Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị thoát vị bẹn ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi đồng thành phố Cần Thơ - Pdf 24

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thoát vị bẹn là tình trạng các tạng trong ổ phúc mạc đi ra ngoài qua
điểm yếu của thành sau ống bẹn xuống bìu (hoặc môi lớn ở nữ). Thoát vị bẹn
ở trẻ em thường gặp là do bẩm sinh (do tồn tại ống phúc tinh mạc) và khác
với thoát vị bẹn ở người lớn thường gặp là do mắc phải (do yếu cân cơ thành
bụng) [10]. Phẫu thuật thoát vị bẹn là phẫu thuật được thực hiện thường
xuyên nhất ở trẻ em với tỷ lệ khoảng 0,8% đến 4,4% . Trẻ em bị thoát vị bẹn
sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe và sinh hoạt của trẻ. Thoát vị bẹn ở trẻ em
cần phải được chẩn đoán và điều trị phẫu thuật sớm nhằm giảm thiểu các biến
chứng thường gặp ví dụ như nghẹt, tắc ruột, viêm phúc mạc, Việc chẩn
đoán thường dễ dàng và phẫu thuật nhìn chung cũng ít xảy ra biến chứng .
Tuy nhiên, vẫn xảy ra tình trạng tái phát ở thời thanh thiếu niên nhưng với
nguy cơ thấp, nguy cơ phải phẫu thuật lại bẹn là 8,4% và đau mạn tính là 3% .
Đặc điểm lâm sàng của thoát vị bẹn thường có điểm chung là có khối
phồng ở vùng bẹn và trở nên đau khi khối thoát vị to lên làm rách mô thành
bụng. Các triệu chứng như nôn, bí trung đại tiện, chướng bụng, quấy khóc
thường ở giai đoạn muộn hay thoát vị nghẹt. Khối thoát vị thường có xu
hướng xảy ra ở bên phải hơn bên trái ,,. Đối với trẻ em có nhiều yếu tố thuận
lợi để thoát vị bẹn xuất hiện như trẻ thường khóc, chạy nhảy và ho với tỷ lệ
tương ứng 24,4%, 12,3% và 30,7% .
Điều trị thoát vị bẹn ở trẻ em bằng phẫu thuật là phương pháp hiệu quả,
với nhiều kỹ thuật mổ đã được chứng minh. Tại vùng Đồng bằng sông Cửu
Long, nơi mà phẫu thuật viên Ngoại nhi còn ít, những trường hợp thoát vị bẹn
ở trẻ em chủ yếu do còn ống phúc tinh mạc, mạc ngang bình thường, khối
thoát vị thường nhỏ thì đa số bệnh nhi được phẫu thuật theo phương pháp
2
Bassini, McVay, Shouldice…đều cho kết quả tốt. Riêng phương pháp
Shouldice là kỹ thuật có tỷ lệ tái phát thấp . Tuy nhiên các kỹ thuật này khá
nặng nề so với trẻ em.
Tại Việt Nam, có nghiên cứu của tác giả Nguyễn Ngọc Hà (2006)

điều trị thoát vị bẹn , đó là:
Năm 1556, Franco mở lỗ bẹn sâu giải phóng ruột trong thoát vị bẹn
nghẹt và đóng lại chỗ mở bằng các mũi chỉ khâu. Năm 1559, Stromayr cắt bỏ
túi thoát vị, thừng tinh và cả tinh hoàn khi mổ thoát vị gián tiếp [10]. Thời kỳ
Phục Hưng, việc phẫu tích xác ở Châu Âu đã cho phép hiểu thêm về thoát vị
bẹn. Năm 1721, William Cheselden mổ thành công một trường hợp thoát vị
bẹn nghẹt, quai ruột được giải phóng, mạc nối lớn dính vào túi thoát vị được
buộc và cắt .
