BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
----------
HÀ LÊ ANH TÚ
TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI THỰC ĐẾN TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ, BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI
MỘT SỐ QUỐC GIA TRONG KHU VỰC ASEAN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HÀ LÊ ANH TÚ
TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI THỰC ĐẾN TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ, BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI MỘT SỐ QUỐC
GIA TRONG KHU VỰC ASEAN
Chuyên ngành: Tài chính – ngân hàng
Mã số
: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1.4. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................................3
1.5. Tổng quan lĩnh vực nghiên cứu .........................................................................4
1.6. Bố cục của nghiên cứu ......................................................................................7
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
ĐÂY
.................................................................................................................8
2.1. Lý luận về tác động của tỷ giá hối đoái đến tăng trưởng kinh tế ......................8
2.1.1. Mô hình IS-LM của Mundell-Fleming ........................................................8
2.1.2. Cơ chế tác động của tỷ giá đến nền kinh tế .................................................8
2.2. Các lý luận thực nghiệm tác động của tỷ giá đến tăng trưởng kinh tế ............11
2.3. Một số kết quả nghiên cứu thực nghiệm về tác động của tỷ giá hối đoái đến
tăng trưởng kinh tế trước đây ..............................................................................17
2.3.1. Nghiên cứu của Razin và Collins (1997)...................................................17
2.3.2. Nghiên cứu của Eichengreen (2008) .........................................................18
2.3.3. Nghiên cứu của Rodrik (2008) ..................................................................19
2.3.4. Nghiên cứu của Nguyễn Quang Hiệp (2014) ............................................22
2.3.5. Nghiên cứu của Nguyễn Quang Hiệp & Nguyễn Thị Nhã (2015) ............22
CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........................24
3.1. Xây dựng biến, mô hình nghiên cứu ...............................................................24
3.1.1. Biến tỷ giá thực hiệu lực............................................................................24
3.1.2. Xây dựng biến chỉ số định giá theo thời gian ............................................25
3.1.3. Mô hình nghiên cứu ...................................................................................28
3.2. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu của đề tài ...............................................29
3.2.1. Dữ liệu nghiên cứu ....................................................................................29
3.2.2. Phương pháp ước lượng ............................................................................29
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM ..............................35
4.1. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm.....................................................................35
4.1.1. Mô tả dữ liệu thống kê ...............................................................................35
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 4.1 - Tỷ giá hối đoái thực và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam ....................... 35
Hình 4.2 - Tỷ giá hối đoái thực và tăng trưởng kinh tế tại Malaysia ........................ 36
Hình 4.3 - Tỷ giá hối đoái thực và tăng trưởng kinh tế tại Philipin .......................... 36
Hình 4.4 - Tỷ giá hối đoái thực và tăng trưởng kinh tế tại Singapore ...................... 37
Hình 4.5 - Tỷ giá hối đoái thực và tăng trưởng kinh tế tại Indonexia.......................37
1
TÓM TẮT
Bài nghiên cứu tiến hành xác định tác động của tỷ giá hối đoái thực đến tăng
trưởng kinh tế bằng với phương pháp định lượng hồi quy dữ liệu bảng bao gồm: mô
hình những tác động cố định (Fixed Effects), mô hình những tác động ngẫu nhiên
(Random Effects) và phương pháp ước lượng hệ số hồi quy bằng phương pháp
Prais-Winsten (PCSE). Dữ liệu nghiên cứu được thực hiện trên 5 quốc gia ASEAN
trong giai đoạn 1995-2015.
Nghiên cứu đã tìm thấy tác động cùng chiều của tỷ giá hối đoái đến tăng
trưởng kinh tế tại 5 quốc gia: Việt Nam, Indonesia, Singapore, Philippine, Malaysia.
Kết quả đó cổ vũ sự hạn chế sự can thiệp quá mức cần thiết của Chính phủ vào
chính sách tỷ giá và khuyến khích sử dụng tỷ giá hối đoái thực để đánh giá chính
sách trong tương lai. Cuối cùng bài nghiên cứu đánh giá lại mối quan hệ tác động
này và đề xuất cho các nghiên cứu sâu hơn.
2
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1.Lý do chọn đề tài
của Duttagupta, và cộng sự (2006) đã chỉ ra rằng những quốc gia có chính sách tỷ
giá linh hoạt thì thị trường ngoại hối thường có chế độ thanh khoản lớn hơn do các
tổ chức tài chính và các doanh nghiệp có niềm tin để tham gia thị trường nhiều hơn.
