Một số giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục an toàn giao thông cho học sinh lớp chủ nhiệm
Tên SKKN: “MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC AN
TOÀN GIAO THÔNG CHO HỌC SINH LỚP CHỦ NHIỆM”
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong những năm gần đây, an toàn giao thông đang là vấn đề lớn được cả xã
hội quan tâm. Đi khắp các nẻo đường, câu khẩu ngữ “An toàn giao thông là hạnh
phúc cho mọi nhà” như lời nhắc nhở, cũng là lời cảnh báo với những người tham
gia giao thông rằng hãy nghiêm chỉnh chấp hành luật giao thông để đem lại an toàn
cho chính mình, cho gia đình và cho xã hội.
Xã hội ngày càng phát triển, đời sống vật chất con người càng được nâng cao,
đi kèm với vấn đề đó là sự phát triển vượt bậc của các loại phương tiện giao thông.
Hàng ngày, chúng ta vẫn thấy tin tức về những vụ tai nạn đáng tiếc xảy ra, tai nạn
giao thông đang trở thành vấn nạn của toàn thế giới nói chung và của Việt Nam nói
riêng. Mỗi năm ở Việt Nam, trung bình có khoảng gần 10.000 người chết vì tai nạn
giao thông và với hơn 20.000 vụ tai nạn, va chạm giao thông, các vụ tai nạn giao
thông không chỉ để lại những hậu quả nặng nề cho sức khỏe, tính mạng của con
người mà còn đem lại nỗi đau tinh thần không bao giờ quên được cho người thân
trong gia đình các nạn nhân. Theo thống kê của Cục Giao thông đường bộ Việt
Nam, có rất nhiều nguyên nhân gây ra các vụ tai nạn thương tâm đó, tuy nhiên một
trong những nguyên nhân phổ biến nhất đó là do ý thức của con người khi tham gia
giao thông.
Học sinh trung học phổ thông là lứa tuổi đang dần hình thành, hoàn thiện ý
thức, kỹ năng và hành động. Do thiếu hiểu biết về Luật Giao thông và hạn chế về
kỹ năng khi tham gia giao thông nên không ít vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng
xảy ra mà người gây ra tai nạn hoặc nạn nhân chính là những học sinh đang ngồi
trên ghế nhà trường. Chính vì vậy, việc cung cấp cho học sinh THPT những hiểu
biết cơ bản về Luật ATGT, giáo dục học sinh tham gia giao thông an toàn, có văn
hóa là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu, tuy nhiên, chương trình giáo dục phổ thông
của nước ta vẫn chưa có bộ môn nào dành riêng cho vấn đề này. Do đó, những năm
gần việc tích hợp giáo dục an toàn giao thông cho học sinh các cấp đặc biệt là cấp
- Từ năm 2007 Chính phủ đã ban hành nghị quyết 32/2007/NQ-CP ngày
29/6/2007 “Về một số giải pháp cấp bách nhằm kiềm chế tai nạn giao thông và ùn
tắc giao thông”. Nghị quyết đã đưa ra những giải pháp cấp bách:
“+ Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trật tự
an toàn giao thông.
+ Kiên quyết cưỡng chế thi hành pháp luật trật tự an toan giao thông
thông và nâng cao năng lực cho lực lượng cảnh sát, thanh tra giao thông vận tải Chú trọng về kết cấu hạ tầng giao thông.
+ Tăng cường quản lý và nâng cao chất lượng an toàn kỹ thuật của
phương tiện giao thông vận tải.
+ Đề ra các giải pháp đối với người điều khiển phương tiện.
+ Giảm thiểu tai nạn giao thông trước tình hình về tai nạn giao thông xảy
ra ngày càng nhiều.” [2]
Trong những năm sau đó, các Chỉ thị, Nghị quyết, Nghị định của Chính
phủ đã được ban hành. Nhiều giải pháp để giảm tai nạn giao thông. Năm 2010,
Chính phủ ban hành Nghị quyết 34/2010 NĐ-CP ngày 02/4/2010 về quy định ban
hành xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ nhằm hạn
chế tai nạn giao thông. Nhìn chung, Chính phủ, các bộ và ban An toàn giao thông
đã có nhiều giải pháp tích cực để chỉ đạo việc thực hiện an toàn giao thông trong cả
nước.
