Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả phẫu thuật tạo hình nhân nhầy bằng sóng cao tần trong thoát vị đĩa đệm cột sống cổ tại bệnh viện việt đức - Pdf 19



1

đặt vấn đề

Thoát vị đĩa đệm được định nghĩa bởi sự chuyển chỗ của nhân nhầy vượt quá
giới hạn sinh lý của vòng xơ. Đây là bệnh cảnh Ýt được mô tả, là trong những
nguyên nhân chủ yếu gây chèn Ðp thần kinh cổ ảnh hưởng tới sinh hoạt và lao
động. Người đầu tiên mô tả bệnh lý này là Guizeit ( Đức) năm 1927 nhân một
trường hợp chèn Ðp rễ thần kinh cổ 6 do đĩa đệm [7;42]. Ở Bắc Mỹ , theo
nghiên cứu của Kelsey tỷ lệ mắc thoát vị đĩa đệm cổ mỗi năm chừng
5,5/100.000 nguời[38]. Tại Việt Nam theo Trần Ngọc Ân thoát vị đĩa đệm cổ
gặp tới 40% trong số thoát vị cột sống nói chung.
Đã có những nghiên cứu về bệnh lý này, và các công trình nghiên cứu áp
dụng các thành tựu khoa học tiên tiến đem lại kết quả tốt trong việc chẩn đoán
và điều trị bệnh lý thoát vị đĩa đệm.
Ở Việt Nam, thoát vị đĩa đệm cổ chưa được quan tâm và nghiên cứu nhiều
trong giới y học cũng nh- trong cộng đồng. TVĐĐ cổ chỉ được chó ý chẩn đoán
và điều trị từ những năm 90 của thế kỷ XX. Tiếp đó là các công trình nghiên cứu
của Hà Kim Trung, Dương Chạm Uyên[3], Võ Xuân Sơn (1999), Nguyễn Đức
Hiệp (2000), Hồ Hữu Lương (2003), Nguyễn Đức Liên (2007)[3;8;17;7;4] về
các phương pháp chẩn đoán và điều trị bệnh lý thoát vị đĩa đệm cổ.
Hiện nay việc chẩn đoán bệnh lý thoát vị đĩa đệm đã đạt được những bước
tiến mới do áp dụng các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh hiện đại: Chụp cắt lớp vi
tính, chụp cộng hưởng từ…
Về điều trị thoát vị đĩa đệm, điều trị nội khoa, y học cổ truyền, đã được đề
cập từ lâu. Trong mấy năm gần đây điều trị ngoại khoa đã được áp dụng rộng rãi
và bước đầu mang lại kết quả khả quan. Các bệnh viện phẫu thuật nh-: Chợ
Rẫy, BV 103, 108 Nhưng các phương pháp phẫu thuật này chủ yếu là phẫu


1.1. Lịch sử nghiên cứu
1.1.1. Trên thế giới
Vào thập niên 50 của thế kỷ XVI. Andreas Vealius là người đầu tiên đã mô
tả giải phẫu đĩa đệm. Sau đó là một số công trình nghiên cứu khác về giải phẫu
và những biến đổi của đĩa đệm như Cotunio (1764), Virchow (1857), và đặc biệt
là Luschka(1958) đã mô tả sự khác nhau giữa đĩa đệm cột sống cổ với vùng
khác, đưa ra giải phẫu khớp mỏm móc-đốt sống (khớp Luschka)[18;44]
Schumorld qua nghiên cứu 10.000 cột sống (1925-1951) đã mô tả đĩa đệm
cột sống gồm hai phần: Nhân là một chất mềm được bao bọc bằng những vòng
sợi dày và chắc ở phía trước, mỏng và Ýt vững chắc ở phía sau [33].
Về bệnh lý, trước thế kỷ XX bệnh lý cột sống cổ Ýt được nghiên cứu, nhất là
đĩa đệm. Lần đầu tiên trên thế giới Guitzeit (1927) đã mô tả bệnh lý thoát vị đĩa
đệm cổ, nhân một trường hợp chèn Ðp rễ thần kinh cổ 6 do đĩa đệm. Năm 1928
Stookey đã trình bày 7 trường hợp chèn Ðp tuỷ cổ do đĩa đệm cổ. Một năm sau
Shmorl đã mô tả giải phẫu và hình thái bệnh lý của lồi đĩa đệm và coi đó là một
bệnh lý riêng. Keyes và Compere (1932) đặc biệt chú ý đến vai trò của nhân
nhầy trong bệnh lý của đĩa đệm cổ. Stookey (1940) đã chia ra 3 loại chèn Ðp
thần kinh do thoát vị đĩa đệm cột sống cổ bao gồm: Chèn Ðp tuỷ phía trước,
chèn Ðp trước bên và chèn Ðp bên [7;44;42;41].
Các tác giả Semmes và Murphey (1940), Spurling và Mixter (1940) đều
nghiên cứu tổn thương rễ do chèn Ðp từ đĩa đệm. Clarke và Robinson (1950), 4