Tuy nhiên, các kết luận của những nghiên cứu thực nghiệm về lĩnh vực này vẫn còn
nhiều tranh cãi. Do đó, đề tài nghiên cứu “Tác động của tỷ giá hối đoái thực đến
tăng trưởng kinh tế, bằng chứng thực nghiệm tại một số quốc gia trong khu vực
ASEAN” sẽ cung cấp một bằng chứng thực nghiệm về sự tác động của tỷ giá hối
đoái đến tăng trưởng kinh tế tại một số quốc gia đang phát triển trong đó có Việt
Nam và xác định được chiều hướng của sự tác động đó. Đồng thời, dựa vào kết quả
nghiên cứu tác giả sẽ đưa ra một số kiến nghị đối với tác động đó và đề xuất cho các
nghiên cứu sâu hơn.
1.2.Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài nhằm xác định tác động của tỷ giá hối đoái thực đến tăng
trưởng kinh tế và chiều hướng của sự tác động đó thông qua trường hợp nghiên cứu
tại một số quốc gia trong khu vực ASEAN. Từ kết quả này, đề tài sẽ đưa ra một số
kiến nghị đối với tác động đó
1.3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Tỷ giá hối đoái thực và tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu tác động của tỷ giá hối đoái hiệu lực
đến tăng trưởng kinh tế của 5 quốc gia: Việt Nam, Indonesia, Singapore, Philippine,
Malaysia trong giai đoạn 1995-2015.
1.4.Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài sử dụng phương pháp nghiên
cứu định lượng dành cho dữ liệu bảng bao gồm: mô hình những tác động cố định
(Fixed Effects), mô hình những tác động ngẫu nhiên (Random Effects) và phương
pháp ước lượng hệ số hồi quy bằng phương pháp Prais-Winsten (PCSE).
Dữ liệu nghiên cứu là số liệu về tỷ giá hối đoái và tăng trưởng kinh tế của 5
quốc gia được lấy từ các công bố chính thức của Worldbank,IMF trong giai đoạn
1995-2015.
thực, tín dụng dư thừa, đầu tư trực tiếp nước ngoài và cán cân thanh toán, ở các
nước Trung và Đông Âu. Bằng việc sử dụng ước lượng dữ liệu bảng cho giai đoạn
từ 1995 – 2008, bài nghiên cứu nhận thấy rằng biến động tỷ giá hối đoái càng thấp
5
thì liên quan đến tăng trưởng cao hơn, FDI tăng hơn, đỡ thâm hụt cán cân thanh
toán hơn, thặng dư tín dụng cao hơn.
Nghiên cứu của Rodrik (2008) đã chỉ ra rằng việc định giá thấp tiền tệ (tỷ giá
hối đoái thực cao) sẽ kích thích tăng trưởng kinh tế. Điều này đặc biệt đúng cho các
nước đang phát triển. Kết quả này vững khi sử dụng các đo lường khác nhau của tỷ
giá hối đoái thực và kỹ thuật ước lượng khác nhau.
Chen (2011) nghiên cứu mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực và tăng
trưởng kinh tế ở cấp độ các tỉnh của Trung Quốc. Bài nghiên cứu này cung cấp một
bằng chứng thực nghiệm đầu tiên về việc điều tra vai trò của tỷ giá hối đoái thực
đến tăng trưởng kinh tế ở Trung Quốc theo cấp độ địa phương. Bài nghiên cứu sử
dụng phương trình tăng trưởng của Barro (1997) với dữ liệu bảng và kỹ thuật ước
lượng GMM. Nghiên cứu đã tìm ra sự hội tụ có điều kiện của một nhóm giữa các
tỉnh duyên hải và giữa các tỉnh bên trong. Tuy nhiên, sự hội tụ ở cấp độ quốc gia thì
không có kết quả. Đầu tư và nguồn nhân lực được xem như là yếu tố quan trọng của
tăng trưởng kinh tế. Hơn thế nữa, vị trí địa lý và mức độ ưu đãi của chính sách cũng
tác động đến thành quả của tỉnh. Cuối cùng, sự định giá cao tỷ giá hối đoái thực
cũng tác động cùng chiều lên tăng trưởng của tỉnh.