Thực hiện Chỉ thị số 18-CT/TW ngày 04/9/2012 của Ban Bí thư về tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đảm bảo trật tự, an toàn giao thông
đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa và khắc phục ùn tắc giao thông, Nghị
quyết số 88/NQ-CP ngày 24/8/2011 của Chính phủ; gắn nhiệm vụ đảm bảo trật tự
an toàn giao thông với kết quả thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của cán bộ, giáo
viên, nhân viên và học sinh, đặc biệt là người đứng đầu, người trực tiếp thực hiện
nhiệm vụ trong công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông.
Nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục an toàn giao thông
(ATGT) trong các cơ sở giáo dục, thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ và giải pháp của
rằng giáo dục ATGT cho học sinh cần sự phối hợp giữa tổ chức Đoàn – Đội với
GVCN và phụ huynh học sinh nhưng 20% giáo viên lại cho rằng trách nhiệm giáo
dục ATGT cho HS thuộc về tổ chức Đoàn – Đội; vẫn còn 12,6% giáo viên cho rằng
giáo dục ATGT cho học sinh chưa thực sự cần thiết, điều này đã dẫn đến công tác
giáo dục ATGT cho học sinh trong trường còn nhiều hạn chế.
II.2.1. Về phía phụ huynh và học sinh:
- Học sinh trường đa số là con gia đình nông dân, công nhân đi làm xa nên
việc phối hợp với nhà trường giáo dục con em chưa được quan tâm đúng mức. Một
số học ở cách xa trường, đường đến trường chủ yếu là đường rẫy nên việc đi lại
học tập của các em chưa được theo dõi sâu sát. Một bộ phận Cha mẹ học sinh
(CMHS) kiến thức về luật giao thông còn hạn chế, vô tư vi phạm luật giao thông
như không đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy, chở 3, chở 4 hoặc có thái độ không
kiên quyết nên đã để con em sử dụng phương tiện đi học không đúng quy định vô
hình chung đã tiếp tay cho các em vi phạm pháp luật.
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục an toàn giao thông cho học sinh lớp chủ nhiệm
- Kiến thức luật giao thông và ý thức chấp hành luật giao thông của học sinh
còn hạn chế: đi xe hàng ngang, không đội mũ bảo hiểm khi đi xe đạp điện, đi xe
máy, thậm chí không đội mũ bảo hiểm chở ba ...
- Lớp 10A5 do tôi chủ nhiệm có 40 học sinh, 87,5% học sinh là con em dân
tộc thiểu số ở Việt Nam; đang ở độ tuổi 15, 16 nên các em còn non nớt trong nhận
thức, tâm lý của các em chỉ thích tìm hiểu những vấn đề mới mẻ, trẻ, sôi động,
thích xem những kênh ca nhạc, giải trí hơn xem các clip về giáo dục ATGT. Vào
đầu năm học, khi được khảo sát (Phụ lục 2), đa số các em học sinh lớp tôi chủ
nhiệm – 10A5 - đều cho rằng ý thức tham gia giao thông của những người xung
quanh còn thấp, 90% học sinh cho rằng việc giáo dục ATGT là cần thiết và đa số
các em đã từng vi phạm ít nhất 1 lỗi khi tham gia giao thông mặc dù chưa có em
nào bị công an giao thông trực tiếp bắt lỗi; 75% các em sử dụng xe đạp điện hoặc
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục an toàn giao thông cho học sinh lớp chủ nhiệm
minh, máy tính, hệ thống loa đài... để tổ chức các hoạt động sinh hoạt tập thể một
cách hiệu quả nhất; trường có hệ thống các phòng học đa chức năng, gắn sẵn máy
chiếu, bảng thông minh, máy vi tính... giúp GVCN chúng tôi có thể đổi mới các
giờ sinh hoạt chủ nhiệm thông qua việc ứng dụng công nghệ thông tin, đem lại
hứng thú cho học sinh lớp mình.
Thuận lợi thứ 3 là hệ thống các hình ảnh, video clip có nội dung ý nghĩa về
giáo dục an toàn giao thông cho lứa tuổi học sinh THPT như lớp tôi chủ nhiệm trên
các trang mạng xã hội, Internet khá phong phú, đa dạng, thực tế nên GVCN chúng
tôi có thể dễ dàng lựa chọn, lồng ghép vào các tiết sinh hoạt chủ nhiệm để nâng
cao ý thức cho học sinh trong quá trình tham gia giao thông.
