MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư dạ dày (UTDD) là một trong những loại ung thư phổ biến trên thế
giới với 988.602 ca mắc mới chiếm 7,8% của tất cả các trường hợp ung thư phát
hiện trong năm 2008, và là nguyên nhân chết do ung thư phổ biến thứ hai trên thế
giới với 737.419 người chết mỗi năm [1, 2]. Bệnh có tiên lượng rất xấu nếu không
được chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời, tỷ lệ tử vong chiếm tới 30% tổng số tử
vong của các bệnh có khối u ác tính [3]. Năm 1938, Saeki (Nhật Bản) lần đầu tiên
chứng minh mối liên quan giữa tỉ lệ sống với mức độ xâm lấn của UTDD, theo đó,
hơn 90% sống thêm trên 5 năm sau điều trị phẫu thuật ở những bệnh nhân UTDD
giai đoạn đầu. Khái niệm UTDD sớm (early gastric carcinoma) được đưa ra – là
những khối u phát triển tại lớp niêm mạc và dưới niêm mạc chưa xâm lấn lớp cơ,
có thể có hoặc không di căn hạch bạch huyết vùng [4, 5]. Hiện nay, các nhà khoa
học đều cho rằng việc kéo dài thời gian sống cho bệnh nhân UTDD chủ yếu dựa
vào việc phát hiện sớm và phẫu thuật triệt để [6, 7]. Điều này đã được coi trọng và
thực hiện có hiệu quả tại Nhật Bản, tuy nhiên, dữ liệu từ các nước châu Á khác còn
rất nghèo nàn [2].
Việt Nam nằm trong vùng có tỉ lệ mắc UTDD cao, theo ghi nhận tình hình
ung thư tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh khác, người ta ước tính
tỷ lệ mắc ung thư dạ dày năm 2000 là 23,7/100.000 dân ở nam, đứng hàng thứ 2
sau ung thư phổi, còn nữ giới tỷ lệ này là 10,8/100.000 dân, đứng hàng thứ 3 sau
ung thư vú và ung thư cổ tử cung [8, 9]. Thực tế lâm sàng cho thấy, UTDD nói
chung đặc biệt là UTDD sớm thường không có dấu hiệu lâm sàng báo hiệu, tổn
thương trên nội soi dễ bị bỏ sót do nhầm lẫn với bệnh lành tính, việc bấm sinh thiết
chẩn đoán mô bệnh học chỉ được thực hiện ở các cơ sở chuyên khoa sâu[10]; vì
những nguyên nhân này, chẩn đoán và điều trị UTDD sớm ở Việt Nam còn gặp
hai bờ. Giới hạn trên là mặt phẳng qua lỗ tâm vị, giới hạn dưới là mặt phẳng qua
khuyết góc bờ cong nhỏ.
+ Hang vị là phần nối tiếp theo thân vị hướng sang phải và hơi ra sau.
+ Ống môn vị thu hẹp lại giống cái phễu và đổ vào môn vị. Ở giữa môn vị là
lỗ môn vị thông với hành tá tràng.
Hình 1.1. Phân chia dạ dày [12]
1.1.2. Mô học [12, 13]
Cấu tạo của thành dạ gồm 4 lớp, từ trong ra ngoài lần lượt là lớp niêm mạc,
lớp dưới niêm mạc, lớp cơ và lớp thanh mạc:
♦ Lớp niêm mạc bao gồm:
+ Lớp bề mặt: toàn bộ niêm mạc được phủ bởi tế bào biểu mô chế nhày hình
trụ, nhân nhỏ lệch về phía đáy, nguyên sinh chất có chứa các hạt nhày sáng ở vùng
trên nhân. Dưới kính hiển vi điện tử, tế bào biểu mô bề mặt có viền vi nhung mao
ngắn bao phủ mặt đỉnh, phía ngoài mặt đỉnh là lớp mỏng glycocalyx có sợi. Tế bào
biểu mô phủ sắp xếp một cách tinh vi với những hố lõm nơi đổ vào của các tuyến
dạ dày.
+ Lớp đệm: là mô liên kết thưa có chứa các tuyến dạ dày, các sợi cơ trơn và
mạch máu.
+ Lớp cơ niêm: là loại cơ trơn ngăn cách niêm mạc với hạ niêm mạc và lớp
cơ.