Thế kỷ XIX được xem là khởi điểm điều trị thoát vị bẹn hiện đại. Năm
1877, tại Châu Âu và Bắc Mỹ V. Czerny đã mô tả phương pháp phẫu thuật
cột cao và cắt bao thoát vị tại lỗ bẹn nông và khâu hẹp lại lỗ bẹn nông . Các
tác giả Camper, Cooper, Hesselbach và Scarpa, cùng với phương pháp sát
trùng của Lister đã cho phép suy xét kỹ lưỡng tính khả thi của việc tái tạo cấu
trúc ống bẹn. Bassini (1887) và Halsted (1889) đã báo cáo sự thành công của
4
kỹ thuật cơ bản lúc bấy giờ trong thủ thuật túi thoát vị [50]. Năm 1899,
Ferguson mô tả phương pháp thắt cao túi thoát vị và tái tạo các phần liên quan
của cấu trúc thừng tinh theo các lớp giải phẩu ống bẹn .
Trong phẫu thuật thoát vị bẹn, người có công lớn nhất là Eduado
Bassini người Ý với kiến thức sâu về giải phẫu và sinh lý vùng bẹn, thấy được
những thiếu sót của các loại phẫu thuật trước đó, ông đã mổ thành công một
trường hợp thoát vị bẹn vào năm 1884, và sau này phương pháp mổ này mang
tên ông. Bassini có lý do cá nhân giải thích tại sao ông quan tâm đặc biệt đến
giải phẫu vùng bẹn. Trong lúc tham gia chiến đấu tại Villa Glovi vào năm
1867 ông đã bị một cận vệ giáo hoàng đâm lê vào vùng bẹn phải gây ra thủng
manh tràng gây dò phân ra vùng bẹn phải. Vào năm 1889, Bassini đã đề xuất
phương pháp bóc tách và tái tạo vùng bẹn như sau: mở cân cơ chéo bụng
ngoài, bóc tách và cắt cao cổ bao thoát vị ở lỗ bẹn sâu sau đó bằng các mũi
khâu rời 3 lớp, gân cơ kết hợp cùng với cung đùi sau thừng tinh, khâu lại 2
mép cân cơ chéo lớn với nhau trùm lên thừng tinh ,.

thừng tinh và cuối cùng bám vào đường lược xương mu .
- Thành trước: Thành trước ống bẹn được tạo nên bởi cân cơ chéo bụng
ngoài và một phần nhỏ phía ngoài được tăng cường bởi cơ chéo bụng trọng, ở
chỗ này cơ bám vào dây chằng bẹn .
- Thành dưới: Được tạo nên bởi dây chằng bẹn. Dây chằng bẹn là chỗ
dày lên của bờ dưới cân cơ chéo bụng ngoài, đi từ gai chậu trước trên đến củ
mu [8],[18].
- Thành sau: Thành sau ống bẹn được tạo nên chủ yếu bởi mạc ngang.
Đây là lớp mạc bao phủ khắp ổ bụng và nằm ngay dưới cơ ngang bụng. Dưới
mạc ngang là lớp mở ngoài phúc mạc rồi đến phúc mạc và các tạng trong ổ
bụng ,[13],[14].
Cũng như tất cả các vùng của bụng, thành bụng vùng ống bẹn gồm các
lớp từ nông đến sâu: da, mỡ dưới da, lớp mạc sâu, cân và cơ chéo ngoài, cân
và cơ chéo trong, cân và cơ ngang bụng, mạc ngang, lớp mỡ trước phúc mạc,
cuối cùng là phúc mạc thành. Các cơ này liên tục với các lớp tương ứng ở bìu
[6],[18],[24].
- Nếp lằn da vùng bẹn bụng: Trong phẩu thuật, nếu rạch da ở vùng này
thì vết mổ sẽ không bị căng vì vậy sẽ dễ liền và ít để lại sẹo như khi mổ vết
dọc trên vùng bẹn, liền sẹo chậm, dễ bị sẹo lồi ở trẻ em [6],.