Tuy nhiên, một vài nghiên cứu lại cho thấy tỷ giá hối đoái không có sự tác
động nào lên tăng trưởng kinh tế.
Karadam và Özmen (2011) tiến hành kiểm tra tác động của tỷ giá hối đoái
thực lên tăng trưởng kinh tế bằng việc sử dụng dữ liệu bảng của 124 quốc gia, bao
gồm 23 nước công nghiệp và 101 nước đang phát triển trong giai đoạn 1960 – 2009.
Kết quả cho thấy rằng, đối với các nước công nghiệp, sự thay đổi trong tỷ giá hối
2011
Arratibel và
Biến động tỷ giá hối đoái càng thấp thì liên
các cộng sự
quan đến tăng trưởng cao hơn.
Chen
Karadam và
Özmen
2008
Gala
2008
Rodrik
Sự định giá cao tỷ giá hối đoái thực tác
động cùng chiều lên tăng trưởng.
Sự thay đổi trong tỷ giá hối đoái thực
không có ý nghĩa trong ngắn hạn cũng như
trong dài hạn
Tồn tại mối quan hệ nghịch biến giữa tăng
Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực nghiệm
Chương 5: Kết luận nêu kết quả nghiên cứu chính và hạn chế của đề tài cũng như đề
xuất cho các nghiên cứu tiếp theo.
8
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
ĐÂY
2.1.Lý luận về tác động của tỷ giá hối đoái đến tăng trưởng kinh tế:
2.1.1. Mô hình IS-LM của Mundell-Fleming
Mundell-Fleming sử dụng mô hình kinh tế học vĩ mô gồm 2 đường IS và LM
để phân tích tác động của các chính sách kinh tế vĩ mô được thực hiện trong một
nền kinh tế mở cửa. Đây là mô hình lý thuyết được Robert Mundell và Marcus
Fleming phát triển một cách độc lập trong những năm 1960 cho thấy mối quan hệ
giữa sản lượng( đại diện cho tăng trưởng) với tỷ giá hối đoái danh nghĩa với tác
động như sau:
-Tác động của tỷ giá hối đoái và tăng trưởng trong nền kinh tế nhỏ, tỷ giá thả nổi
Chính sách tài khóa: Trong ngắn hạn, dưới chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi và
vốn chu chuyển hoàn hảo thì chính sách tài khóa hoàn toàn không có hiệu lực trong
việc điều tiết tổng cầu của nền kinh tế.
Chính sách tiền tệ: Trong ngắn hạn, với tỷ giá hối đoái thả nổi và vốn chu
chuyển hoàn hảo thì chính sách tiền tệ là có hiệu quả.
Chính sách thương mại: Trong ngắn hạn, với tỷ giá hối đoái thả nổi thì biện
pháp hạn chế thương mại chỉ làm tăng tỷ giá hối đoái mà không tác động đến sản
lượng Y.
-Tác động của tỷ giá hối đoái và tăng trưởng trong nền kinh tế nhỏ, tỷ giá cố định
Chính sách tài khóa: Trong ngắn hạn, với tỷ giá hối đoái cố định thì chính
sách tài khóa mở rộng sẽ làm tăng sản lượng Y.
khi vốn được coi là động lực của tăng trưởng kinh tế, là yếu tố vật chất đầu
vào quan trọng có tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế. Ở các nước đang
phát triển thì tăng trưởng thường theo chiều rộng, trong đó sự đóng góp của
vốn sản xuất vào tăng trưởng kinh tế thường chiếm tỷ trọng cao nhất.
(ii) Chính sách tỷ giá ảnh hưởng trực tiếp tới giá hàng hóa có thể tham gia thương
mại quốc tế và khu vực xuất nhập khẩu- được xem như là một cấu phần chiếm
tỷ trọng lớn trong tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế, tác động tới khả năng
cạnh tranh của hàng hoá dịch vụ nước chủ nhà với các nước còn lại của thế
giới. Chiến lược phá giá nội tệ sẽ tác động dương đến tăng trưởng kinh tế
thông qua chiến lược hướng vào xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, vì khi đó giá
hàng hoá xuất khẩu trở nên rẻ hơn trong khi giá hàng hoá nhập khẩu trở nên
đắt hơn 1 cách tương đối. Áp dụng chính sách phá giá nội tệ là một cách ưu
10
đãi cho xuất khẩu và coi như đánh 1 loại thuế vô hình cho nhập khẩu. Đây
cũng là chính sách luôn được các nhà hoạch định chính sách tại mỗi quốc gia
lưu tâm.