♦ Lớp dưới niêm mạc: có đám rối thần kinh dưới niêm
♦ Lớp cơ: Gồm 3 lớp, cơ chéo ở lớp trong cùng, tiếp đến là lớp cơ vòng và
ngoài cùng là lớp cơ dọc.
♦ Lớp thanh mạc: nằm ở ngoài cùng là một phần của lá tạng phúc mạc.
1.1.3. Liên quan của dạ dày với các cơ quan xung quanh
Dạ dày liên quan với cơ hoành, gan, đại tràng ngang, lách, tụy, tuyến
-
để đổ vào tĩnh mạch mạc treo tràng trên.
Bó mạch vị mạc nối trái: Xuất phát từ động mạch lách trong rốn lách hay từ một
nhánh của động mạch vị ngắn đi vào mạc nối vị lách rồi chạy dọc bờ cong lớn
trong dây chằng vị đại tràng cho những nhánh bên nuôi dạ dày. Tĩnh mạch vị mạc
nối trái theo động mạch đổ vào tĩnh mạch lách trong rốn lách.
1.1.4.3. Những động mạch vị ngắn
Phát sinh từ động mạch lách hay từ một nhánh của nó, có khoảng 5-6 nhánh
chạy trong mạc nối vị lách để chi phối cho phân trên bờ cong lớn.
1.1.4.4. Động mạch vùng đáy vị và tâm vị
-
Các nhánh thực quản phát sinh từ động mạch vị trái đi ngược lên chi phối cho mặt
-
trước và mặt sau vùng tâm vị và đáy vị.
Động mạch hoành dưới trái cho các nhánh đến mặt sau tâm vị.
Động mạch đáy vị bất thường sinh ra từ động mạch lách đi trong dây chằng vị
hoành chi phối cho đáy vị và mặt sau thực quản.
Mạch máu đi tới dạ dày bắt nguồn từ động mạch thân tạng gồm:
-
Vòng mạch bờ cong nhỏ bao gồm bó mạch vị phải và bó mạch vị trái
Vòng mạch bờ cong lớn bao gồm bó mạch vị mạc nối phải và bó mạch vị mạc nối
-
Các hạch ở bên trái tâm vi.
♦ Nhóm 3:
Các hạch dọc theo bờ cong nhỏ.
♦ Nhóm 4:
Các hạch dọc theo bờ cong lớn.
♦ Nhóm 5:
Các hạch trên môn vi
♦ Nhóm 6:
Các hạch dưới môn vi.
♦ Nhóm 7:
Các hạch dọc theo động mạch vị trái.
♦ Nhóm 8:
Hạch động mạch gan chung.
♦ Nhóm 9:
Các hạch dọc theo động mạch thân tạng.
Chặng 1:
Các hạch nhóm 1,2,3,4,5,6 đại diện là các hạch bờ cong nhỏ,
bờ cong lớn.
Chặng 2:
Các nhóm 7,8,9,10,11,12. Các bạch mạch chạy về phía động
mạch thân tạng, các hạch bờ trên tuỵ dọc động mạch lách,
động mạch gan chung.
Chặng 3:
Các nhóm hạch 13,14,15,16. Bạch huyết tập trung lại ở vùng
cạnh động mạch chủ và đổ vào ống ngực.
1.2.
Dịch tễ học
UTDD đang đươc coi là một vấn đề y tế công cộng do mức độ phổ biến
cũng như tính nghiêm trọng của nó. UTDD là bệnh UT phổ biến đứng thứ tư và
đứng thứ hai trong các bệnh UT về tỉ lệ tử vong [17-19]. Ước tính mỗi năm có
988.602 ca mắc mới với 737.419 người chết mỗi năm [1, 2]. Tỷ lệ chết do UTDD
đã giảm từ 31,5/100.000 đối với đàn ông da trắng vào những năm 1935, xuống còn
7,8/100.000 dân vào năm 1983 [20].