- Lớp dưới da: Vùng bẹn có tổ chức dưới da lỏng lẻo, có 2 lá: Một lớp
nông gọi là mạc nông và một lớp sâu, vững hơn có nhiều sợi đàn hồi gọi là
mạc sâu. Mạc sâu xuống dưới tạo thành một dải từ xương mu đến bao quanh
dương vật, gọi là dây treo dương vật ,[18].
- Cơ chéo ngoài (cơ chéo lớn): Là một cơ rộng, có tổ chức cơ ở phía
sau và cân ở phía trước. Nguyên ủy bám vào bảy xương sườn dưới bởi bảy trẽ
7
cân, các trẽ này xen kẽ như răng cưa với các trẽ của cơ răng to. Các thớ ở trên
chạy ngang vào trong, các thớ ở giữa đi chếch xuống dưới để hợp thành một
cái quạt xòe từ trên xuống dưới [18].
Cơ gồm hai phần: Phần cơ ở sau trên, tận hết cách gai chậu trước trên

Phần thấp nhất của cơ chéo bé dính vào dây chằng bẹn, nên thừng tinh
liên quan chặt chẽ với bờ trong của cơ. Bên ngoài thừng tinh nằm sâu so với
các thớ cơ, chính các thớ cơ này bị tinh hoàn kéo xuống đến bìu tạo nên cơ
bìu ,[18],[24].
- Cơ ngang bụng: Cơ ngang bụng là lớp cơ nằm sâu nhất trong ba lớp
cơ thành bụng. Hầu hết các sợi cơ chạy ngang, khi xuống dưới các thớ cơ
ngang bụng hướng xuống dưới và uốn cong vào phía trong tạo thành một
9
vòng cung ôm lấy ống bẹn. Cơ ngang bụng ít sợi cơ và nhiều sợi cân hơn cơ
chéo bé và cơ chéo to [8],.
- Mạc ngang: Mạc ngang nằm sâu dưới cơ ngang bụng, mạc ngang
được mô tả lần đầu tiên bởi Cooper (1807) ,[10],[38] ở vùng bẹn nó gồm hai
lớp: lớp vững chắc bao phủ phía trong cơ ngang bụng, lớp sâu nằm ngay trên
phúc mạc, bó mạch thượng vị dưới chạy giữa hai lá của mạc ngang. Tại vùng
bụng dưới, mạc ngang là một màng liên tục, chỉ bị gián đoạn bởi thừng tinh đi
qua lỗ bẹn sâu [18],[29].
Mạch máu và thần kinh vùng bẹn:
* Động mạch:
Ở lớp nông, vùng bẹn có ba động mạch, xuất phát từ động mạch đùi,
gồm có: Động mạch mũ chậu nông đi ra phía ngoài lên trên qua ống bẹn;
Động mạch thượng vị nông chạy lên trên và vào trong; Động mạch thẹn ngoài
nông chạy vào trong cấp máu cho da dương vật và bìu và nối với mạch thừng
tinh trong bìu [18].
Hình 1.3. Các mạch máu vùng bẹn.
“Nguồn: Netter F.H, 2010” [64]
10
Ở lớp sâu, động mạch thượng vị dưới xuất phát từ động mạch chậu
ngoài sát dây cung đùi nối với nhánh tận của động mạch thượng vị trên. Động
mạch thượng vị dưới tạo nên bờ ngoài của tam giác bẹn [18].
* Tĩnh mạch: đi kèm với các động mạch.

Các phần kể trên tạo nên những sợi thừng chạy dưới phúc mạc, gọi là
hố bẹn ở mỗi bên của đường giữa, với tên gọi lần lượt từ ngoài vào trong là:
- Hố bẹn ngoài, nằm ngoài động mạch thượng vị.
- Hố bẹn giữa, nằm ngoài động mạch rốn đã tắc và trong động mạch
thượng vị.
- Hố bẹn trong, nằm giữa dây treo bàng quang và động mạch rốn.