Allen (1952), Brain (1954) chú trọng nghiên cứu chèn Ðp tuỷ, các biến đổi
mạch máu và các thoái hoá kèm theo. Gần đây Kokubun S , Tanaka (1995) đã
nghiên cứu cơ chế thoát vị đĩa đệm cổ và chia thành các mức độ lồi đĩa, thoát vị
đĩa và thoát vị đĩa đệm tách rời [59;53;39;47]
Về chẩn đoán, Năm 1934 Mixter và Barr mới thực sự mô tả kỹ lâm sàng, giải

sống cổ được phẫu thuật. [7;19]. Cắt cung sau qua đường mổ phía sau[55;59].
Năm 1950 Badgley, Cloward, Robinson, Smith đã phẫu thuật đường mổ phía
trước lấy đĩa đệm cột sống cổ kèm với kết xương giữa 2 thân đốt sống
[26;27;35;42;46], sau đó Hirsch (1960), Roberson (1973) đã phẫu thuật đường
mổ trước lấy đĩa đệm nhưng không kết hợp xưong
Các phương pháp phẫu thuật Ýt xâm lấn ( minimal invasive discectomy)
-Hoá tiêu nhân nhầy bằng Chymopapain
- Phương pháp lấy đĩa đệm qua da tự động (Automated percutaneous lumbar
discectomy
- Phương pháp sử dụng năng lượng sóng laser để tiêu nhân nhầy đĩa đệm
- Phương pháp mổ thoát vị đĩa đệm vi phẫu (Microdiscectomy)
- Phẫu thuật cắt đĩa đệm vi phẫu nội soi (Microendoscopic discectomy, MED )
- Phẫu thuật nội soi lấy đĩa đệm (Arthrocopicdiscectomy or endoscopic
discectomy)
- Phương pháp sử dụng sóng cao tần để tạo hình nhân nhầy đĩa đệm sử dông
công nghệ cobalation ( Nucleoplasty)[12]
Với sự phát triển không ngừng của y học trên thế giới các phương pháp điều
trị hiện đại cũng dần đựợc nghiên cứu và ứng dụng. 6

1.1.2. Tại việt nam
Tại Việt Nam, thoát vị đĩa đệm cổ đựoc chú ý chẩn đoán và điều trị từ
những năm 90 của thế kỷ XX .Việc chẩn đoán đã đạt được những bước tiến nhất
định do áp dụng các kỹ thuật chẩn đoán hiện đại,nh- Cắt líp vi tính, Cộng
hưởng từ.
Năm 1999, Hoàng Đức Kiệt, Trần Trung, đã công bố nghiên cứu chẩn
đoán thoát vị đĩa đệm cổ bằng chụp cộng hưởng từ qua 90 ca và rất nhiều công
trình nghiên cứu khác.[16;3;17;10;7]

