BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
------------------------
NINH ĐỨC TÀI
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM HOÀN THIỆN
CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP
HUYỆN Ở TỈNH NINH BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Hà Nội, 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
------------------------
NINH ĐỨC TÀI
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM HOÀN THIỆN
CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP
HUYỆN Ở TỈNH NINH BÌNH
Ninh Đức Tài
ii
LỜI CẢM ƠN
Đề tài nghiên cứu: “Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm hoàn
thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước cấp huyện ở tỉnh Ninh
Bình” được hoàn thành với sự hướng dẫn và giúp đỡ nhiệt tình của các thầy
cô giáo và gia đình đồng thời với sự ủng hộ và giúp đỡ rất nhiệt tình của tập
thể cán bộ công chức Sở Tài chính Ninh Bình.
Xin chân thành cảm ơn PGS.TS. Nguyễn Thị Minh Hiền đã tận tình
hướng dẫn em trong quá trình thực hiện đề tài này.
Xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Sở Tài chính Ninh Bình, các phòng
Tài chính kế hoạch các huyện thuộc tỉnh đã tạo điều kiện để tôi nghiên cứu,
cung cấp thông tin, đóng góp ý kiến quý báu.
Xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và người thân trong gia đình đã quan tâm,
động viên, đóng góp ý kiến quý báu cho tôi trong quá trình hoàn thiện đề tài.
Hà Nội, tháng 10 năm 2014
Tác giả Luận văn
Ninh Đức Tài
iii
MỤC LỤC
Trang
2.1.1. Điề u kiê ̣n tự nhiên ................................................................................. 39
2.1.2. Đă ̣c điể m kinh tế xã hô ̣i ........................................................................ 43
2.2. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................... 48
2.2.1. Chọn địa điểm nghiên cứu .................................................................... 48
2.2.2. Phương pháp thu thập thông tin ............................................................ 49
2.2.3. Phương pháp xử lý, phân tích thông tin ................................................ 50
2.2.4. Các chỉ tiêu nghiên cứu chủ yếu ........................................................... 50
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ............................. 51
3.1. Thực trạng quản lý chi ngân sách cấp huyện ở tỉnh ninh bình .............. 51
3.1.1. Công tác lập dự toán chi ngân sách cấp huyện ở tỉnh Ninh Bình ......... 51
3.1.2. Thực trạng công tác chấp hành dự toán chi ngân sách nhà nước ......... 61
3.1.3. Thực trạng công tác quyết toán ngân sách ............................................ 80
3.1.4. Đánh giá chung về quản lý chi ngân sách cấp huyện ở tỉnh Ninh Bình.......... 84
3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý chi ngân sách .................................... 88
3.2.1. Chính sách, thể chế tài chính ................................................................ 88
3.2.2. Bộ máy tổ chức ..................................................................................... 95
3.2.3. Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ công tác quản lý chi .......................... 97
3.2.4. Nguồn nhân lực ..................................................................................... 98
3.2.5. Mức độ phân cấp trong quản lý chi ngân sách ..................................... 99
3.2.6. Công tác Kiểm tra giám sát và chế tài xử lý ......................................... 99
3.2.7. Các yếu tố ảnh hưởng khác ................................................................. 100
3.3. Định hướng và các giải pháp.................................................................. 101
3.3.1. Định hướng phát triển KT-XH tỉnh Ninh Bình đến năm 2015. .......... 101
3.3.2. Quan điểm về công tác quản lý chi ngân sách cấp huyện ở tỉnh Ninh
Bình đến năm 2015. ...................................................................................... 103
3.3.3. Các giải pháp chủ yếu. ........................................................................ 104
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ........................................................................... 117
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Ủy ban nhân dân
XDCB
Xây dựng cơ bản
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Tên bảng
TT
2.1
2.2
2.3
2.4
2.5
3.1
3.2
3.3
Tình hình sử dụng đất đai giai đoạn 2001 – 2012