Từ những thuận lợi nói trên, thay vì ngồi tại phòng học của lớp, nhận xét
tuần học qua có những ưu điểm, nhược điểm gì, phê bình những ai, cách khắc phục
ra sao... rồi cho học sinh ngồi chơi, nói chuyện phiếm như những tiết sinh hoạt
bình thường khác, thì tôi đổi mới giờ sinh hoạt chủ nhiệm, chủ động đưa lớp chủ
nhiệm của mình lên Hội trường, phòng học đa chức năng để có thể tổ chức trò
chơi, các cuộc thi thuyết trình về an toàn giao thông hoặc cho các em xem các
video clip, hình ảnh có tính giáo dục, đặc biệt là chú trọng giáo dục về an toàn giao
thông. Cụ thể:
* Lồng ghép giáo dục an toàn giao thông qua các hình ảnh, video clip
Trước hết, tôi cho rằng ngoài việc giáo dục cho các em những hiểu biết cơ
bản về Luật giao thông đường bộ Việt Nam, tôi cần giáo dục các em tham gia giao
thông có văn hóa thông qua các hình ảnh. Tôi đưa ra các hình ảnh nên và không
nên khi tham gia giao thông, để các em lựa chọn hành động đúng cho mình.
Sau khi cho học sinh quan sát các hình ảnh trên, Nguồn: Một số hình ảnh vi
phạm ATGT [3], tôi đặt câu hỏi: “Theo các em, những hình ảnh trên, hình ảnh nào
văn hóa khi tham gia giao thông.
* Lồng ghép giáo dục an toàn giao thông qua các trò chơi nhỏ:
Trò chơi là một hoạt động rất quen thuộc, gần gũi với con người, bất kì ai
trong cuộc đời cũng đã từng tham gia một số trò chơi nào đó. Trò chơi không
những giúp con người giải trí mà còn rèn luyện cho con người những kĩ năng cần
thiết trong cuộc sống. Trong giờ sinh hoạt, GV tổ chức trò chơi cho học sinh sẽ
giúp cho các em được giải trí một cách lành mạnh, có thêm hiểu biết về một vấn đề
nào đó.
Để giáo dục an toàn giao thông cho học sinh, tôi đã trực tiếp tổ chức cho học
sinh một số trò chơi sau:
Trò chơi 1 : Ghép biển báo
Chuẩn bị :
- 3 bảng to.
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục an toàn giao thông cho học sinh lớp chủ nhiệm
- 15 biển báo chưa hoàn chỉnh.
- 1 số các chi tiết
VD :
+ Các biển báo chưa hoàn chỉnh :
+ Các biển báo đã hoàn chỉnh :
+ 3 bàn học hoặc 9 vòng tròn.
Cách chơi :
- Cách 1 :
HS đứng tại bàn. Khi có hiệu lệnh, HS phải nhặt thật nhanh các chi tiết gắn vào
biển báo sao cho thành biển báo có ý nghĩa. Sau khi ghép xong , lần lượt từng HS
của từng đội sẽ lên giới thiệu về biển báo mà mình vừa ghép. Đội nào ghép nhanh,
giới thiệu đúng biển báo hơn đội đó sẽ chiến thắng.
- Cách 2 :
- Đi đúng làn đường, phần
đường.
-Tuyên truyền văn hóa
giao thông
- Xử phạt nghiêm minh
đối với các trường hợp cố
tình vi phạm luật giao
thông.
- Tham gia hoạt động
tuyên truyền về an toàn
giao thông.
- Phóng nhanh, vượt ẩu
- Dàn hàng ngang khi lưu
thông trên đường.
- Uống rượu,bia khi tham
gia giao thông
- Đội mũ bảo hiểm khi
ngồi trên xe mô tô, xe gắn
máy, xe đạp điện.
- Mang áo phao khi tham
gia giao thông đường
thủy.
Bước 4: GV đưa phần giấy ghi kết quả:
Các hành động
Kết quả
- Đội mũ bảo hiểm khi đi xe ô tô
-
-
- Dàn hàng ngang khi lưu thông trên đường.
-
- Uống rượu,bia khi tham gia giao thông
-
- Đội mũ bảo hiểm khi ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy, xe đạp điện.