Hình 1.1: Giải phẫu đại thể cột sống cổ
Cột sống cổ gồm 7 đốt sống, 5 đĩa đệm và 1 đĩa đệm chuyển đoạn (Đĩa đệm
cổ-lưng C7-D11) nối từ lỗ chẩm đến đốt sống ngực 1 (T1). Mỗi đốt sống gồm 3
phần chính: Thân, cung sau, và các mỏm. Giữa cung và thân có các lỗ đốt sống,
khi các đốt sống chồng lên nhau tạo thành cột sống thì các lỗ này hợp thành ống
sống, có tuỷ sống nằm trong. [5;9;11]
Thân đốt sống có hình trụ, mặt trên và mặt dưới viền xung quanh bởi gờ
xương, các mặt này giáp với nhau với đĩa đệm. Mặt trên thân đốt từ C3-C7 có
thêm 2 mỏm móc có chiều cao 3,5mm ôm lấy góc dưới của thân đốt sống phía
8

trên, hình thành khớp mỏm móc-đốt sống (khớp Luschka), có vai trò giữ đĩa
đệm không lệch sang 2 bên, là đặc điểm riêng của vùng cổ.[11;5;9]
Cột sống cổ có 5 đĩa đệm và một đĩa đệm chuyển đoạn ( đĩa đệm cổ –lưng),
giữa C1-C2 không có đĩa đệm. Đĩa đệm có hình thấu kính 2 mặt lồi , nằm trong
khoang gian đốt, bao gồm : nhân nhầy, vòng sợi và mâm sụn.[4;11;2;1]
Xung quanh tổ chức xương là dây chằng, bao gồm: dây chằng dọc trước,
dọc sau, dây chằng vàng, dây chằng liên gai và dây chằng trên gai. Dây chằng

10

1.2.2. Giải phẫu chức năng đĩa đệm cột sống cổ
1.2.2.1. CÊu trúc đĩa đệm
Luschka (1858) là người đầu tiên mô tả giải phẫu đĩa đệm. Đĩa đệm gồm 3
phần: nhân nhầy, vòng sợi và 2 tấm sụn.
Các đường kính của đĩa đệm bằng các đường kÝnh của thân đốt sống
tương ứng. Chiều cao của đĩa đệm tăng dần từ đoạn cổ đến đoạn cùng, trong đó
chiều cao trung bình đĩa đệm cột sống cổ ở người trưởng thành là 3mm [4;33].
* Nhân nhầy: Là di tích của dây sống, có hình cầu hoặc bầu dục, nằm ở
khoảng nối 1/3 giữa với 1/3 sau của đĩa đệm, cách mép ngoài của vòng sợi 3-
4mm,chiếm khoảng 40% bề mặt của đĩa đệm cắt ngang. Nhân nhày có hình thấu
kính hai mặt lồi, có cấu trúc lưới, phía ngoài là các sợi Collagen, ở giữa là chất
gelatin dạng sợi có đặc tính ưu nước, trong đó có chất keo glucoprotein có chứa
nhiều nhóm sulphat có tác dụng hút và ngậm nước, đồng thời ngăn cản sự
khuếch tán ra ngoài. Do đó nhân nhày có tỷ lệ nước rất cao, khi mới sinh (90%)
và giảm dần theo tuổi, đảm bảo nhân nhầy có độ căng phồng và giãn nở tốt.
Nhân nhầy giữ vai trò hấp thu chấn động theo trục thẳng đứng phát tán lực theo
các hướng của mặt phẳng nằm ngang và di chuyển nh- một viên bi nửa láng
trong các động tác gấp duỗi, nghiêng và xoay của cột sống. Khi cột sống vận
động (nghiêng, cói, ưỡn ) thì nhân nhầy sẽ di chuyển dồn lệch về phía đối diện
và đồng thời vòng sợi cũng chun giãn. Đây chính là một trong các nguyên nhân
làm cho nhân nhầy ở đoạn cột sống cổ dễ lồi ra sau [7;4;39].
* Vòng sợi : Gồm nhiều vòng xơ sụn đồng tâm được cấu tạo bằng những sợi
sụn rất chắc và đàn hồi, đan ngoặc với nhau kiểu xoắn ốc. Ở vùng viền của vòng
sợi có một loại sợi đặc biệt là sợi Sharpey chạy tới những đường riềm xương để
gắn với thân xương. Các bó sợi của vòng sợi tạo thành nhiều lớp, giữa các lớp
có các vách ngăn đựợc gọi là yếu tố đàn hồi. Khi có lực đè nén thì các bó này
nhau . Sự đàn hồi của đĩa đệm đảm bảo cho cột sống quay được xung quanh 3
trục [2]
- Trục ngang: Cột sống gấp, cúi về trước và ưỡn ra sau.
- Trục dọc: Cột sống nghiêng sang trái và sang phải
- Trục đứng: Cột sống quay quanh trục, tức là xoay nghiêng sang 2 bên
* Chức năng tạo hình dáng cột sống.
1.3. Sinh bệnh học thoát vị đĩa đệm cổ
1.3.1 Bệnh nguyên
Trong lịch sử tiến hoá, sự xuất hiện tư thế và dáng đi đứng thẳng ở người
dẫn đến hàng loạt biến đổi thích nghi của cơ thể, đặc biệt là cấu trúc và chức
năng của cột sống, cột sống đã hình thành các đoạn cong kế tiếp nhau từ đoạn cổ
trở xuống để thích nghi với tải trọng theo trục. Chức năng giảm sóc của đĩa đệm
trở lên vô cùng quan trọng vì trong cơ chế này các đĩa đệm nói chung và đặc biệt
là các đĩa đệm C5-C6 và L4-L5 phải chịu toàn bộ sức nặng của cơ thể và tải
trọng bổ sung trong các hoạt động hàng ngày. Hậu quả làm cho đĩa đệm phải
chịu áp lực cao thường xuyên nên mạch máu bị dồn ra khỏi đĩa đệm. Đĩa đệm
chỉ được nuôi dưỡng bằng thẩm thấu nên trở thành loại mô dinh dưỡng chậm
điển hình, do đó loạn dưỡng và thoái hoá sớm xuất hiện [7;8;4;13].
Vi chấn thương là những sang chấn, những quá tải cho cột sống cổ, không
đủ mạnh để gây ra tổn thương cấp nhưng lặp đi lặp lại nhiều lần. Một số nghề
nghiệp phải thường xuyên mang vác nặng, tư thế lao động phải ngồi nhiều như
thợ may, lái xe, phẫu thuật viên, đánh máy chữ, nghệ sĩ piano… Bên cạnh đó
yếu tố miễn dịch di truyền, nhiễm khuẩn cột sống cổ đã thúc đẩy nhanh quá
trình thoái hoá đĩa đệm cột sông cổ. Đĩa đệm nguyên vẹn có thể chịu đựng 13