(iii) Chính sách tỷ giá cũng tạo ra sự chênh lệch trong giá hàng hoá thưong mại
quốc tế và giá hàng hoá phi thương mại quốc tế, do đó tạo ra các tín hiệu sai
lệch khi phân bổ nguồn lực sản xuất của nền kinh tế trong các ngành nghề và
tạo ra những bất ổn.
(iv) Mức độ biến động tỷ giá có ảnh hưởng không tốt cho tăng trưởng; mức độ
biến động tỷ giá đại diện cho mức độ ổn định của môi trường kinh tế, có thể
thúc đẩy hoặc gây tổn hại tới các hoạt động kinh tế. Ngoài ra, sự biến động
của sai lệch tỷ giá còn thể hiện các cú sốc từ bên trong và bên ngoài nền kinh
tế cũng như phản ứng của nền kinh tế trước các chính sách của Chính phủ.
(v)
định hướng bên ngoài và tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào các chỉ số mức độ
định giá cao. Các nghiên cứu đưa ra khuyến nghị chính sách đều cảnh báo chống lại
sự định giá cao mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Trong cuộc khảo sát của William
Easterly về vấn đề văn hoá tăng trưởng xuyên quốc gia, ông đồng ý rằng định giá
cao đã tạo một tác động tiêu cực đến tăng trưởng (mặc dù ông vẫn hoài nghi rằng
các chính sách điều tiết có những ảnh hưởng quyết định hơn).
Định giá quá cao liên quan đến sự tăng trưởng chậm không được lý thuyết
hóa một cách rõ ràng, nhưng hầu hết các nghiên cứu đều liên kết nó với sự không
ổn định của kinh tế vĩ mô (Fishcher). Đồng tiền bị định giá quá cao sẽ kết hợp với
thiếu hụt ngoại tệ, tham nhũng và làm tài khoản vãng lai thâm hụt, khủng hoảng cán
cân thanh toán và chu kỳ kinh tế vĩ mô. Tất cả đều làm tổn hại tới sự tăng trưởng.
Cũng vì sự định giá cao gây khó khăn cho tăng trưởng, do đó, định giá thấp được
xem là điều kiện cho tăng trưởng. Định giá thấp chính là chiến lược phát triển kinh
tế hướng vào xuất khẩu. Giả thuyết liệu nội tệ định giá thấp có khả năng trở thành
chiến lược phát triển thịnh vượng cho một quốc gia hay không là mục tiêu kiểm
chứng độ tin cậy của các nhà nghiên cứu bởi tỷ giá cho phép thay đổi sức cạnh
tranh của các loại hàng hoá và dịch vụ sản xuất ra tại nội địa. Hàng loạt các nghiên
cứu của Kreinin (1967, 1973); Haynes và Stone (1983); Bahmani - Oskooee (1986);
Wilson và Takacs (1979); Marquez (1990); Mah (1993)… là các bằng chứng cho
mối quan hệ tích cực giữa định giá thấp và cải thiện cán cân thương mại. Tuy nhiên,
12
cũng có trường hợp khi cán cân hàng hóa được cải thiện ở quốc gia này nhưng
ngược lại ở quốc gia khác. Các nghiên cứu kiểm chứng cũng đồng nhất về mối quan
hệ trực tiếp giữa định giá thấp nội tệ với tăng trưởng kinh tế. Ricardo Hausmann,
Lant Pritchett đã xác định 83 trường hợp quốc gia phát triển và đang phát triển theo
đuổi chính sách định giá thấp trong giai đoạn 1960 – 2000 có tốc độ tăng trưởng
GDP hàng năm trên đầu người tăng 2% trở lên và bứt phá được duy trì trong ít nhất