UTDD phân bố không đồng đều trên thế giới. Mặc dù là vấn đề toàn cầu, tuy
nhiên có tới khoảng hai phần ba số bệnh nhân UTDD ở các nước đang phát
triển[17]. Tỷ lệ mắc cao nhất được thấy ở Nhật Bản, Nam Mỹ, Đông Âu, tỷ lệ mắc
cơ chế chính xác còn chưa rõ. Tuy nhiên những giả thuyết về nguyên nhân được
nhiều người công nhận bao gồm:
1.3.1. Yếu tố sinh hoc
♦ Vai trò của xoắn khuẩn Helicobacter pylori (HP)
Vào năm 1983 Marshall và Warren phân lập được vi khuẩn HP từ các mảnh
sinh thiết biểu mô dạ dày, các nghiên cứu tiếp sau đó đã chứng minh được nó có
khả năng gây tổn thương niêm mạc dạ dày, gây viêm dạ dày theo từng mức độ và
dần dần dẫn đến dị sản, loạn sản rồi đến UTDD. Parsonet và cộng sự (1991) đã cho
thấy có sự liên quan chặt chẽ giữa HP và UTDD ở phụ nữ và người da đen, và HP
không những làm tăng nguy cơ mắc bệnh UTDD, nó còn là một trong các yếu tố gây
bệnh. Nghiên cứu của ông cũng đưa ra tỉ lệ nhiễm HP trên bệnh nhân UTDD là 84%,
và ở nhóm chứng là 61% [29] .Đối với UTDD loại ruột thì thấy sự có mặt của HP ở
mô không UT là 90% so với loại lan toả là 32%[10] . Bằng phương pháp chẩn đoán
huyết thanh, tỷ lệ huyết thanh dương tính với HP trong UTDD là 64-70% [10]. Blaser
(1995) nghiên cứu sâu hơn về vai trò của HP trong UTDD thấy rằng những người
nhiễm HP có gen Cag A có khả năng gây UTDD cao hơn người nhiễm HP không
mang gen CagA[30]. Ở Mỹ cũng như một số nơi khác trên thế giới, người ta phát
hiện thấy tỷ lệ nhiễm trùng H. pylori cao tại những khu vực có nguy cơ mắc
UTDD cao [25]. Mặc dù không phải bệnh nhân nhiễm H. pylori nào đều sẽ diễn
biến thành UTDD, tuy nhiên các nghiên cứu chỉ ra rằng bệnh nhân mắc dị sản ruột,
viêm dạ dày teo mạn tính , và UTDD có tỷ lệ nhiễm H. pylori cao hơn 3,6 đến 6
lần so với ở người bình thường. Các báo cáo cho thấy tại khu vực bắc Mỹ, tính trên
quần thể người trên 50 tuổi, tỷ lệ nhiễm H. Pylori lên đến 50%, còn ở các nước
đang phát triển khác, người ta tin là tỷ lệ này lên đến gần như 100% [25, 31, 32].
Hiện nay, trên thế giới các test huyết thanh phát hiện nhiễm H. Pylori đã trở
lên ngày càng phổ biến. Đối với nhiễm H. pylori, việc được phát hiện sớm và điều
trị kháng sinh tetracycline, subcitrate Bismuth, và metromidazole đã được chứng
trò của môi trường sống và chế độ ăn uống [8, 15].Nhiều nghiên cứu đã chứng
minh vai trò của chế độ ăn có liên quan đến sự xuất hiện UTDD. Các tác giả cho
rằng ăn các thức ăn tươi, hoa quả tươi như cam, chanh, tăng chất xơ, thức ăn giàu
vitamin A, C, các yếu tố vi lượng như kẽm, đồng, sắt, magiê làm giảm nguy cơ
mắc UTDD [10]. Các yếu tố có thể làm tăng nguy cơ mắc UTDD gồm [42, 43]:
Sử dụng hàm lượng muối cao trong thức ăn:
Thức ăn có chứa hàm lượng nitrat cao.
Chế độ ăn ít vitamin A, C.
Những thức ăn khô, thức ăn hun khói.
Thiếu phương tiện bảo quản lạnh thức ăn.
Rau quả trồng trên đất bùn
1.3.4. Thói quen
Rượu và thuốc lá đã được chứng minh là có vai trò gây UTDD. Tuy nhiên có
rất ít nghiên cứu về vai trò của rượu đối với UTDD [44]. Năm 2004, Koizimi cùng
cộng sự đã có nghiên cứu chứng mình út thuốc lá càng nhiều và càng lâu càng làm
tăng nguy cơ UTDD [45]. Trước đó 2 năm, Chao A và cộng sự đã tính toán được
nguy cơ tương đối của hút thuốc lá với UTDD là 2.0 (CI 95%, 1,1 – 3,7) [46].
