i
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất
kỳ công trình nghiên cứu nào khác.
Hà Nội, tháng 4 năm 2016
Tác giả luận văn
Viên Đình Hiệp
ii
LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành tại trường Đại học Lâm nghiệp theo chương
trình đào tạo cao học Lâm nghiệp, khoá học 2014 - 2016.
Trong quá trình thực hiện và hoàn thành bản luận văn này, tôi đã nhận
được sự quan tâm giúp đỡ của Ban giám hiệu nhà trường, Phòng Đào tạo sau
đại học, các thầy cô giáo và các bạn bè đồng nghiệp. Tôi xin chân thành cảm
ơn về sự giúp đỡ đó. Đặc biệt, tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy giáo:
PGS.TS Bùi Thế Đồi, TS Phạm Minh Toại, là những người trực tiếp hướng
dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ, chỉ dẫn, truyền đạt những kiến thức quý báu
và dành những tình cảm tốt đẹp cho tôi trong suốt thời gian hoàn thành bản
luận văn này.
Tôi xin cảm ơn Huyện ủy, UBND huyện Si Ma Cai, các cơ quan: Phòng
Nông nghiệp & PTNT, Chi cục Thống kê, Ban Quản lý rừng phòng hộ, Hạt
Kiểm lâm, UBND các xã trong huyện và nhân dân địa phương đã tạo điều kiện
cho tôi thu thập số liệu để hoàn thành bản luận văn.
2.1. Mục tiêu nghiên cứu............................................................................. 12
2.1.1. Mục tiêu lý luận ............................................................................ 12
2.1.2. Mục tiêu thực tiễn ......................................................................... 12
2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................ 12
2.2.1. Đối tượng nghiên cứu: Cây Sa mộc trong rừng tự nhiên và được
trồng ở tại huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai. ............................................. 12
2.2.2. Phạm vi nghiên cứu: Các xã thuộc huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai
nơi có Sa mộc được gây trồng ít nhất 5 năm trở la ̣i đây. ........................ 12
2.3. Nội dung nghiên cứu ............................................................................ 12
iv
2.3.1. Nghiên cứu đặc điểm hình thái và sinh thái loài Sa mộc. ............. 12
2.3.2. Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của cây Sa mộc ở các cấp tuổi
khác nha: ................................................................................................. 12
2.3.3. Nghiên cứu một số đặc điểm kỹ thuật nhân giống và trồng cây Sa
mộc tại huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai ................................................... 12
2.3.4. Nghiên cứu đặc điểm tái sinh chồi của cây Sa mộc. ..................... 13
2.3.5. Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp kinh tế và kỹ thuật nhằm phát
triển cây Sa mộc tại khu vực nghiên cứu. ............................................... 13
2.4. Phương pháp nghiên cứu...................................................................... 13
2.4.1. Phương pháp điều tra thực địa ...................................................... 13
2.4.2. Phương pháp chuyên gia ............................................................... 15
2.4.3. Phương pháp kế thừa..................................................................... 15
Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN SI MA
CAI .................................................................................................................. 17
3.1. Điều kiện tự nhiên ................................................................................ 17
3.1.1.Vị trí địa lý ..................................................................................... 17
3.1.2. Địa hình, địa mạo .......................................................................... 18
3.1.3. Khí hậu .......................................................................................... 19