Yếu kém thể chế làm giảm khả năng của các nhà đầu tư tư nhân ước tính thu
nhập từ đầu tư thông qua nhiều cơ chế: không hoàn thành hợp đồng, các vấn đề
tham nhũng, thiếu quyền sở hữu, và ràng buộc hợp đồng kém. Kết quả chênh giữa
tư nhân và khu vực công sẽ giảm bớt các ưu đãi cho quá trình tích lũy vốn và công
nghệ tiến bộ. Vấn đề này là nghiêm trọng với hàng hoá thương mại hơn là phi
thương mại vì hệ thống sản xuất hàng hoá thương mại có khuynh hướng phức tạp
hơn, cần đặt phí bảo hiểm lớn hơn về khả năng xác định hợp đồng và thực thi hợp
đồng. Ví dụ: một thợ cắt tóc chỉ cần một vài công cụ, ghế, và kỹ năng khéo léo của
mình để bán dịch vụ của mình trong khi một công ty sản xuất cần sự hợp tác của
nhiều nhà cung cấp và khách hàng, cộng với tài chính và hỗ trợ pháp lý. Khi thể chế
xây dựng các mối quan hệ này yếu, kết quả là áp đặt "thuế" cao hơn đối với các mặt
hàng thương mại - đặc biệt là hàng hoá thương mại hiện đại, loại hàng hóa yêu cầu
cái chi phí cao hơn khi gia nhập thị trường. Điều này dẫn đến việc thiếu phân bổ
nguồn lực cho các hình thức xử phạt thương mại và đầu tư vào những mặt hàng
thương mại thấp hơn tối ưu của xã hội. Sự tăng giá tương đối của hàng hoá thương
mại có thể cải thiện hiệu quả và tăng cường tăng trưởng bằng cách thúc đẩy đầu tư
nhiều hơn vào các mặt hàng thương mại.
Khi nghiên cứu thực nghiệm theo quốc gia và theo các ngành công nghiệp,
đưa ra bằng chứng về chi phí không cân xứng của giao dịch thương mại toàn bộ
hoặc một phần do sự yếu kém thể chế quốc gia, hay theo chất lượng thể chế (được
đo bằng chỉ số về luật pháp, điều kiện ràng buộc hợp đồng và kiểm soát tham
nhũng), Pierre-Guillaume Méon và Khalid Sekkat thấy rằng mối quan hệ xác định
cho sản xuất hàng hóa xuất khẩu nhưng không xác định cho sản xuất phi xuất khẩu;
Priya Ranjan và Jae Young Lee thấy rằng hiệu quả sẽ cao hơn đối với hàng hóa
khác biệt so với hàng hoá đồng nhất.
14
Yếu kém thể chế cũng đóng vai trò trong việc xác định lợi thế so sánh.
15
được tính đến, việc định giá thấp có hiệu quả nhất đối với những nước có thể chế
yếu nhất.
Giả thuyết thứ hai cho vấn đề tỷ giá hối đoái thực mà các nhà kinh tế học từ
lâu đã bận tâm là lý do tại sao hàng hóa thương mại bị lệch bởi thất bại thị trường.
Một danh sách ngắn về thất bại thị trường bao gồm
a, Nhân tố ngoại tác: giá trị công nghệ, tiếp thị, vấn đề lan truyền thông tin
đến các ngành khác;
b, Phối hợp các ngoại tác: những ngành công nghiệp mới đạt kết quả tốt lúc
khởi đầu cần đầu tư phối hợp cả đầu tư ngược , đầu tư xuôi; và đầu tư ngang;
c, Sự không hoàn chỉnh của thị trường tín dụng: các doanh nhân không thể
đáng giá chính xác tài chính của dự án do trách nhiệm hữu hạn và thông tin bất cân
xứng ;
d, Phí vượt thêm: phí giám sát, vốn luân chuyển, và các chi phí khác làm tiền
lương vượt trên mức thanh toán thị trường và việc làm vẫn còn thấp.