1.3.5. Béo phì
Béo phì đươc xem là một trong các yếu tố chính gây lên ung thư dạ dày
vùng tâm vị làm tăng trài ngược ống tiêu hóa, dẫn tới viêm Barret gây tổn thương
dị sản ruột – một loại tiền ung thư biểu mô tuyến dạ dày. Taij Mỹ, một nghiên cứu
gần đây cho thấy chỉ số khối cơ thể có mối liên quan chặt chẽ với tỉ lệ tử vong do
UTDD ở nam giới [47]. Năm 1999, Largergren thực hiện một nghiên cứu trên
người Thuỵ Điển, thấy rằng 25% dân số - nhóm có cân nặng cao nhất có nguy cơ
UTDD gấp 2 – 3 lần so với 25% dân số nhẹ nhất [48].
1.3.6. Yếu tố di truyền
Trong số những bệnh nhân mắc UTDD, ước tính tỉ lệ có tính chất gia đình
chiếm tỷ lệ từ 1% đến 15% [8, 10]. Mặc dù UTDD có thể là một bệnh có tính chất
Có báo cáo đã cho thấy tỷ lệ mắc UTDD ở người nhóm máu A tăng 15% đến 20%
[10, 26].
Thiếu máu nặng cũng được cho là có liên quan đến UTDD [21].
Nhiễm xạ được biết đến như một yếu tố làm tăng nguy cơ mắc UTDD. Năm
1995, Follis và các cộng sự nghiên cứu trên 2049 bệnh nhân bị chiếu tia cho báo
cáo tỉ lệ mắc UTDD trong nhóm này cao hơn so với nhóm không bị chiếu tia[55].
1.4.
Vị trí và sự lan tràn của ung thư dạ dày
1.4.1. Vị trí
UTDD có thể gặp ở mọi vị trí trong thành dạ dày, nhưng hay gặp ở vị trí
thấp hơn vị trí cao, vị trí hay gặp nhất là vùng hang môn vị. Theo Đỗ Đức Vân ung
thư vùng hang môn vị chiếm 65%, bờ cong nhỏ: 28%, tâm vị: 7,5%, bờ cong lớn:
0,5% [56]. Còn theo Trịnh Hồng Sơn tỷ lệ này tương ứng là 55,8%, 28%, 9,8% và
0,33% [57]. Theo một số tác giả nước ngoài thì tỷ lệ ung thư vùng hang môn vị là
chủ yếu , và hiện nay tỷ lệ ung thư tâm vị đang tăng lên [56]. Theo Đoàn Hữu Nghị
và cộng sự (2001) tỉ lệ gặp UT vùng hang môn vị là 63,3%; bờ cong nhỏ là 28,7%;
bờ cong lớn chiếm 2%; phình vị lớn chiếm 1,3%; tâm vị chiếm 2,7%; thân vị
chiếm 0,7%; toàn bộ dạ dày chiếm 1,3% [58]. Palli nhận xét UTDD ở cực trên
thường thấy ở người cao tuổi, thường gặp ở giai đoạn muộn, di căn nhanh theo
đường hạch bạch huyết, do đó có tiên lượng kém hơn UT ở các vị trí khác của dạ
dày [52].
1.4.2. Hình thức lan tràn bệnh UTDD
Bệnh UTDD có thể tiến triển, lan tràn theo nhiều cách:
- Lan tràn tại chỗ - tại vùng:
UTDD có thể xâm lấn qua lớp thanh mạc và ra các mô lân cận ở lách, tuỵ,
gan, đại tràng, tuyến thượng thận… Theo đánh giá của Zinninger(2007), mức độ
Chẩn đoán sớm UTDD thường rất khó vì có tới trên 80% BN UTDD sớm
hầu như không có triệu chứng gì [60-62]. Gutmann khẳng định rằng không có một
triệu chứng nào là điển hình cho UTDD sớm. Đó có thể là triệu chứng giống như
bệnh loét dạ dày, có thể có đau bụng hoặc rối loạn tiêu hóa, ít khi gặp nôn ra máu
hoặc đi ngoài phân đen. Cũng theo tác giả này, phần lớn những BN UTDD sớm
không có triệu chứng lâm sàng [63]. Năm 1974, Miller đánh giá trên 647 BN
UTDD có 37 BN hoàn toàn không có triệu chứng gì, 75% có đau thượng vị, và gầy
sút gặp ở 35,7% số BN [64]. Nghiên cứu trên 250 bệnh nhân UTDD từ 1988 tới
1998, Kadasanir ở Malaysia phát hiện 82% BN đã di căn ở thời điểm phát hiện
Những dấu hiệu như sụt cân, chán ăn, khó nuốt, thiếu máu và chảy máu dạ dày
được coi là những dấu hiệu báo động hữu ích [65]. Boldys và cộng sự kết luận
rằng: sụt cân và ỉa phân đen là những dấu hiệu của ung thư muộn và không nên
chờ đợ tìm tháy những dấu hiệu này để chẩn đoán UTDD sớm. Ngược lại,
Meineche-Schmidt và Jorgensen lại không tìm thấy nguy cơ ung thư cao ở những
BN có những dấu hiệu báo động qua một nghiên cứu thuần tập lớn ở trên hơn 600
BN [66].