+
- Mang áo phao khi tham gia giao thông đường thủy.
+
Yêu cầu cả lớp cùng nhận xét xem đội nào đúng nhiều hơn và nhanh hơn. GV nhận
xét kết quả, thái độ tham gia trò chơi của các đội, những ai làm tốt, ai chưa tốt để
cùng nhau rút kinh nghiệm.
=> Như vậy, việc tổ chức trò chơi “cộng hay trừ” đã giúp cho HS chủ động lựa
chọn các hành động hợp lý khi tham gia giao thông hoặc những hoạt động mà học
sinh nên tham gia để có thể đảm bảo an toàn giao thông và cùng nhau tuyên truyền
giáo dục an toàn giao thông cho mọi người cùng thực hiện.
*Lồng ghép giáo dục an toàn giao thông qua cuộc thi “HS với an toàn
giao thông cấp lớp”
- Mục đích:
Nhằm hưởng ứng năm ATGT 2016, tưởng niệm các nạn nhân do tai giao
+ Phần thi chào hỏi: Giới thiệu về đội của mình không quy định hình thức
như hát, vè, thơ ca, tiểu phẩm… ( thời gian không quá 05 phút).
(Yêu cầu về nội dung: Giới thiệu đầy đủ các thành viên tham gia, mục tiêu của đội,
những việc mà Tổ nhóm mình đã thực hiện để tuyên truyền về ý thức chấp hành
luật giao thông...)
+ Phần thi xem đoán và trả lời: các đội soạn trước một số hành động, động
tác, hình ảnh, ký hiệu…(được các đội thể hiện không bằng lời nói) lần lượt từng
đội diễn hành động, hình ảnh, ký hiệu... cho các đội còn lại xem và trả lời câu hỏi
của đội mới thể hiện. (Yêu cầu phần thi này đội thể hiện phải đưa trước câu trả lời
cho GVCN, tránh tình trạng khi các đội còn lại trả lời đúng nhưng đội ra tình
huống không chấp nhận)
+ Phần thi thuyết trình: các đội có thời gian làm bài thuyết trình ở nhà theo
chủ đề cụ thể do GVCN đưa ra:
Đội 1: Thuyết trình về vấn đề uống rượu, bia khi tham gia giao thông
Đội 2: Thuyết trình về vấn đề không đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao
thông.
Đội 3: Thuyết trình về vấn đề bệnh vô cảm trong người tham gia giao thông.
(Yêu cầu: Các đội soạn bài thuyết trình bằng Powerpoint, theo dàn ý sau: Khái
quát tình hình giao thông thời gian qua; Trình bày những nguyên nhân chính dẫn
đến tai nạn giao thông sau đó dẫn dắt vào vấn đề của đội mình trình bày; Giải
pháp; Ý kiến của đội về vấn đề trên, lời khuyên của đội chơi dành cho các bạn khi
tham gia giao thông.
Thời gian trình bày không quá 05 phút và bài thuyết trình chính là cơ sở để đánh
giá kết quả chung cuộc của các đội chơi.)
- Hình thức chấm điểm:
Thang điểm cho phần thi giới thiệu về đội là 10 điểm; phần thi tình huống là 20
điểm và phần thi thuyết trình là 30 điểm.
Phần thi quá thời gian quy định từ 1 phút trở lên… bị trừ từ 2 trở lên, tùy vào thời
gian vượt quá so với quy định.
=> Kết quả cuộc thi:
8.5
15
24
47.5
Đội 2
8.0
16
27.3
51.3
Đội 3
7.5
14
25
46.5
Giải nhất: Đội 2
Giải nhì: Đội 1 và đội 3: giải 3.
nâng cao hiệu quả giáo dục an toàn giao thông cho học sinh lớp chủ nhiệm:
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục an toàn giao thông cho học sinh lớp chủ nhiệm
III.2.1.Mô tả cách thức tổ chức thực hiện giải pháp:
*Phạm vi: Giáo dục an toàn giao thông cho học sinh lớp chủ nhiệm.
*Đối tượng: HS lớp 10A5, trường THCS&THPT Bàu Hàm.
*Công việc cụ thể:
- Phối kết hợp với tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh của trường, Đội thanh niên
xung kích trong việc quản lý, giáo dục học sinh, chú trọng công tác đảm bảo an
toàn giao thông.