Những vấn đề này và các vấn đề tương tự có thể gây khó khăn cho hoạt động kinh
tế tại các nước đang phát triển, và tác hại của chúng còn nhiều hơn nữa trong
thương mại. Nếu vậy, đầu ra và đầu tư vào các mặt hàng thương mại sẽ không tối
ưu. Việc giảm giá thực sẽ thúc đẩy việc mở rộng năng lực trong các khoản cho vay
thương mại và tăng trưởng. Lưu ý rằng một lần nữa đây là một lý lẽ tốt thứ hai cho
chính sách định giá thấp. Chính sách tốt nhất đầu tiên sẽ bao gồm xác định riêng
biệt các thất bại thị trường và áp dụng các biện pháp khắc phục thích hợp, ở đây
định giá thấp có tác dụng thay thế. Bằng chứng định giá thấp có tác dụng thay thế là
gì? Đó là theo bản chất, các loại thất bại của thị trường liệt kê ở trên rất khó xác
định, vì thế thực tế không thể cung cấp bằng chứng trực tiếp rằng loại hàng hóa nào
dễ bị tổn thương bởi thất bại thị trường hơn những hàng hóa khác. Nhưng với giả
thuyết cơ bản khá hợp lý, khi xem xét kỹ lưỡng quá trình phát triển kinh tế đã mang
lại nhiều bằng chứng gián tiếp và nhiều gợi ý. Phát triển kinh tế bao gồm thay đổi
cơ cấu, đầu tư vào các hoạt động kinh tế mới, và phát triển các khả năng sản xuất
chuyển đổi bên ngoài, thường làm giảm phúc lợi trong nước, có thể có hiệu ứng
ngược lại bởi vì nó làm tăng giá trị tương đối của các khoản phải thu và do đó có
thể tăng tăng trưởng kinh tế. Mô hình cũng làm rõ ý nghĩa trong đó tỷ giá hối đoái
thực là một biến "chính sách": mức thay đổi của nó đòi hỏi các chính sách bổ sung
17
đi kèm( quy mô của cơ chế hướng nội hoặc hướng ngoại sẽ chuyển đổi cho nhau ).
Chính vì thế, chiến lược phát triển kinh tế thông qua chính sách định giá thấp nội tệ
là chính sách tốt thứ hai cho các nước đang phát triển.
2.3. Một số kết quả nghiên cứu thực nghiệm về tác động của tỷ giá hối đoái đến
tăng trưởng kinh tế trước đây
2.3.1.Nghiên cứu của Razin và Collins (1997)
Razin và Collins (1997) đã nghiên cứu về tỷ giá hối đoái thực và tăng trưởng
nhằm xây dựng một chỉ số để đo lường mức độ định giá sai lệch của tỷ giá hiệu lực.
Tác giả sử dụng phương pháp hồi quy để đưa ra kết quả về việc đánh giá cao hoặc
thấp đồng nội tệ dựa vào mô hình IS-LM. Đồng thời xem xét mối tương quan giữa
tỷ giá và tăng trưởng ở những quốc gia đã và đang phát triển. Nghiên cứu đã chỉ ra
được một mối liên hệ phi tuyến tính giữa tỷ giá hiệu lực và tốc độ tăng trưởng của
một quốc gia.
Tỷ giá hiệu lực của một quốc gia có thể được định giá cao hơn hay thấp hơn
một tỷ giá lý tưởng nào đó. Tỷ giá hiệu lực được coi là bị định giá sai lệch khi nó
lệch khỏi tỷ giá cân bằng - được hiểu là tỷ giá mà ở đó nền kinh tế đồng thời đạt
được trạng trái cân bằng về sản xuất trong nước cũng như ngoại thương và nợ nước
ngoài. Và việc đo lường mức độ sai lệch này sẽ giúp giải thích cho tốc độ tăng
trưởng của nền kinh tế. Việc định giá cao đồng nội tệ được xem là rào cản trong khi
việc phá giá nội tệ lại được xem là một chính sách nhằm kích thích nền kinh tế tăng
trưởng.
Trước hết, tỷ giá có thể ảnh hưởng đến đầu tư trong nước và nước ngoài, đẩy
thẳng trong quan hệ của quốc gia đó với các nước trên thế giới có quan hệ ngoại
thương. Đồng thời dẫn đến dự trữ ngoại tệ tăng đáng kể, lạm phát cũng gia tăng. Vì
vậy, vấn đề ở đây là chính phủ cần xây dựng một chế độ tỷ giá mang tính ổn định
và cạnh tranh nhất nhằm giúp nền kinh tế tăng trưởng. Nghiên cứu cũng chỉ ra tác
động của việc biến động tỷ giá sẽ ảnh hưởng xấu đến ngoại thương và đầu tư - là
những kênh cần thiết cho sự tăng trưởng. Đặc biệt những cuộc khủng hoảng tiền tệ
sẽ tác động mạnh mẽ đến tỷ giá và qua đó ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế.
Nghiên cứu đưa ra dẫn chứng về việc điều hành tỷ giá ảnh hưởng đến tăng
trưởng kinh tế của một số quốc gia trên thế giới. Một yếu tố được tác giả nhấn mạnh