4.5.2. Giải pháp quản lý rừng trồ ng ........................................................ 58
4.5.3. Giải pháp về chính sách: ............................................................... 60
4.5.4. Giải pháp về nhân lực: .................................................................. 60
4.5.5. Giải pháp về vốn: .......................................................................... 60
KẾT LUẬN - TỒN TẠI - KHUYẾN NGHỊ .................................................. 62
TÀI LIỆU KHAM KHẢO
PHỤ BIỂU
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
TT
Nội dung
3.1
Hiện trạng đất lâm nghiệp Huyện Si Ma Cai (tính đến ngày 31/12/2014)
3.2
3.3
3.4
Tổng giá trị sản phẩm ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp xây dựng và thương mại - dịch vụ
Thố ng kê diê ̣n tić h rừng trồ ng giai đoa ̣n 2011-15 của huyê ̣n Si Ma Cai
Thố ng kê diê ̣n tić h rừng trồ ng năm 2014 và 2015 của huyê ̣n Si Mai Cai:
Sa mô ̣c đươ ̣c trồ ng xen với tỷ lê ̣ 80% Sa mô ̣c + 20% các loài cây khác
Trang
Tổng hợp chất lượng rừng trồng Sa mô ̣c thuần loài ở Si Ma Cai
48
4.8
Kế t quả điề u tra tái sinh chồ i ở các OTC ta ̣i Si Ma Cai
49
vii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Nội dung
TT
Trang
4.1
Hoa, nón/quả của cây Sa mô ̣c
34
4.2
Quả, quả chiń khô và ha ̣t Sa mô ̣c
́ h tán lá (Dt) và chiề u cao dưới cành (Hdc)
của Sa mô ̣c ở các tuổ i khác nhau
45
4.8
Đường cong tăng trưởng trữ lươ ̣ng rừng theo tuổ i (m3/ha/năm)
47
4.9
Mô ̣t số hình ảnh về tái sinh chồ i Sa mô ̣c
49
Tương quan giữa đường kin
́ h gố c chă ̣t (D gố c, cm) với các chỉ tiêu
4.10
chồ i: số lươ ̣ng chồ i/gố c, đường kính trung bình của cây chồ i (D
50
chồ i, cm) và chiề u cao trung bin
̀ h cây chồ i (H chồ i, cm)
Tương quan giữa chiề u cao gố c chă ̣t (H gố c, cm) với các chỉ tiêu
4.11
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Cây Sa mộc (Sa mu) (Cunminghamia lanceolata Lamb. Hook.) là loại
cây có giá trị và đem lại lợi ích kinh tế cao. Sa mộc là loài cây có hình dáng
đẹp nên thường dùng làm cây trang trí, được trồng phân tán ở các công viên
và khu vực có không gian rộng. Gỗ của loài cây này có màu nâu nhạt có nhiều
tính chất đặc trưng như sợi gỗ thẳng, gỗ mềm nhưng bền. Đặc biệt, gỗ có khả
năng chống chịu mối mọt rất tốt nên thường được sử dụng trong xây dựng nhà
cửa, làm cột chống, làm cầu, đóng tầu, đồ gỗ. Cành to và già được dùng làm
con tiện. Bên cạnh giá trị về gỗ, vỏ của Sa mộc còn được sử dụng để sản xuất
tanin hoặc sản xuất giấy, cành được dụng để chiết xuất dầu sử dụng trong
ngành công nghiệp chế biến nước hoa…
Sa mộc đươ ̣c gây trồ ng ở mô ̣t số tỉnh miề n núi vùng cao miề n Bắ c Viêṭ
Nam, nhấ t là ở các huyê ̣n miề n núi tỉnh Lào Cai như Sa Pa, Si Ma Cai... và
mô ̣t số nơi ở Hà Giang. Đă ̣c biê ̣t, đây là loài cây có giá tri ̣ và đã từng là cây
lâm nghiêp̣ chủ lực của các xã vùng cao của tỉnh Lào Cai, thường đươ ̣c gắ n
liề n với kế hoạch xóa đói giảm nghèo và phát triển bền vững của điạ phương.
Cây Sa mộc ở Si Ma Cai – Lào Cai được đánh giá là có nhiều đặc tính
thuận lợi như phân bố tự nhiên nhiều, dễ gây trồng. Gắn bó mật thiết với đời
sống nhân dân các dân tộc huyện Si Ma Cai, cây Sa mộc được ví như cây tre
của người Việt, nó gắn liền với cuộc sống con người như: làm nhà, làm quan
tài, làm các vật dụng hàng ngày ... là cây trồng rừng chủ lực của một số huyện
như: Si Ma Cai, Bắc Hà, Mường Khương. Thị trường tiêu thụ rất thuận lợi,
diện tích đất có thể trồng được Sa mộc còn khá nhiều, nếu được đầu tư sẽ trở
thành vùng nguyên liệu tốt trong tương lai. Tuy nhiên, việc trồng rừng Sa mộc
gặp rất nhiều khó khăn như: sinh trưởng rất chậm trên các diện tích có tầng
đất mỏng; gia súc phá hoại (trâu, bò ăn)...nên tỷ lệ sống thường rất thấp và
phải trồng lại nhiều lần gây tốn kém.