Trên thực tế bệnh nhân UTDD thường đến viện ở giai đoạn muộn do các
triệu chứng của bệnh mơ hồ và không đặc hiệu. Khi các triệu chứng rõ thì bệnh đã
ở giai đoạn lan tràn không còn khả năng điều trị triệt để.
Các triệu chứng lâm sàng có thể gặp như:
- Đau bụng vùng trên rốn: đây là triệu chứng thường gặp nhất, đặc biệt có ý
nghĩa khi mới xuất hiện.
- Chán ăn do không có cảm giác ngon miệng, đặc biệt với những món ăn mà
trước đây ưa thích
- Đầy bụng, chậm tiêu chỉ sau một bữa ăn nhỏ
- Buồn nôn và nôn
- Ợ hơi, ợ chua
- Xuất huyết tiêu hoá
sớm bệnh UTDD tại Nhật Bản, vai trò của nội soi ống mềm đã được khẳng định và
ngày càng được sử dụng rộng rãi. Nội soi cùng với nội soi nhuộm màu kết hợp
bấm sinh thiết nhiều mảnh cho phép chẩn đoán chính xác nhất, đồng thời tránh bỏ
sót ung thư sớm.
Ngô Quang Dương (1996) đã phát hiện nếu chỉ nội soi đơn thuần có thể
chẩn đoán đúng là 69,9%, nếu kết hợp bấm sinh thiết tỷ lệ chính xác tăng lên, đạt
tới 90,4% [68]. Tác giả Bùi Ánh Tuyết cũng đưa ra kết quả tương tự [3]. Cũng
chính nhờ nội soi ống mềm mà số các trường hợp UTDD được chẩn đoán sớm
ngày càng tăng lên và các con số nghiên cứu tại Nhật Bản có thể là những minh
chứng rõ ràng: giai đoạn 1946- 1955 tỷ lệ UTDD sớm ở Nhật Bản là 2,1% đã tăng
lên 28,1% trong giai đoạn 1966 - 1975, cho tới những năm 1980 - 1985, tỷ lệ phát
hiện UTDD sớm ở Nhật Bản là 39%, hiện nay tỷ lệ này đã đạt hơn 50% tại đa số
các trung tâm, nâng tỷ lệ sống trên 5 năm sau phẫu thuật lên tới 90% [15].
Nội soi nhuộm màu: là phương pháp sử dụng chất màu để phát hiện những
tổn thương nông ở đường tiêu hoá dựa trên sự bắt màu hay không bắt màu của tổn
thương và của niêm mạc lành. Qua đó có thể chỉ dẫn sinh thiết trực tiếp vào vùng
tổn thương mang lại chẩn đoán chính xác.
Các chất màu hiện nay đang được sử dụng là : Xanh methylen, xanh
Toluidine, Lugol, Indigo Carmin...
♦ Hình ảnh nội soi dạ dày bình thường
- Tâm vị: Niêm mạc màu hồng, nếp nhăn chạy theo chiều dọc, kích thước
của các nếp niêm mạc bình thường, có thể thấy một số mao mạch.
- Thân vị: Tương ứng với bờ cong lớn ở vị trí thấp là nơi dịch dạ dày đọng.
Khi dạ dày co bóp nhu động chạy dọc thân dạ dày về phía hang vị và kết thúc ở
môn vị.