Trừ hố bẹn trong có cơ thẳng bụng che chắn, còn lại hố bẹn ngoài và
giữa là các diện yếu và là điểm xuất phát của thoát vị bẹn [10],[13],[14].
1.3. Phân loại thoát vị bẹn
1.3.1. Theo vị trí giải phẫu
Thoát vị bẹn chéo ngoài: đa số thoát vị bẩm sinh, tạng chui ra ngoài
qua hố bẹn ngoài, vào ống phúc tinh mạc để xuống bìu. Túi thoát vị nằm
trong bao xơ thừng tinh.
Thoát vị bẹn trực tiếp: đa số là thoát vị mắc phải, tạng chui ra ngoài đi
qua hố bẹn giữa. Túi thoát vị nằm ngoài bao xơ thừng tinh.
Thoát vị bẹn chéo trong: tạng thoát vị chui ra ở hố bẹn trong, rất hiếm
gặp [14],[27],[75].
1.3.2. Theo nguyên nhân
Thoát vị bẩm sinh: do tồn tại ống phúc tinh mạc, là thoát vị chéo ngoài
và thường gặp ở trẻ em [12].
12
Thoát vị bẹn mắc phải: do yếu cân cơ thành bụng, thường gặp ở người
già, tạng chui ra ở hố bẹn giữa ,[14].
1.3.3. Theo tiến triển
Thoát vị chỏm: tạng mới vừa chui qua khỏi lỗ bẹn sâu.
Thoát vị kẽ: tạng chui ra khỏi lỗ bẹn sâu và nằm trong ống bẹn
Thoát vị bẹn-mu: tạng chui ra nằm ở gốc dương vật
Thoát vị bẹn-bìu: tạng thoát vị xuống đến bìu .
1.4. Phôi thai học và sinh bệnh học của thoát vị bẹn trẻ em
Vào tháng thứ ba của thời kỳ bào thai, tinh hoàn bị kéo từ sau phúc mạc

Nguy cơ thoát vị bẹn ở trẻ đẻ non cao hơn nhưng không có bằng chứng rõ
ràng về sự khác biệt tỉ lệ giữa nam và nữ ở những đứa trẻ này [9]. Tại Việt
Nam, một nghiên cứu về đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị thoát vị bẹn trẻ
em tại bệnh viện Việt Đức của Nguyễn Ngọc Hà (2006) cho thấy tỷ lệ trẻ nam
được phẫu thuật là 84,3% cao gấp khoảng 6 lần so với trẻ nữ được phẫu thuật
vì thoát vị bẹn 15,7% .
Thoát vị bẹn hai bên ở trẻ gái, cần phải làm nhiễm sắc thể giới tính
hoặc gen biệt hóa tinh hoàn. Nếu nhiễm sắc thể giới tính 46 XY hoặc gen biệt
hóa tinh hoàn (+) thì phải khám toàn diện và phải khám nội tiết để xác định là
nam lưỡng giới giả (ngoại hình và bộ phận sinh dục ngoài trông như nữ,
nhưng âm đạo ngắn, không có tử cung, không có buồn trứng mà có hai tinh
hoàn trong ổ bụng hoặc ống bẹn). Bệnh nhi là nam nhưng trông như nữ và
15
thường được đặt tên con gái. Nếu không có điều kiện làm xét nghiệm xác
định nhiễm sắc thể giới tính, thì khi mổ chữa thoát vị bẹn, bắt buộc phải kiểm
tra tuyến sinh dục là tinh hoàn hay buồng trứng [65]. Nam giới có tử cung
phát hiện lúc mổ mở bao thoát vị cần phải thăm dò cơ quan sinh dục trong,
làm thêm xét nghiệm nội tiết và nhiễm sắc thể giới tính [30],[40].
Vị trí thoát vị: Thoát vị bẹn ở trẻ em chủ yếu nằm ở bên phải và đã
được nhiều nghiên cứu ghi nhận [32]. Theo tác giả Rowe và Clatworthy thì ở
con trai thì 60% thoát vị bẹn ở bên phải, 30% ở bên trái, và 10% ở hai bên. Tỷ
lệ này tương tự ở con gái (bên phải: 60%, bên trái: 32%, hai bên là 8%) .