- Phối kết hợp với phụ huynh học sinh trong công tác giáo dục an toàn giao thông
cho học sinh..
- Phối kết hợp với công an địa phương để theo dõi, nhắc nhở học sinh kịp thời,
giảm thiểu tình trạng vi phạm Luật giao thông đường bộ.
*Thời gian thực hiện giải pháp: Hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng.
III.2.2.Các dữ liệu minh chứng quá trình thực nghiệm, đối chứng giải pháp:
*Phối kết hợp với tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh của trường và Đội Thanh
niên xung kích trong quản lý, giáo dục học sinh, chú trọng công tác giáo dục an
toàn giao thông cho học sinh:
Thuận lợi của bản thân tôi trong năm học này là vừa làm công tác chủ nhiệm
lớp, vừa kiêm nhiệm chức vụ Phó Bí thư đoàn trường; nhà tôi ở cách trường
khoảng 300m, nên tôi thường xuyên có mặt ở trường hàng ngày từ thứ 2 đến thứ 7,
kể cả Chủ nhật nếu có tổ chức sự kiện vào ngày này. Do đó, các kế hoạch hoạt
động, thông báo, yêu cầu... của BCH Đoàn trường được tôi nắm bắt, truyền đạt đến
lớp và đảm bảo lớp thực hiện tốt nhất trong khả năng của học sinh.
Tôi luôn tâm niệm dù ở vị trí nào, cũng phải cố gắng hết mình để thực hiện
hiệu quả các nhiệm vụ được giao. Điều này đã thôi thúc tôi tìm tòi, đề xuất những
ý kiến để giáo dục đạo đức học sinh, trong đó có công tác giáo dục an toàn giao
Bộ công an phối hợp tổ chức và làm giám khảo.
Trong tháng 9, lớp 10A5 do tôi chủ nhiệm đã đăng ký thực hiện tháng ATGT
và 100% học sinh thực hiện tốt, không có hiện tượng vi phạm ATGT. Cử Bí thư chi
đoàn lớp tham gia vào Đội tuyên truyền ca khúc cách mạng, phát thanh học đường,
có kế hoạch thường xuyên tuyên truyền dưới cờ, tuyên truyền trên hệ thống loa về
việc chấp hành Luật GTĐB trong học sinh.
Trong các hội diễn văn nghệ, báo tường nhân ngày 20/11, 26/3, BCH Đoàn
trường chúng tôi luôn dành một phần ưu tiên đặc biệt cho nội dung tuyên truyền về
Luật giao thông và văn hóa giao thông qua các nội dung thi hóa trang, diễn tiểu
phẩm, một góc của báo tường, tập san…
Bên cạnh đó, tôi kết hợp với BCH Đoàn trường, chủ động xin ý kiến Chi bộ,
BGH nhà trường mời CSGT Huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai về tuyên truyền,
giáo dục Luật giao thông đường bộ cho học sinh toàn trường để các em nắm được
thực trạng an toàn giao thông của địa phương, một số điều cần lưu ý khi lưu thông
trên đường để đảm bảo an toàn.