Sa mộc bắt đầu ra hoa khi cây đạt 6-8 tuổi. Hoa cái được hình thành vào
mùa thu và nở trong khoảng tháng 3-4 hàng năm. Hoa đực nở vào giữa hoặc
cuối tháng 3 và tồn tại trong khoảng 5-10 ngày khi nhiệt độ trong khoảng từ
10-13°C. Hoa đực và hoa cái mọc cụm ở đầu cành có hình nón, từ 8-20 nón.
Nón cái có dạng hình trứng hoặc hình tròn có chiều dài từ 2.5 đến 5cm, chiều
rộng từ 3-4cm mọc đơn hoặc mọc cụm, nón màu nâu có mép hình răng cưa,
đỉnh thon dài thành hình gai và thường mọc thấp hơn các nón đực để thuận
tiện cho quá trình thụ phấn (Orwa và cộng sự, 2009). Đặc biệt, nón quả Sa
mộc rất cứng và không hấp dẫn côn trùng (Gilman và Dennis, 2014). Hạt Sa
mộc chín vào tháng 10 đến tháng 11. Hạt có hình thuôn hoặc ô van hẹp dài 78mm, rộng 4-5mm, vỏ hạt cứng có mầu nâu đậm, mép có một lớp màng mỏng
(Orwa và cộng sự, 2009).
4
b) Đặc điểm sinh thái:
Theo Xiang và cộng sự (2009); Gilman và Dennis (2014), Sa mộc là loài
cây ưa sáng, có khả năng sinh trưởng trong điều kiện thiếu ánh sáng song tán lá
không đều và phát triển kém. Loài cây này khả năng tái sinh tự nhiên rất kém
do vậy cần chú trọng tiến hành các xử lý lâm sinh như: phát đốt thực bì còn lại
và làm đất trồng rừng cần phải nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho quá trình
trồng mới cũng như giảm quá trình cạnh tranh và ảnh hưởng của sâu bệnh.
Sa mộc thích hợp trên những vùng đất sét, cát, đất chua có khả năng
thoát nước tốt. Đặc biệt, loài cây này có khả năng chịu được điều kiện rất khô
hạn hay những vùng đất sét bị nét chặt, nghèo dinh dưỡng nhưng không bị
ngập úng và có khả năng chống chịu tốt với sâu bệnh (Gilman và Dennis,
2014). Chính vì vậy, phòng chống sâu bệnh hại không phải là vấn đề cần
được chú trọng khi trồng rừng bằng loài cây này.
c) Đặc điểm phân bố:
Theo Fung (1993), loài cây này được trồng trên 1.000 năm trước tại
Trung Quốc nên việc phân định ranh giới giữa vùng phân bố tự nhiên và rừng
mộc sớm được coi là loài trồng chủ yếu tại Trung Quốc. Diện tích này chiếm
một phần ba tổng diện tích rừng trồng của Trung Quốc và khoảng 20-25% tổng
sản lượng gỗ của quốc gia này (Sheng, 1995).
- Vùng gây trồng
Sa mộc được gây trồng ở một số vùng phía Nam của Trung Quốc từ hơn
1.000 năm trước đây (FAO, 1982, dẫn theo Fung, 1994). Theo Ma và cộng sự
(2002), tại Trung Quốc, vùng gây trồng của Sa mộc nằm trong khoảng từ 2030° vĩ Bắc, từ 100 đến 120° kinh Đông.
- Kỹ thuật thu hái, chế biến và bảo quản hạt giống
Thời gian thu hái hợp lý nhất là 2-3 tuần sau khi hạt chính khi vỏ quả
chuyển từ màu xanh đậm sang màu nâu vàng. Nón quả được khai thác sử
6
dụng các móc dài. Sản lượng hạt giống thường từ 30-50g hạt/kg của nón quả
khô và một kg hạt Sa mộc có khoảng 130.000 đến 150.000 hạt. Sau khi khai
thác, bảo quản hạt trong bóng râm trong khoảng thời gian 01 tuần sau đó phơi
2-3 nắng nhẹ để hạt tách ra khỏi quả (Orwa và cộng sự, 2009).
- Kỹ thuật nhân giống Sa mộc
Sa mộc có thể dễ dàng được nhân giống bằng hạt, chồi gốc, hạt hoặc
hom (Dallimore và Jackson, 1931; Fung, 1994).