Ngay cả ở người lớn cũng ghi nhận kết quả tương tự. Trong nghiên cứu Srey
Phembunnarith (2003) ghi nhận 60,5% thoát vị bẹn xảy ra ở bên phải và
39,5% ở bên trái .
Tiền sử gia đình: Một tỉ lệ cao của thoát vị bẹn bẩm sinh đã được ghi
nhận ở những cặp sinh đôi . Có 11,5% bệnh nhân mà trong tiền sử gia đình có
người bị thoát vi bẹn . Thứ tự sinh con cũng được một số tác giả gợi ý để xem
xét đến thoát vị bẹn ở trẻ em [31]. Trong nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Hà
(2006) cho thấy thoát vị bẹn ở trẻ là con thứ nhất chiếm 52,8% và giảm dần tỷ

được xác định trước đó bởi gia đình hoặc các thầy thuốc nhi khoa, nhưng
phẫu thuật viên nên cố gắng thấy được khối thoát vị để có chẩn đoán xác định
trước khi quyết định mổ [9],[21].
Thoát vị bẹn trẻ em cần chẩn đoán phân biệt với [1],[21],:
- Hạch bẹn do nhiễm trùng, lao, ung thư.
- U máu thể hang.
- Phồng hoặc phồng giả động mạch đùi.
17
- Bướu mở vùng bẹn.
- Áp xe cơ thăn đổ vào vùng bẹn.
- Tụ máu sau chấn thương.
- Tinh hoàn lạc chổ.
- Nang thừng tinh, nang ống Nuck.
- Tràn dịch tinh mạc.
- Dãn tĩnh mạch thừng tinh.
- Viêm mào tinh hoàn.
- Xoắn thừng tinh.
1.6.2. Thoát vị bẹn nghẹt
Khối phồng vùng bẹn bìu là dấu hiệu chung của tất cả các bệnh nhân
thoát vị bẹn. Giai đoạn đầu khối phồng có thể tự lên xuống được hoặc chỉ lên
khi nằm. Về sau càng muộn thường khối phồng chỉ lên được khi đẩy lên, nếu
đẩy không lên thì đã có biến chứng nghẹt . Khối thoát vị điển hình, căng, đau,
ấn không nhỏ đi và có hội chứng tắc ruột rõ. Nếu bệnh nhân đến muộn thì đau
trở nên dữ dội, nôn ra nước mật và có thể ỉa ra ít máu. Khối thoát vị sưng nề,
da phía trên màu đỏ, đau dữ dội khi sờ nắn. Tinh hoàn có thể bị sưng, chắc do
tĩnh mạch và bạch huyết bị chèn ép ,[13].
Thoát vị bẹn trẻ em nghẹt cần chẩn đoán phân biệt với: xoắn tinh hoàn
và phần phụ tinh hoàn, viêm hạch vùng bẹn bìu [1],[23].
1.7. Biến chứng của thoát vị bẹn ở trẻ em
- Thoát vị bẹn nghẹt: do chèn ép mạch máu của các tạng thoát vị bởi

Có hai phương pháp phẫu thuật thoát vị bẹn trẻ em đó là cột cắt cao cổ
túi thoát vị và cột cắt cao cổ túi thoát vị + khâu hẹp lỗ bẹn sâu [20]:
- Cột cắt cao cổ túi thoát vị: Mức độ nặng nhẹ và kỹ thuật phù hợp
thoát vị bẹn ở trẻ em và phương pháp tái tạo hợp lý là cột cắt cao ống phúc
tinh mạc [9],[12],[70].
Các bước phẫu thuật bao gồm:
+ Rạch da theo chiều ngang theo nếp lằn bụng dưới một đoạn ngắn 2 –
3cm.