những lực tác động và tải trọng lớn, nhưng khi đĩa đệm đã thoái hoá đến một
giai đoạn nhất định, chỉ cần một chấn thương nhẹ hoặc một tác động nhẹ của tải

loạn dưỡng và thoái hoá (thoái hoá sinh học). Yếu tố vi chấn thương, cơ học,
miễn dịch, di truyền, chuyển hoá, nhiễm khuẩn cột sống cổ, đã thúc đẩy nhanh 15

quá trình thoái hoá đĩa đệm cột sống cổ. Hậu quả có thể gây đứt rách vòng sợi
đĩa đệm, nhân nhầy chuyển dịch ra khái ranh giới của nó. Vì vậy, thoái hoá đĩa
đệm là nguyên nhân cơ bản bên trong, còn tác động vi chấn thương cơ học là
nguyên nhân khởi phát bên ngoài, sự phối hợp hai yếu tố đó là nguồn gốc phát
sinh TVĐĐ [42;4;7].
1.4. Lâm sàng và cận lâm sàng thoát vị đĩa đệm cột sống cổ
1.4.1 Triệu chứng lâm sàng
Tuỳ thuộc vào vị trí, thể loại, mức độ thoát vị đĩa đệm cột sống cổ mà
biểu hiện lâm sàng là triệu chứng của chèn Ðp rễ hoặc chèn Ðp tuỷ hay chèn Ðp
rễ-tuỷ phối hợp
1.4.1.1. Hội chứng cột sống
* Đau cột sống cổ: Xuất hiện sớm, hầu nh- bao giờ cũng có và thường là
triệu chứng đầu tiên của thoát vị đĩa đệm. Đau thường khu trú ở vùng gáy lan
lên chẩm hoặc xuống vai. Đau rát, đau nóng ở vùng do rễ thần kinh cổ chi phối
bị thương tổn, thường xuất hiện từng đợt. Đau cổ có tính chất cơ học: Đau xuất
hiện và tăng lên khi vận động, đau giảm khi nghỉ ngơi.
* Co cứng các cơ cạnh cột sống cổ
* Điểm đau cạnh cột sống cổ: Trong thoát vị cột sống cổ thường khó xác
định được điểm đau cột sống hoặc điểm đau cạnh cột sống nh- trong thoát vi cột
sống thắt lưng
* Hạn chế hoạt động cột sống cổ
Hạn chế vận động về các phía, rõ nhất ở giai đoạn cấp tính hoặc đợt tái phát.
1.4.1.2 Hội chứng chèn Ðp rễ