+ Kỹ thuật nhân giống từ hạt
Theo Trung tâm hạt giống DANIDA (Dorthe, 2000), Hạt Sa mộc không
cần trải qua trạng thái ngủ trước khi nảy mầm và không cần xử lý hạt trước
khi gieo. Tuy nhiên, có thể ngâm hạt trong nước ấm để tăng khả năng nảy
mầm. Giai đoạn nảy mầm của hạt là từ ngày thứ 7 và kết thúc vào ngày thứ
20. Hạt sau khi nảy mầm có thể được gieo trực tiếp lên luống hoặc cấy vào
các túi bầu. Nếu hạt được gieo ngay sau khi thu hái trong tháng 10-11 thì có
thể đem đi trồng rừng vào tháng 2 đến tháng 4 năm sau khi cây con có chiều
cao từ 35-40cm.
+ Kỹ thuật nhân giống bằng hom
(Chu Thị Thơm và cộng sự, 2005). Đây là loài cây ưa ánh sáng mạnh, có thể
chịu bóng nhưng khả năng sinh trưởng không tốt (SPERI–FFS, 2011), có thân
thẳng vỏ màu xám nứt dọc bong mảng nhỏ. Khi cây còn non thì tán hình tháp,
về già tán hình nón, lá dày cứng hình dải ngọn giáo xếp thành một mặt phẳng
nằm ngang, mép lá có răng cưa dài từ 3-6cm. Sa mộc có khả năng ra hoa từ 6
tuổi (Vũ Tiến Hinh và cộng sự, 2000). Hoa đực xếp cụm 15-20 cái, hình trụ
thành đuôi sóc ở ngọn, xếp thàng 5-6 cái một. Hoa cái hình trứng, đơn hay
cụm lại, quả nón dài 2,5-3 cm đường kính từ 2-4 cm có chóp hình tam giác,
tận cùng thành mũi thon. Hạt dài từ 6-8 mm rộng từ 4-6 mm màu nâu, là cây
có hai lá mầm dài từ 1,2-1,7cm, rộng không quá 2 mm, đầu tròn hơi lõm, lá
ban đầu hình dải cong như lưỡi liềm dài từ 1,5-3,5cm.
8
Sa mộc có hệ rễ nông, rễ cái kém phát triển, rễ con tập trung ở tầng đất
từ 10 đến 60 cm (Lê Mộng Chân và Lê Thị Huyên, 2000)
Ở Việt Nam, Sa mộc được gây trồng nhiều ở một số tỉnh Phía Bắc Việt
Nam (như Hà Giang, Lào Cai, Quảng Ninh) - nơi có độ cao so với mặt nước
biển biến động từ 500-1.800 m, lượng mưa bình quân hàng năm biến động từ
1.500-2.500 mm/năm, trong một năm có từ 3-4 tháng khô hạn (lượng mưa
nhỏ hơn 50mm), độ ẩm không khí trên 85% và có mây mù (Lê Mộng Chân và
Lê Thị Huyên, 2000; Chu Thị Thơm và cộng sự, 2005; SPERI-FFS, 2011).
1.2.2. Nghiên cứu về kỹ thuật hạt giống và gieo ươm
- Nguồn giống: Giống Sa mộc phải được lấy từ những rừng giống chuyển
hóa đã được công nhận. Có thể lấy giống ở cây phân tán với những nơi chưa có
rừng giống song cây mẹ phải đạt tiêu chuẩn: (1) tuổi cây từ 15-30 tuổi, (2) cây
sinh trưởng tốt, tán rộng đều, thân thẳng và cân đối, (3) Cây không bị sâu bệnh,
không bị rỗng ruột hoặc cụt ngọn (Bộ NN&PTNT, 2002; SPERI-FFS, 2011).
Tại huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai, trước năm 2011 nguồn giống cây Sa mộc
trồng của huyện chủ yếu được mua từ huyện Bắc Hà, từ năm 2011 nguồn giống
nghiê ̣p &PTNT, 2002, 2007), nơi có tế, sim, mua, thẩu tấu và thành
ngạnh...(Chu Thị Thơm và cộng sự, 2005).
- Làm đất trồng rừng: Tiến hành phát thực bì toàn diện ở những nơi có
độ dốc 25°, phát theo băng (băng chặt rộng 1m hoặc 1,5m và băng chừa
1m). Hố trồng có kích thước 30x30x30m, hố được lấp trước khi trồng rừng
khoảng 1 tháng (Bộ Nông nghiê ̣p &PTNT, 2002, 2007; Chu Thị Thơm và
cộng sự, 2005).