Thực trạng lao động đang làm việc tại các ngành kinh tế
giai đoạn 2005 – 2012
Tốc độ tăng trưởng kinh tế(GDP) Ninh Bình giai đoạn 2005- 2011
Một số chỉ tiêu kinh tế chủ yếu của Ninh Bình so với vùng Đồng
bằng sông Hồng và cả nước
3.6
Tình hình chi ngân sách cấp huyện tỉnh Ninh Bình năm 2013
72
3.7
Tình hình chi ngân sách thành phố Ninh Bình năm 2011-2012-2013
73
3.8
Tình hình chi ngân sách huyện Yên mô năm 2011-2012-2013
74
3.9
Tổ ng hơ ̣p kinh phí bổ sung từ ngân sách cấp tỉnh cho ngân sách
từng huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh năm 2011-2012-2013
3.10 Tổng hợp dự toán và quyết toán thu, chi năm 2011
3.11
thống kê mức độ trang bị cơ sở vật chất cho công tác quản lý tài
chính(tính đến 31/12/2013)
3.5
Biểu đồ mức độ thực hiện dự toán kinh phí tỉnh trợ cấp
76
3.6
Sơ đồ quy trình quyết toán chi ngân sách
81
3.3
Trang
60
63
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Luật ngân sách nhà nước được Quốc hội khoá XI kỳ họp thứ hai thông
qua ngày 16/12/2002 và có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2004 với có ý
nghĩa hết sức quan trọng trong việc quản lý và điều hành ngân sách nhà nước,
phát triển kinh tế - xã hội, trong những năm qua cùng với sự đổi mới chung
của đất nước và thực hiện chương trình tổng thể về cải cách hành chính nhà
nước, quản lý ngân sách nhà nước cũng đã có những bước cải cách, đổi mới
đề tăng cường quản lý chi ngân sách càng trở nên cấp bách. Do vậy trong bối
cảnh đó việc nghiên cứu “Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện
công tác quản lý chi ngân sách cấp huyện ở tỉnh Ninh Bình” là thực sự cần
thiết về cả mặt lý luận cũng như thực tiễn.
2. Mục tiêu nghiên cứu
* Mục tiêu chung: Trên cơ sở làm rõ những lý luận cơ bản, đánh giá
đúng thực trạng tình hình quản lý chi ngân sách cấp huyện ở tỉnh Ninh Bình
từ đó đề xuất giải pháp chủ yếu hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà
nước cấp huyện ở tỉnh Ninh Bình.
* Mục tiêu cụ thể :
- Góp phần hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý
chi ngân sách nhà nước cấp huyện;
- Đánh giá thực trạng quản lý chi ngân sách cấp huyện ở tỉnh Ninh Bình;
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới quản lý chi ngân sách cấp huyện
ở tỉnh Ninh Bình;
- Đề xuất định hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện
công tác quản lý chi ngân sách cấp huyện ở tỉnh Ninh Bình.
3. Các câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng công tác quản lý chi ngân sách cấp huyện trên địa bàn tỉnh
Ninh Bình hiện nay như thế nào? có thực hiện đúng Luật Ngân sách năm
2002 không?
- Trong quản lý chi ngân sách cấp huyện hiện có những thuận lợi, khó khăn gì?
- Có các bất cập gì trong quản lý chi ngân sách, nguyên nhân của các bất
cập là gì?
3
- Các giải pháp nào góp phần hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách
cấp huyện trên địa bàn tỉnh Ninh Bình?
- Cung cấp một bức tranh mô tả chi tiết về tình hình quản lý chi ngân
sách cấp huyện ở tỉnh Ninh Bình.
- Phân tích chi tiết về các thuận lợi, khó khăn trong quản lý chi ngân sách.
- Làm cơ sở cho lãnh đạo địa phương có các định hướng và giải pháp để
nâng cao hiệu quả chi ngân sách.
- Kiến nghị với các cấp các ngành bổ sung sửa đổi chính sách chế độ,
nhằm quản lý tốt hơn đối với ngân sách nhà nước cấp huyện theo Luật ngân
sách.
Bố cục của luận văn: Ngoài phần Đặt vấn đề và Kết luận, Luận văn
bao gồm 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý chi ngân sách nhà nước
Chương 2. Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu
Chương 3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
5
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Các khái niệm có liên quan
1.1.1.1. Ngân sách nhà nước và hệ thống ngân sách nhà nước
- Ngân sách nhà nước là một phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử.
Sự hình thành và phát triển của ngân sách nhà nước gắn liền với sự xuất hiện
và phát triển của kinh tế hàng hóa – tiền tệ trong các phương thức sản xuất
của các cộng đồng và nhà nước của từng cộng đồng. Nói cách khác sự ra đời
của nhà nước, sự tồn tại của kinh tế hàng hóa – tiền tệ là những tiền đề cho sự
phát sinh, tồn tại và phát triển của ngân sách nhà nước [15]. Trong thực tế, vai
trò điều hành ngân sách nhà nước của Chính phủ ta rất lớn nên còn thuật ngữ
Thứ ba, Ngân sách Nhà nước là những quan hệ kinh tế phát sinh trong
quá trình Nhà nước huy động và sử dụng các nguồn tài chính khác nhau.