+ Rạch qua lớp mở dưới da để bọc lộ cân nông (cân Scarpa), cân này
phát triển ở trẻ em và dễ lẫn với mạc chéo lớn.
+ Mở cân cơ chéo bụng ngoài theo thớ cân, nhưng không cần mở lỗ
bẹn nông.
+ Bộc lộ, bóc tách túi thoát vị, tránh làm tổn thương thừng tinh.
+ Đẩy tạng thoát vị vào ổ bụng.
+ Khâu ngang, buộc và kẹp cắt cắt cổ bao thoát vị ngang mức lỗ bẹn
sâu.
+ Đưa tinh hoàn về đáy bìu.
+ Khâu đóng cân cơ chéo bụng ngoài và da.
Đối với trẻ nhỏ, hầu hết phẫu thuật viên đều chọn đường mổ ngang trên
nếp bẹn bụng, đầu trong của đường mổ ở ngoài gai mu, vị trí chính xác này
tùy thuộc vào từng trẻ, mục đích là có thể bộc lộ tốt nhất lỗ bẹn sâu. Một cuộc
phẫu thuật thoát vị bẹn thường có hai bước là: xử lý túi thoát vị và các thành
20
phần của chúng; phục hồi lại thành bụng. Với thoát vị ở trẻ nhỏ, sau khi rạch
da và tổ chức cân nông, bộc lộ lỗ bẹn nông ở phía ngoài gai mu. Ở trẻ sơ sinh,
lỗ bẹn sâu hầu như nằm ngay dưới lỗ bẹn nông và có thể phẫu tích vào lỗ bẹn
sâu mà không cần mở cân cơ chéo bụng ngoài. Với trẻ lớn hơn nên cắt cơ
chéo bụng ngoài bằng một đường ngắn dọc theo các sợi cân ở lỗ bẹn nông,
thận trọng để xác định và bảo vệ dây thần kinh chậu bẹn ở bên dưới [8],,[18].
Tiến hành phẫu tích túi thoát vị và xử lý túi thoát vị, cột cao cổ túi thoát vị

nề và dễ rách, tĩnh mạch tinh và ống dẫn tinh dễ bị tổn thương [6],[9],[21].
Với bao thoát vị phù nề, bở, dễ bị rách thì khâu vắt an toàn hơn là buộc.
Đường mổ được đóng theo cách thông thường .
1.9. Các tai biến và biến chứng phẫu thuật thoát vị bẹn ở trẻ em
1.9.1. Các tai biến trong mổ
Tổn thương các nhánh thần kinh: thần kinh chậu - bẹn, chậu - hạ vị,
sinh dục - đùi rất thường bị cắt đứt trong khi mổ, mà trên thực tế không phải
khi nào cũng tránh được, và hậu quả là mất cảm giác hoặc tê bì vùng vốn
nhạy cảm này [25],[27]. Điều may mắn là có hiện tượng đang chéo giữa các
nhánh thần kinh này nên hậu quả cũng khó nhận biết [6],[27].
Tổn thương ống dẫn tinh: Có thể xảy ra đặc biệt mổ thoát vị bẹn tái
phát vì giải phẫu vùng bẹn đã bị thay đổi, nói chung rất khó nhận biết cấu trúc
này trong mổ. Hay tổn thương bó mạch thừng tinh, thường do phẫu tích thô
bạo [10],[57],[79].
Thương tổn nội dung thoát vị: Có thể gặp khi mở bao thoát vị, nhất là ở
thoát vị bẹn nghẹt. Trong một nghiên cứu thoát vị bẹn ở trẻ em thì đa số
(65,4%) là không có tạng thoát vị, 19,2% nội dung tạng thoát vị là mạc nối
lớn và 13,5% là ruột non .
22
Tổn thương bàng quang: Có thể gặp khi phẫu tích bao thoát vị quá to
hoặc một phần bàng quang trượt vào túi thoát vị [10],[27],[52].