Mỗi hố bón lót 100g NPK và 200g phân hữu cơ vi sinh, công việc bón
lót, lấp hỗ hoàn thành trước khi trồng từ 7-10 ngày (Bộ Nông nghiêp̣ &PTNT,
2002).
10
- Trồng và chăm sóc rừng trồng: Sa mộc có thể được trồng thuần loài
hoặc hỗn loài với các cây gỗ tái sinh tự nhiên như Sau sau, cáng lò và chẹo.
Trong 2-3 năm đầu sau khi trồng rừng có thể trồng xen Sắn và các loài cây
nông nghiệp khác (Chu Thị Thơm và cộng sự, 2005).
1.2.4. Sinh trưởng và sản lượng rừng trồng
Sa mộc thích hợp với khu vực có khí hậu tương đối ẩm, đất cát pha, màu
Sa mô ̣c, nơi đất tốt cây lớn nhanh trong 4-10 năm đầu, đất khô cằn chỉ lớn
mạnh trong thời gian đầu sau chậm lại. Cây sống lâu tuổi khai thác trung bình
là 15-30, cây có khả năng đâm chồi mạnh bằng cành (SPERI-FFS, 2011).
Sa mộc là loài cây mọc nhanh và sinh trưởng nhanh nhất vào giai đoạn
20 năm đầu. Trong một năm, loài cây này sinh trưởng nhịp điệu theo mùa
(mùa xuân vào tháng 5-6, mùa thu vào tháng 9-10) (Triệu Thu Thủy, 2002;
Nguyễn Hữu Thiện, 2012). Rừng trồng sau 5 năm cần được tỉa thưa, để tạo
cây có chất lượng cao, điều chỉnh độ tàn che, loại trừ những cây sinh trưởng
kém, hình thân xấu, bị sâu bệnh hại. Mật độ để lại lúc khai thác chính khoảng
1.000-1.200 cây/ha. Rừng Sa mu có trữ lượng cao, đạt tới 300-400 m3/ha,
tăng trưởng trung bình 15-20 m3/ha/năm.
2.1.2. Mục tiêu thực tiễn
- Xác định được đặc điểm lâm học cơ bản của cây Sa mộc tại huyện Si
Ma Cai, tỉnh Lào Cai.
- Đánh giá được thực trạng gây trồng và phát triể n cây Sa mộc tại huyện
Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai.
- Đề xuất được một số giải pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm phát triển bền
vững cây Sa mộc tại huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai.
2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.2.1. Đối tượng nghiên cứu: Cây Sa mộc trong rừng tự nhiên và được
trồng ở tại huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai.
2.2.2. Phạm vi nghiên cứu: Các xã thuộc huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai
nơi có Sa mộc được gây trồng ít nhất 5 năm trở la ̣i đây.
2.3. Nội dung nghiên cứu
2.3.1. Nghiên cứu đặc điểm hình thái và sinh thái loài Sa mộc.
2.3.2. Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của cây Sa mộc ở các cấp tuổi khác
nhau:
- Sinh trưởng về đường kính, chiều cao, đường kính tán lá.
- Đánh giá chất lượng rừng trồng Sa mộc.
2.3.3. Nghiên cứu một số đặc điểm kỹ thuật nhân giống và trồng cây Sa
mộc tại huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai
13
2.3.4. Nghiên cứu đặc điểm tái sinh chồi của cây Sa mộc.
- Sinh trưởng về đường kính, chiều cao,... của cây chồi tái sinh.
- Chất lượng cây Sa mộc tái sinh chồi.
2.3.5. Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp kinh tế và kỹ thuật nhằm phát
triển cây Sa mộc tại khu vực nghiên cứu.
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Phương pháp điều tra thực địa
ĐT
NB
TB
Hvn
(m)
Hdc
(m)
Chất
lượng
cây
Ghi
chú
14
* Điều tra Sa mộc tái sinh chồi :
- Trong số các OTC của mỗi vị trí địa hình của mỗi cấp tuổi, chọn 01
OTC để điều tra tái sinh chồi từ các gốc chặt được bỏ lại sau khai thác chọn.
- Tiến hành điều tra 20 đến 30 gốc chặt với các tuổi khác nhau (tuổi 5,
10, 15).
- Tiến hành đo đếm các chỉ tiêu của cây chồi tái sinh và ghi vào mẫu
biểu 02 dưới đây:
Mẫu biểu 02: Biểu điều tra cây chồi
Stt
Ghi
lượng chú
cây
…..