Các nguồn tài chính được tập trung vào ngân sách nhà nước nhờ vào
việc nhà nước tham gia vào quá trình phân phối và phân phối lại các nguồn tài
chính quốc gia dưới hình thức thuế và các hình thức thu khác. Toàn bộ các
nguồn tài chính trong ngân sách nhà nước của chính quyền nhà nước các cấp
là nguồn tài chính mà Nhà Nước trực tiếp nắm giữ, chi phối. Nó là nguồn tài
chính cơ bản để nhà nước thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình.
Nguồn tài chính này giữ vị trí chủ đạo trong tổng nguồn tài chính của xã hội
và là công cụ để Nhà nước kiểm soát vĩ mô và cân đối vĩ mô.
Từ sự phân tích biểu hiện bên ngoài và thực chất bên trong của ngân sách
nhà nước, ta có thể đưa ra quan niệm chung về ngân sách nhà nước như sau:
Xét theo hình thức biểu hiện bên ngoài và ở trạng thái tĩnh, ngân sách
nhà nước là một bảng dự toán thu chi bằng tiền của Nhà nước trong một
khoảng thời gian nhất định, thường là một năm.
Xét về thực chất và ở trạng thái động, ngân sách nhà nước là kế hoạch
tài chính vĩ mô và là khâu tài chính chủ đạo của hệ thống tài chính Nhà nước,
7
được Nhà nước sử dụng để phân phối một bộ phận của cải xã hội dưới hình
thức giá trị nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Ngân
sách nhà nước phản ánh các quan hệ kinh tế giữa nhà nước và các chủ thể
trong xã hội, phát sinh khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính
theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu.
Theo Luật ngân sách nhà nước năm 2002, Ngân sách Nhà nước được đề
cập như sau: "Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước
đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong
một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước" [1].
Mỗi chế độ xã hội, mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử, chi NSNN có những
nội dung và cơ cấu khác nhau, song đều có những đặc trưng cơ bản như sau:
Chi NSNN luôn gắn chặt với bộ máy nhà nước và những nhiệm vụ
kinh tế chính trị xã hội mà Nhà nước đó đảm nhiệm. Nội dung chi ngân sách
do chính quyền nhà nước các cấp đảm nhận theo quy định hoặc phân cấp
quản lý NSNN để đảm bảo thực hiện chức năng quản lý, phát triển KT-XH.
Các cấp của cơ quan quyền lực nhà nước là chủ thể duy nhất quyết
định cơ cấu, nội dung, mức độ của các khoản chi NSNN vì các cơ quan đó
quyết định các nhiệm vụ chính trị, KT-XH của vùng, miền, đất nước; thể hiện
ý chí nguyện vọng của nhân dân.
Chi ngân sách nhằm phục vụ cho lợi ích chung của cộng đồng dân cư
ở các vùng hay ở phạm vi quốc gia. Điều này xuất phát từ chức năng quản lý
toàn diện nền KT-XH của Nhà nước.
Thông thường các khoản chi của NSNN được xem xét hiệu quả trên
tầm vĩ mô. Điều này có nghĩa hiệu quả của các khoản chi ngân sách phải được
xem xét toàn diện dựa trên việc hoàn thành các mục tiêu KT-XH đề ra.
Các khoản chi NSNN mang tính không hoàn trả hoặc hoàn trả
không trực tiếp và thể hiện ở chỗ không phải mọi khoản thu với mức độ và
số lượng của những địa chỉ cụ thể đều được hoàn lại dưới hình thức chi tiêu
công. Điều này được quyết định bởi những chức năng tổng hợp về KT-XH
của Nhà nước.
9
Các khoản chi ngân sách gắn chặt với sự vận động của các phạm trù
giá trị khác như tiền lương, giá cả, lãi suất, tỷ suất hối đoái… nói chung là các
phạm trù thuộc lĩnh vực tiền tệ.
Để đánh giá tính tích cực, tiến bộ của ngân sách một quốc gia người ta
thường xem xét đến cơ cấu nội dung chi của ngân sách quốc gia đó. Cơ cấu
và hiệu quả, phù hợp với yêu cầu của thực tế đang đặt ra theo đúng chính sách
chế độ của nhà nước phục vụ các mục tiêu KT-XH.