17

tăng thể tích phần đĩa đệm lồi ra. Đây là nghiệm pháp quan trọng đánh giá đau
kiểu rễ trên lâm sàng.
Dấu hiệu bấm chuông: Ên điểm cạnh cột sống cổ (Tương ứng lỗ gian đốt
sống ) xuất hiện đau từ cổ lan dọc xuống vai và tay theo sự phân bố của rễ thần
kinh bị chèn Ðp [4].
* Các dấu hiệu tổn thương rễ:
- Rối loạn cảm giác: Giảm hoặc mất cảm giác kiểu rễ dị cảm ( kiến bò, tê bì,
nóng rát,…) ở da theo khu vực rễ thần kinh chi phối. Vị trí rối loạn cảm giác có
giá trị chẩn đoán định khu rễ thần kinh bị tổn thương, nhưng nhiều khi ranh giới
vùng cảm giác không rõ ràng
- Rối loạn vận động: Yếu một số cơ chi trên (Hiếm khi bị liệt hoàn toàn) và
thường hay bị hạn chế vận động do đau. Rối loạn khác gồm teo cơ và rối loạn
phản xạ cũng không đặc hiệu
1.4.1.3 Hội chứng chèn Ðp tuỷ
* Rối loạn vận động: Là triệu chứng xuất hiện sớm và nổi bật nhất của hội
chứng tuỷ. Bệnh cảnh lâm sàng có thể bao gồm cả rối loạn vận động chi trên và
rối loạn vận động chi dưới nhưng cũng có thể không đầy đủ, chỉ có rối loạn vận
động chi dưới. Các biểu hiện chèn Ðp tuỷ thường kéo dài từ vài tháng đến vài
năm , nhưng cũng có thể trong vài tuần và thường là bệnh cảnh rầm rộ với bệnh
cảnh liệt tứ chi, khi đó cần phải phẫu thuật sớm [6;10].
* Rối loạn cảm giác: Tê bì ở đầu gối, bắp chân hay gót chân có thể xảy ra,
hay gặp nhất là tê bì ở bàn tay, chủ yêú ở đầu ngón tay, có thể trở lên nghiêm
trọng làm cản trở vận động của các ngón tay.
* Rối loạn phản xạ: Dấu hiệu lâm sàng có thể gây ra bởi sự tổn thương chất
xám hay chất trắng của tuỷ sống. Giảm phản xạ gân xương, yếu cơ và rối loạn
cảm giác chi trên là triệu chứng của tổn thương chất xám. Tăng phản xạ gối và