- Bờ cong nhỏ: Phần đứng là một dải dọc phẳng, nhẵn, co bóp ít, nếp nhăn
nhỏ và ít.
- Bờ cong lớn: Các nếp niêm mạc chạy dọc, thô, to, khi bơm hơi căng các
polyp dạng cục hay nhú nhung mao, gặp khoảng 20%.
- Typ II (typ phẳng): Chia làm 3 nhóm nhỏ:
+ Nhóm IIa (phẳng gồ): Mô u phát triển ở niêm mạc tạo thành một mảng
nhỏ hơi gồ lên, ranh giới rõ chỉ cao hơn một chút so với niêm mạc xung quanh.
+ Nhóm IIb (phẳng dẹt): Mô u phát triển ở niêm mạc tạo thành mảng nhỏ
hơi chắc và tương đối phẳng so với niêm mạc bình thường xung quanh. Loại này
khó phát hiện trên nội soi trừ một vài thay đổi về màu sắc.
+ Nhóm IIc (phẳng lõm): Vùng u hơi lõm xuống thấp hơn so với niêm mạc
xung quanh. Lõm có thể do mô u hoại tử loét, bề mặt phủ lớp dịch phù to huyết
mỏng. Typ này chiếm khoảng 30-50%.
- Typ III (typ loét): Tổn thương loét có độ sâu tương đối rõ, loại này gặp
khoảng 20-40%.
Hay gặp tổn thương của các týp kết hợp với nhau, ví dụ: týp IIa+IIc, týp
IIc+III
UT thể loét thường nông, bờ gồ ghề, niêm mạc xung quanh ổ loét không
đều, niêm mạc kết thúc với nhiều hình dáng khác nhau: tập trung, riêng rẽ, hoặc cắt
cụt.
1.5.4. Nội soi ổ bụng
Đây là phương pháp quan trọng trong đánh giá giai đoạn bệnh và đã được
chứng minh là đáng tin cậy hơn so với chụp CT-scanner trong việc phát hiện sự lan
tràn của bệnh. Siêu âm nội soi có thể được tiến hành qua nội soi ổ bụng làm tăng
độ chính xác cho chẩn đoán.
1.5.5. Siêu âm nội soi
Phương pháp siêu âm nội soi rất có ý nghĩa đối với UTDD sớm vì nó giúp lựa
chọn phương pháp phẫu thuật nhờ việc cho phép phát hiện chính xác sự xâm lấn của
ung thư vào các lớp của thành dạ dày và tình trạng di căn hạch.
1.5.6. Chụp cắt lớp vi tính
Đây là một phương pháp cho phép đánh giá sự lan tràn của bệnh rất tốt.
Rất biệt hoá
Biệt hóa vừa
Kém biệt hoá
Không biệt hoá
• Phân loại theo WHO 2000
Phân loại này đã gộp cả phân loại của Lauren vào bảng phân loại của WHO.
Các typ mô học được mã hoá, loại mô học UTBM tế bào nhỏ được bổ sung [21,
26].
Bảng 1.1. Phân loại MBH theo WHO 2000
Loại mô học
Tân sản nội biểu mô tuyến
UTBM tuyến
Típ ruột
Típ lan toả
UTBM tuyến nhú
UTBM tuyến ống nhỏ
UTBM tuyến nhày
UTBM tế bào nhẫn
UTBM tuyến vảy
UTBM tế bào vảy
UTBM tế bào nhỏ
UTBM không biệt hoá
Các loại khác
Mã số bệnh
8140/0
8140/3
8140/3
8144/3
8260/3
biểu mô lát của biểu bì. U hay gặp ở tâm vị khu vực gần thực quản, nhưng cũng có
thể thấy ở hang vị, môn vị.
+ UT tế bào nhẫn: tế bào UT có thể tụ tập thành đám, nhưng thường tách rời
nhau và phân tán trong bể chất nhầy do tế bào chế ra. Tế bào u căng tròn, chất nhầy
đẩy lệch nhân về một phía trông giống như chiếc nhẫn.
+ UTBM không biệt hoá: tế bào UT không sắp xếp tạo thành hình tuyến,
chúng tập trung thành đám lớn hoặc thành ổ, thành bè hay phân tán rải rác trong
mô đệm có mô liên kết xơ phát triển. Một số trường hợp, tế bào u tròn nhỏ đồng