Trong các nghiên cứu gần đây tại Việt Nam về kết quả phẫu thuật thoát
vị bẹn ở trẻ em thì không có biến chứng lớn nào xảy ra trong lúc mổ ,.
1.9.2. Các biến chứng sớm
Biến chứng sớm sau điều trị phẫu thuật thoát vị bẹn được đề cập đến ở
các nghiên cứu gồm: hình thành cục máu đông, nhiễm khuẩn, tổn thương bìu
và cấu trúc của bìu, tổn thương cấu trúc thừng tinh (ống dẫn tinh hoặc tinh
hoàn có thể bị tổn thương 1% - 3%), chảy máu và khối máu tụ bìu, tổn thương
thần kinh chậu bẹn và thần kinh sinh dục đùi .
Tại Việt Nam, trong kết quả nghiên cứu của Bun Liêng Chăn Sila cho

Hoa Kỳ ở những năm cuối thập kỷ 90 đã nói lên tầm quan trọng của nghiên
cứu về bệnh học và điều trị học của bệnh lý ngoại khoa phỗ biến này [26].
Thoát vị nói chung gặp trong 5% dân số thế giới. Trong đó thoát vị bẹn
chiếm 80% trong tổng số các loại thoát vị [32].
Thoát vị bẹn xảy ra phổ biến ở nam hơn so với nữ (tỉ lệ 4 nam : 1 nữ).
60% trường hợp thoát vị bẹn xảy ra ở bên phải, 30% xảy ra ở bên trái và 10%
xảy ra ở cả hai bên. Khoảng 50% số trường hợp được thấy từ trước 1 năm tuổi
và trong số đó hầu hết đều xuất hiện từ trước 6 tháng tuổi [77].
Ở trẻ sinh non tỷ lệ mắc thoát vị bẹn cao hơn, có tới 7% số trẻ sơ sinh
nam mắc tật này nếu trẻ sinh trước 30 tuần của thai kì. Trẻ sinh non với trọng
lượng nhỏ hơn 1.500 gram sẽ có tỉ lệ mắc tật này cao 20 lần hơn so với trẻ có
trọng lượng lớn hơn [20],[51].
Hiện nay chưa có số liệu dịch tễ học về thoát vị bẹn của toàn Việt Nam
nhưng tại Pháp, một quốc gia có số dân tương đương ở Việt Nam, trung bình
24
mỗi năm có khoảng 100.000 trường hợp được phẫu thuật, đứng thứ 2 sau cắt
ruột thừa. Tại Mỹ là hơn 500.000 ca thoát vị bẹn được phẫu thuật mỗi năm,
chiếm khoảng 15% số ca phẫu thuật tổng quát, riêng thoát vị bẹn trẻ em
chiếm 37% tổng số bệnh nhi được phẫu thuật. Tại Anh, mỗi năm có khoảng
80.000 ca thoát vị bẹn được phẫu thuật [26].
Tại Việt Nam, theo thống kê của bệnh viện Nhi Trung Ương trong 05
năm (2005 – 2010) có khoảng 239 trẻ em thoát vị bẹn được mổ [6]. Tại Bệnh
viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh, trong 3 năm 2002 – 2004 trong tổng số 595 bệnh
nhi được mổ tại khoa ngoại tổng hợp, đã có 128 trẻ được mổ vì thoát vị bẹn,
chiếm 21,5% [7]. Tại bệnh viện Nhi đồng Thành phố Cần Thơ, trung bình
mỗi năm mổ khoảng 165 ca thoát vị bẹn, trong đó 90% là trẻ em trên 3 tuổi.
Trên thế giới, phẫu thuật nội soi điều trị thoát vị bẹn đã phổ biến ở
người lớn trong những năm gần đây, nó có ưu điểm là ít đau, thời gian phục
hồi sinh hoạt sớm, thời gian trở lại lao động sớm, điều trị được hai bên với
cùng vị trí vết mổ và dễ điều trị những trường hợp thoát vị bẹn tái phát Tuy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status