19

Chụp tuỷ cổ cản quang (Cervical myelography) là phương pháp chụp XQ
sau khi đưa chất cản quang vào khoang dưới nhện của tuỷ sống. Ưu điểm là nhìn
thấy rõ toàn bộ vùng tuỷ của cột sống cổ (Trừ trường hợp hẹp ống sống cổ nặng
hoặc tắc nghẽn lưu thông dịch não tuỷ hoàn toàn ). Hình ảnh chèn Ðp thể hiện
bằng hình khuyết của hình cột đó, dựa vào đó có thể chẩn đoán định khu tổn
thương. Nhược điểm là kỹ thuật chọc khó khăn và là thăm dò gây sang chấn, có
những nguy cơ dị ứng chất cản quang, mặt khác nó không cho phép chẩn đoán
trực tiếp hình ảnh thoát vị đía đệm và có Ýt giá trị với thoát vị bên [16]. Ngày
nay Ýt dùng phương pháp này do đã có các phương pháp khác hiện đại và an
toàn hơn
1.4.2.3. Chụp cắt lớp vi tính và chụp cắt lớp ống tuỷ cản quang
Năm 1971 Housfield và Ambrose đã tìm ra kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính (
CT: Computer Tomorgraphy) là bước tiến lớn trong chẩn đoán các bệnh lý sọ
não và cột sống. Có 2 phương pháp chụp CT là: Không tiêm thuốc cản quang và
có tiêm thuốc cản quang [4;13].
* Phương pháp chup CT không tiêm thuốc cản quang: Trên các ảnh cắt
ngang thấy đĩa đệm thoát vị có tỷ trọng từ 60-100 đv Housfield (UH)
Nhược điểm là không phân biệt được đĩa đệm thoát vị với cốt hoá dây
chằng dọc sau, và hay bị nhiễu do vai bệnh nhân [4;29].
* Phương pháp chụp CT có tiêm thuốc cản quang. Cho thấy các hình thái
khác nhau của TVĐĐ, có thể thoát vị trung tâm, thoát vị cạnh trung tâm, hay
thoát vị bên với sự xâm lấn vào lỗ tiếp hợp. Hình ảnh đĩa đệm thoát vị là hình
giảm tỷ trọng tại lát cắt ở khe liên đốt. Phương pháp này còn cho phép thấy được
hình ảnh tĩnh mạch, hình ảnh gai xương hay thoái hoá khớp móc ( Khớp
Luschka).
* Chụp CT phối hợp tiêm thuốc cản quang ống tuỷ (CTM) được Di Chiro
và Chelliger đề xuất năm 1976, cho phép chẩn đoán vị trí và mức độ thoát vị,

T1 và tăng tín hiệu (màu trắng) trên T2. Bình thường đĩa đệm có ranh giới rõ và 21

mềm mại , được giới hạn phía sau và trước bởi dây chằng dọc, phía trên và dưới
là các thân đốt sống liền kề. Khi có thoát vị các danh giới trên bị phá vỡ, tổ chức
thoát vị có thể vượt qua giới hạn bình thường và lồi ra sau, lồi ra trước, thậm
chÝ phình cả vào thân đốt sống, trong đó thoát vị ra sau là hay gặp nhất [16;49]
Hình ảnh thoát vị trên lát cắt ngang gồm hình thoát vị trung tâm, thoát vị
cạnh trung tâm hoặc thoát vị bên, có thể đánh giá và xác định chính xác vị trí
của phần đĩa đệm thoát vị so với ống tuỷ và các chèn Ðp. Trên lớp cắt dọc cho
phép đánh giá toàn bộ cột sống vùng cổ và thấy được vị trí thoát vị [49]. Ngoài
ra còn phát hiện các thương tổn phần mềm khác: Cốt hoá dây chằng vàng, cốt
hoá dây chằng dọc sau…
Chụp cộng hưởng từ cũng còn một số nhược điểm nh-: về hình ảnh đôi
khi khó phân biệt xương với phần mềm, kỹ thuật khó tiến hành khi bệnh nhân
không hợp tác, cử động của bệnh nhân làm cho hình ảnh không rõ. Chống chỉ
định với người mang dụng cụ kim loại trong người ( máy tạo nhịp, van tim nhân
tạo…) Tình trạng bệnh quá nặng cần có máy hồi sức bên cạnh [16;7;3].
Tóm lại chụp cộng hưởng từ là phương pháp chẩn đoán hình ảnh có giá trị
cao cho thoát vị đĩa đệm cổ, gần như là tiêu chuẩn chẩn đoán vì cho hình ảnh
trực tiếp đĩa đệm cũng như rễ thần kinh trong ống sống và ngoại vi, có thể phát
hiện thoát vị khi không có triệu chứng.
1. 5. điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống cổ
1.5.1. Điều trị nội khoa
Điều trị nội khoa đóng vai trò rất quan trọng trong việc giảm triệu chứng ,
góp phần chẩn đoán và phục hồi sau can thiệp. Mục đích chủ yếu là làm giảm hay
mất triệu chứng đau. Chỉ định và phương pháp điều trị chủ yếu dựa vào lâm sàng.
* Chế độ bất động trong thời kỳ cấp tính