Hình ảnh giáo viên và học sinh toàn trường chăm chú lắng nghe Bác CSGT tuyên
truyền giáo dục an toàn giao thông, ngày 17/10/2016:
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục an toàn giao thông cho học sinh lớp chủ nhiệm
+ Phối hợp với Đội thanh niên xung kích của nhà trường: Ngay từ đầu năm
học, BCH Đoàn trường đã thành lập Đội Thanh niên xung kích gồm những học
sinh có hạnh kiểm tốt, học lực khá trở lên, tích cực xung phong đi đầu trong mọi
hoạt động của nhà trường, phân công trực ở cổng trường, cổng nhà xe học sinh và
trực ở các dãy phòng học. Đội Thanh niên xung kích với yêu cầu là luôn làm việc
khách quan, trung thực vì một môi trường học tập thân thiện, học sinh tích cực và
chấp hành tốt nội quy nề nếp của nhà trường, đảm bảo an toàn cơ sở vật chất,
không vi phạm pháp luật, tai tệ nạn xã hội, đặc biệt, phải nghiêm chỉnh chấp hành
Luật giao thông. Các em kiểm tra và ghi nhận các trường hợp học sinh vi phạm nội
Thông qua kết quả khảo sát đầu năm về tình hình tham gia giao thông của
học sinh lớp mình (phụ lục 2), tôi thu được kết quả vẫn còn đến 3 trường hợp học
sinh chưa đủ tuổi, chưa có giấy phép lái xe nhưng phụ huynh vẫn cho con em mình
tự chạy xe phân khối lớn đến trường. Nhận thấy thực trạng nêu trên, tôi đã dành
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục an toàn giao thông cho học sinh lớp chủ nhiệm
phần thời gian khá dài trong phiên đại hội cha mẹ học sinh đầu năm của lớp để
thay mặt nhà trường truyền tải đến các bậc phụ huynh về việc thực hiện nề nếp,
học tập, tôi sinh hoạt thật kỹ nội dung phối hợp giáo dục về ATGT cho con em
trong đại hội cấp lớp. Cụ thể là tôi tuyên truyền cho CMHS nắm về quy định cụ thể
đối với độ tuổi và điều kiện tham gia giao thông của đối tượng là học sinh phổ
thông. Qua đó, vận động CMHS cố gắng sắp xếp đưa con em đi học mỗi ngày nếu
các em chưa đủ tuổi đi xe môtô. Các trường hợp nhà xa trường, phụ huynh có thể
đăng kí cho các em đi bằng xe đưa rước học sinh, lộ trình từ Trảng Bom đến Tây
Hòa, Lộc Hòa qua Ngã Ba Sông Thao vào Bàu Hàm hoặc trang bị cho các em xe
đạp điện hoặc xe gắn máy, (tuyệt đối không cho các em đi xe môtô, phân khối lớn
vì hầu hết các em đều chưa đủ tuổi lái xe theo qui định). Ngoài ra, gia đình cũng
phải làm gương và thường xuyên nhắc nhở con em đội mũ bảo hiểm khi tham gia
giao thông để đảm bảo an toàn tính mạng cho mình và cho người khác. Qua đó
GVCN cũng thông tin cho PHHS nắm về trường hợp khi học sinh vi phạm Luật
giao thông, bị công an xử lý đưa hồ sơ về trường thì các em phải bị xử lý kỷ luật,
hạnh kiểm yếu cả năm học, bắt buộc rèn luyện đạo đức trong hè, ảnh hưởng thi đua
của tập thể lớp.
=>Kết quả: 100% đồng thuận và hứa sẽ tạo điều kiện tốt nhất cho con em
mình về phương tiện đúng theo quy định pháp luật để đảm bảo an toàn cho các em.
Đến đầu HKII, khi có một số học sinh trong trường gửi xe bên ngoài, tại các
quán giải khát ven đường, các quán Internet... Tuy không có học sinh lớp mình
nhưng tôi vẫn lập một bản cam kết, yêu cầu các em ký cam kết thực hiện các nội
học sinh, tổng hợp báo cáo cho BGH có biện pháp xử lý, giáo dục học sinh.
III.2.3.Phân tích, so sánh, đánh giá kết quả giải pháp:
Với giải pháp chủ động phối hợp với các bộ phận trong và ngoài nhà trường để
giáo dục an toàn giao thông cho học sinh lớp chủ nhiệm mà tôi đã trình bày ở trên,
tôi nhận thấy:
- 100% học sinh thực hiện tốt Luật giao thông đường bộ.
- 100% tham gia đầy đủ, nhiệt tình các phong trào của Đoàn trường đề ra, đặc biệt
các cuộc thi tìm hiểu pháp luật về ATGT do các cấp tổ chức.
- 100% học sinh và PHHS thực hiện ký cam kết không vi phạm Luật giao thông,
phụ huynh kết hợp tốt với GVCN trong công tác giáo dục đạo đức học sinh nói
chung và giáo dục ATGT nói riêng, 03 học sinh đầu năm đi xe phân khối lớn,
nhưng sau cuộc họp phụ huynh về, các bậc phụ huynh của 03 em này đã mua cho
các em xe đạp điện để các em đến trường, đảm bảo an toàn giao thông.
- Phụ huynh khi đến trường đón con đã đội mũ bảo hiểm đúng quy định, điều này
chứng tỏ những công tác tuyên truyền, phối hợp giữa các bộ phận GVCN, Đoàn
Thanh niên, Đội Thanh niên xung kích, Công an xã, PHHS... đã phát huy hiệu quả
rõ rệt.