Vấn đề quan trọng trong quản lý chi NSNN là việc tổ chức quản lý
giám sát các khoản chi sao cho tiết kiệm và có hiệu quả cao, muốn vậy cần
phải quan tâm các mặt sau:
- Quản lý chi phải gắn chặt với việc bố trí các khoản chi làm cơ sở cho
việc quản lý xây dựng quy chế kiểm tra, kiểm soát.
- Bảo đảm yêu cầu tiết kiệm và hiệu quả trong việc bố trí và quản lý các
khoản chi tiêu ngân sách nhà nước.
- Quản lý chi phải thực hiện các biện pháp đồng bộ, kiểm tra giám sát
trước, trong và sau khi chi.
- Phân cấp quản lý các khoản chi cho các cấp chính quyền địa phương
và các tổ chức trên cơ sở phải phân biệt rõ nhiệm vụ phát triển KT-XH của
các cấp theo luật ngân sách để bố trí các khoản chi cho thích hợp.
- Quản lý chi ngân sách phải kết hợp quản lý các khoản chi ngân sách
thuộc vốn nhà nước với các khoản chi thuộc nguồn của các thành phần kinh tế
để tạo ra sức mạnh tổng hợp, nâng cao hiệu quả chi.
1.1.1.2. Ngân sách cấp huyện
* Khái niệm: Ngân sách nhà nước bao gồm ngân sách Trung ương và ngân
sách địa phương. Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành
chính các cấp có Hội đồng Nhân dân và Uỷ ban Nhân dân. Theo quy định của
Luật tổ chức Hội đồng Nhân dân và Uỷ ban Nhân dân hiện hành bao gồm: [1]
- Ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là ngân
sách tỉnh) bao gồm ngân sách cấp tỉnh và ngân sách của các huyện, quận, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh.
11
- Ngân sách huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là ngân
chương trình quốc gia do địa phương thực hiện; Các khoản chi đầu tư phát
triển khác theo quy định của pháp luật;
- Chi thường xuyên:
+ Các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, dạy nghề, y tế, xã hội,
văn hoá, thông tin, văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công
nghệ, môi trường, các sự nghiệp khác do địa phương quản lý: Giáo dục phổ
thông, bổ túc văn hoá, nhà trẻ, mẫu giáo, phổ thông dân tộc nội trú và các
hoạt động giáo dục khác; Đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, đào tạo
nghề, đào tạo ngắn hạn và các hình thức đào tạo bồi dưỡng khác; Phòng bệnh,
chữa bệnh và các hoạt động y tế khác; Các trại xã hội, cứu tế xã hội, cứu đói,
phòng chống các tệ nạn xã hội và các hoạt động khác; Bảo tồn, bảo tàng, thư
viện, biểu diễn nghệ thuật và hoạt động văn hoá khác; Phát thanh truyền hình
và các hoạt động thông tin khác; Bồi dưỡng, huấn luyện, huấn luyện viên, vận
động viên các đội tuyển cấp tỉnh, các giải thi đấu cấp tỉnh, quản lý các cơ sở
thi đấu thể dục thể thao và các hoạt động thể dục thể thao khác; Nghiên cứu
khoa học và phát triển công nghệ;
+ Các hoạt động sự nghiệp kinh tế do địa phương quản lý:
Sự nghiệp giao thông: Duy tu, bảo dưỡng và sửa chữa cầu đường và
các công trình giao thông khác, lập biểu báo cáo và các biện pháp đảm bảo an
toàn giao thông trên các tuyến đường.
Sự nghiệp nông nghiệp, thủy lợi, ngư nghiệp, diêm nghiệp, lâm nghiệp,
duy tu, bảo dưỡng các tuyến đê, các công trình thuỷ lợi, các trạm nông
nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, công tác khuyến lâm, khuyến nông, khuyến
ngư, khoanh nuôi, bảo vệ phòng chống cháy rừng, bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản.
Sự nghiệp thị chính: Duy tu bảo dưỡng hệ thống đèn chiếu sáng vỉa hè,
hệ thống cấp thoát nước, giao thông nội thị, công viên và các sự nghiệp thị
chính khác.