23

hợp các thuốc giảm đau chống viêm thông thường không kết quả, hoặc dùng
tiêm ngoài màng cứng.
* Kéo giãn cột sống cổ
Là phương pháp điều trị bệnh sinh vì nó làm giảm áp lực tải trọng một
cách mạnh mẽ, tạo điều kiện chuyển dịch hướng tâm cho nhân nhầy đĩa đệm,
tăng cường xâm nhập các chất chuyển hoá vào đĩa đệm. Chỉ định với chèn Ðp rễ
đơn thuần, chống chỉ định với chèn Ðp tuỷ hoặc những tổn thương xương nh-
gai xương lớn trong ống tuỷ. Kéo giãn cột sống cổ có tác dụng khá tốt nhưng chỉ
nên làm ở các cơ sở chuyên khoa [4].
1.5.2. Điều trị ngoại khoa
1.5.2.1. Phương pháp mổ mở :
Có 2 phương pháp phẫu thuật thường áp dụng là Mổ theo lối trước bên và
mổ nối sau
* Mổ lối trước bên [27]:
+ Phương pháp Smith-Robinson: Ra đời năm 1955 và được sử dụng
nhiêù nhất. Đi vào khoang gian đốt, cắt dây chằng dọc trước, lấy bỏ đĩa đệm, rồi
ghép xương [24;28;36;57].
* Mổ lối sau: Chủ yếu khi thoát vị lỗ liên hợp, thoát vị nhỏ, tiếp cận vào lỗ liên
hợp từ phía sau, lấy bỏ phần thoát vị chèn Ðp rễ thần kinh. [32]
1.5.2.2 Các phương pháp phẫu thuật Ýt xâm lấn ( minimal invasive discectomy)
* Hoá tiêu nhân nhầy bằng men Chymopapain
Từ năm 1964, L.Smith đã chứng minh khả năng làm tiêu nhân nhầy ở
người của men Chymopapain (là một trong 3 loại men được chiết xuất từ cây đu
đủ Carica papaya) nhưng không gây tổn thương chất tạo keo (colagen) của vòng
sợi đĩa đệm . Năm 1983 phương pháp này được sử dụng rộng rãi tại mỹ. Nhưng
từ năm 1999 phương pháp này bị cấm do có nhiều biến chứng [1;14;50;58]



25

hiện đầu tiên vào năm 2001 và được hiệp hội thuốc và dược phẩm Hoa kỳ
(FDA) công nhận [1;22;23;25;34;37;43;45;56;62]
- Năm 2002, Cesaroni, khi nghiên cứu khoảng 800 bệnh nhân điều trị
bằng sóng cao tần, theo dõi 4-5 năm không thấy đau lại là 85-91%, hầu như rất
Ýt biến chứng[12]
* Công nghệ Coblation
Là mét quy trình diễn ra có kiểm soát, không gây nóng, sử dụng năng
lượng sóng cao tần để kích hoạt quá trình điện phân trong các dung dịch trung
gian truyền dẫn như dung dịch muối, tạo ra dòng Plasma có độ tập trung cao và
chính xác. Các phần tử được kích hoạt bởi dòng Plasma mang năng lượng phù
hợp để phá vỡ liên kết phân tử trong mô liên kết, dẫn tới tổ chức mô liên kết bị
tan dã ở nhiệt độ tương đối thấp (40 đến 70ºC ). Kết quả là một thể tích mô đích
cần loại bỏ dược tiêu huỷ với một tổn thương tối thiểu cho các mô lân cận .
- Đặc tính:
Nhiệt độ thấp: Bởi vì sóng Radio không trực tiếp đi qua mô trong quá trình
xử lý nên không làm nóng tổ chức. Hầu hết nhiệt toả ra trong quá trình tạo
plasma (Quá trình ion hoá ) Những ion này bắn phá tổ chức trên đường đi của
chúng, khiến những liên kết phân tử bị phá vỡ thành từng mảnh, kết quả làm mô
bị tan rã và phân huỷ (Hình 4)

Hình 1.4.
* Nucleoplasty


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status