……
* Điều tra vật hậu:
Mẫu hoa/quả được lấy ở các cây tuổi 15: chọn 03 cây có sinh trưởng và
phát triển tốt; cắt cành mang quả ở 03 vị trí khác nhau: gần trên ngọn, ở giữa
tán và một cành ở phía dưới; tiến hành mô tả đo đếm và chụp ảnh.
Ngoài ra, tiến hành phỏng vấn các cán bộ lâm nghiệp ở Phòng Nông
nghiệp huyện Si Ma Cai và một số người dân địa phương để tìm hiểu thêm về
vật hậu của cây Sa mộc.
Mẫu biểu 03: Biểu điều tra đặc điểm vật hậu (Ví dụ: hình thái của Hoa)
TT mẫu quan sát
1
2
...
Hình dạng
Kích thước
Màu sắc
15
2.4.2. Phương pháp chuyên gia
16
Sơ đồ các bước tiến hành nghiên cứu
Thu thập thông tinvà phân
tích tài liệu
Cấp huyện
Cấp xã
Cấp thôn
Lựa chọn địa điểm
Điều tra khảo sát thực tế,
thu thập số liệu
Điều tra, phỏng vấn thu thập thông tin về
kỹ thuật đã áp dụng ….
Lập tuyến, lập OTC, thống kê loài, đo đếm
sinh trưởng, năng suất, điều tra đất đai…
Tổng hợp, xử lý và phân
tích số liệu
Đề xuất giải pháp
18
3.1.2. Địa hình, địa mạo
Địa hình huyện Si Ma Cai thuộc khối nâng vòm sông Chảy là vùng núi
có tuổi cổ nhất so với nền cấu tạo địa chất Bắc bộ. Địa hình được kiến tạo bởi
nhiều dải núi chạy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam thấp dần về hướng Bắc.
Các dải núi về cơ bản được hình thành từ hai mạch núi chính.
Mạch núi trung tâm lãnh thổ huyện khởi nguồn từ hướng Đông Nam
chạy qua đỉnh 1.800 m (ranh giới giữa xã Nàn Sán và xã Quan Thần Sán) và
đỉnh 1.688 m (xã Mản Thẩn) chạy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam. Đây là
dải núi đặc trưng của địa hình Si Ma Cai về độ cao, độ dài và mức độ chia cắt.
Dải núi này hình thành ranh giới tự nhiên giữa các xã Si Ma Cai, Sán Chải,
Mản Thẩn, Cán Hồ, Quan Thần Sán và Sín Chéng.
Mạch núi khu Tây Bắc chạy theo hướng vòng cung với hướng chính là
Đông Bắc - Tây Nam tới địa giới hành chính xã Sín Chéng. Mạch núi chạy
theo hướng Bắc tạo thành ranh giới giữa xã Thào Chư Phìn và xã Bản Mế.
Ngoài hai mạch núi khu Đông Nam huyện được hình thành bởi phần
cuối của dải núi nhỏ chạy từ Bắc Hà thuộc hướng Đông Bắc - Tây Nam.
Nhìn chung, địa hình huyện Si Ma Cai thuộc loại chia cắt mãnh liệt
theo chiều sâu, độ chia cắt từ 400 - 500 m/km2, theo chiều ngang trên 2
km/km2 xen lẫn giữa các dải núi cao với các thung lũng sâu nhỏ chiếm tỷ lệ
không đáng kể và tập trung ở các khu vực ven sông Chảy. Đai cao từ 600 1.000 m chiếm tỷ lệ cao trong phân bố đai cao của lãnh thổ. Các loại đai cao
được phân bố trên cùng một lãnh thổ xã tạo ra sự đa dạng về khí hậu. Sự chia
cắt mãnh liệt của địa hình được thể hiện rõ nét ở phân cấp độ dốc: Độ dốc >
250 có diện tích khoảng 12.423,00 ha chiếm 53% diện tích tự nhiên; độ dốc từ
15 - 250 khoảng 7.501,00 ha chiếm 32% diện tích tự nhiên; độ dốc từ 7 - 150
diện tích khoảng 3.330,00 ha chiếm 14,20% diện tích tự nhiên; độ dốc từ 3 70 diện tích khoảng 167,00 ha chiếm 0,70% diện tích tự nhiên; độ dốc < 3 0
chiếm tỷ lệ không đáng kể.