần Trung Tuấn, Lê Ngọc Thăng, Ngô
xxi


Duy Việt có bài “Vận dụng phương pháp xác định chi phí d a trên hoạt
động (ABC) tại các công ty dệt may Việt Nam trong điều kiện tái cấu trúc
doanh nghiệp sau khủng hoảng kinh tế”, tạp chí Kinh tế và Phát triển,
tháng 12 năm 2013. Nghiên cứu sâu hơn về ABC cả về mặt lý thuyết và
thực tiễn có tác giả Phan Hồng Hải năm 2012 với đề tài luận án tiến sỹ
“Nghiên cứu quản trị chi phí kinh doanh theo quá trình hoạt động
(ABC/ABM) trong các doanh nghiệp chế biến gỗ Việt Nam”.
2.3. Các vấn đề cần tiếp tực nghiên cứu
Thứ nhất, các nghiên cức về ABC đa phần là các nghiên cứu định
tính. chưa có nghiên cứu thực hiện kiểm định, định lượng lý thuyết đó tại
một ngành cụ thể ở Việt Nam.
Thứ hai, trong các nghiên cứu về khả năng áp dụng ABC trong một
ngành, các tác giả tại Việt Nam chưa lựa chọn ra trong đó nhóm các
doanh nghiệp có nhiều khả năng áp dụng ABC để nghiên cứu và phân
tích, cũng như chưa xây dựng mô hình ABC phù hợp với nhóm ngành đó.
Vì vậy việc định vị thu hẹp nhóm doanh nghiệp có nhiều tiềm năng áp
dụng và xây dựng mô hình ABC cho nhóm ngành là việc làm cần thiết.
Thứ ba, ngành dược trong những năm gần đây đang gặp các áp lực
cạnh tranh cả bên trong lẫn bên ngoài đã khiến hiệu quả kinh doanh của
ngành giảm sút rõ rệt. Do đó việc nghiên cứu về ngành Dược để có thể
đưa ra các giải pháp giúp các doanh nghiệp quản trị chi phí tốt hơn, tăng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status