13
14
do Luật ngân sách cũng đã quy định đối với các khoản thu phân chia giữa các
cấp ngân sách thì Quốc hội quyết định tỷ lệ điều tiết ngân sách giữa Trung
ương và địa phương, còn HĐND tỉnh thì quyết định tỷ lệ điều tiết giữa ngân
sách tỉnh, ngân sách cấp huyện và ngân sách xã. Do đó có thể thấy rằng quy
mô ngân sách, khả năng tự cân đối của ngân sách cấp huyện thuộc tỉnh hoàn
toàn phụ thuộc vào việc phân cấp nguồn thu, phân cấp nhiệm vụ chi của tỉnh
đối với thành phố cũng như tỷ lệ điều tiết ngân sách giữa ngân sách tỉnh và
ngân sách cấp huyện. Hay có thể nói ngân sách cấp huyện có tự cân đối chủ
động trong điều hành được hay không phần lớn phụ thuộc vào ý chí của
HĐND, UBND tỉnh.
Thứ ba, Do không phải là cấp có thể hình thành các chính sách, chế độ
về thu, chi ngân sách nên nội dung chi của NS huyện do tỉnh (cụ thể là HĐND
& UBND tỉnh) quyết định, do đó trong thực tiễn hay phát sinh mâu thuẫn
giữa yêu cầu nhiệm vụ phát triển KT-XH ở địa phương cũng như những
nhiệm vụ chi được giao thêm với cân đối ngân sách đã được ổn định (với thời
gian từ 3-5 năm theo Luật ngân sách quy định). Điều này đặt ra yêu cầu là các
cơ quan hoạch định chính sách, xây dựng chính sách chế độ thu, chi ngân
sách, tham mưu việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi và tỷ lệ điều tiết cho
ngân sách cấp huyện phải xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn đầy đủ
để tham mưu cơ quan có thẩm quyền của Tỉnh quyết định, tránh yếu tố cảm
tính, thiếu cơ sở khoa học. Đồng thời phân cấp phải trên quan điểm tăng
quyền chủ động của ngân sách thành phố cũng như xã phường để tạo điều
kiện cho cấp huyện và xã phường hoàn thành ngày càng tốt hơn nhiệm vụ
phát triển KT-XH ở địa phương.
Thứ tư, cũng vì những đặc điểm trên có thể thấy quy mô ngân sách
cấp huyện thường không ổn định qua các giai đoạn. Còn đối với chi ngân sách
hiện phải đặt dưới sự kiểm tra giám sát của cơ quan quyền lực, ở Trung ương
là Quốc hội, ở địa phương là Hội đồng nhân dân.
16
- Hoạt động ngân sách nhà nước đòi hỏi phải có sự thống nhất với hoạt
động kinh tế, xã hội của quốc gia. Hoạt động kinh tế, xã hội của quốc gia là
nền tảng của hoạt động ngân sách nhà nước. Hoạt động ngân sách nhà nước
phục vụ cho hoạt động kinh tế, xã hội, đồng thời là hoạt động mang tính chất
kiểm chứng đối với hoạt động kinh tế, xã hội.
Nguyên tắc cân đối ngân sách
Ngân sách nhà nước được lập và thu chi ngân sách phải được cân đối.
Nguyên tắc này đòi hỏi các khoản chi chỉ được phép thực hiện khi đã có đủ
các nguồn thu bù đắp. Uỷ ban nhân dân và Hội đồng nhân dân luôn cố gắng
để đảm bảo cân đối nguồn ngân sách nhà nước bằng cách đưa ra các quyết
định liên quan tới các khoản chi để thảo luận và cắt giảm những khoản chi
chưa thực sự cần thiết, đồng thời nỗ lực khai thác mọi nguồn thu hợp lý mà
nền kinh tế có khả năng đáp ứng.
Nguyên tắc công khai hoá ngân sách nhà nước
Về mặt chính sách, thu chi ngân sách nhà nước là một chương trình
hoạt động của Chính phủ được cụ thể hoá bằng số liệu. Ngân sách nhà nước
phải được quản lý rành mạch, công khai để mọi người dân có thể biết nếu họ
quan tâm. Nguyên tắc công khai của ngân sách nhà nước được thể hiện trong
suốt chu trình ngân sách nhà nước và phải được áp dụng cho tất cả các cơ
quan tham gia vào chu trình ngân sách nhà nước.
Nguyên tắc rõ ràng, trung thực và chính xác
Nguyên tắc này là cơ sở, tạo tiền đề cho mỗi người dân có thể nhìn
nhận được chương trình hoạt động của Chính quyền địa phương và chương
trình này phải được phản ánh ở việc thực hiện chính sách tài chính Địa