III.3.Giải pháp 3: Tích hợp giáo dục ATGT trong giờ dạy chuyên môn trên
lớp:
III.3.1. Mô tả cách thức thực hiện giải pháp:
*Phạm vi: Giáo dục an toàn giao thông cho học sinh lớp chủ nhiệm thông qua việc
tích hợp trong bài 36: “Vai trò, đặc điểm, các nhân tố ảnh hưởng đến ngành giao
thông vận tải” và bài 37 “Địa lý các ngành giao thông vận tải” – Địa lý 10, ban cơ
bản.
*Đối tượng: HS lớp 10A5, trường THCS&THPT Bàu Hàm.
*Công việc cụ thể:
- Xác định nội dung bài dạy có thể tích hợp giáo dục ATGT, xác định mục tiêu giáo
dục ATGT qua bài dạy đó là gì?
- Lựa chọn phương pháp giảng dạy có thể tích hợp giáo dục ATGT phù hợp với nội
dung, thời lượng tiết học, đối tượng học sinh.
+ Trong điều kiện thời tiết xấu, khi tham gia giao thông trên đường, HS cần cảnh
giác, giảm tốc độ, đi đúng làn đường, phần đường quy định, quan sát kỹ trước khi
chuyển hướng hay qua đường vì những lúc này, đường trơn, các lái xe khó phanh
kịp nếu các em chuyển hướng đột ngột, dễ gây ra tai nạn giao thông, ách tắc giao
thông.
+ Khi trời mưa, sử dụng ô dù các em cần chú ý không che khuất tầm nhìn, không
sử dụng ô dù khi đi xe máy, xe đạp vì dễ gây ra tại nạn, tốt nhất các em nên sử
dụng các bộ quần áo mưa phù hợp để đảm bảo sức khỏe cho bản thân và đảm bảo
an toàn khi tham gia giao thông.
+ Khi tham gia giao thông qua các vùng bị ngập, lũ lụt, các đập tràn chảy xiết, các
em cần chú ý cẩn thận, không xử lý vội vã, không vượt ẩu, dễ dẫn đến việc xe bị
chết máy, bị nước cuốn trôi, ảnh hưởng đến tài sản và tính mạng.
*Trong bài 37 “Địa lý các ngành giao thông vận tải”:
Mục tiêu kiến thức của bài này là HS cần nắm được và hiểu rõ những ưu
điểm, nhược điểm, tình hình phát triển và phân bố các ngành giao thông vận tải
trên thế giới, ở Việt Nam và ở địa phương. Thông qua nội dung bài học này, tôi xác
định có thể tích hợp giáo dục ATGT qua các ngành đường sắt, đường ô tô, đường
thủy.
+ Thứ nhất, đối với ngành đường sắt:
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục an toàn giao thông cho học sinh lớp chủ nhiệm
Ưu điểm: vận chuyển được hàng nặng, cồng kềnh trên những tuyến đường xa với
tốc độ nhanh, giá rẻ và an toàn.
Nhược điểm: Chỉ hoạt động trên những tuyến đường cố định đã đặt sẵn đường ray,
khi bị sự cố xảy ra thì giao thông đường sắt rất dễ bị ách tắc, mất thời gian sửa
chữa.
Ở phần này, GV có thể lồng ghép các hình ảnh về tai nạn giao thông đường sắt với
ô tô, với người qua đường tại các điểm giao cắt giữa đường bộ với đường sắt mà
tham gia giao thông thể hiện bản chất và trình độ văn hóa của con người.
- Đi bộ các em cần đi đúng phần đường, qua đường đúng nơi quy định.
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục an toàn giao thông cho học sinh lớp chủ nhiệm
- Không tổ chức đua xe trái phép. Không chơi đùa, đá bóng... dưới lòng lề
đường để không xảy ra các tình huống tai nạn giao thông đáng tiếc.
+ Đối với ngành đường sông và đường biển: Tôi lồng ghép giáo dục học sinh đảm
bảo an toàn khi tham gia giao thông đường thủy bằng việc chú ý mang áo phao khi
ngồi trên tàu thủy, đi thuyền.... Khi du lịch đến miền sông nước, cần lựa chọn
những dịch vụ đảm bảo an toàn giao thông đường thủy để tránh tai nạn đuối nước
xảy ra.
(Xem thêm phần phụ lục 3, tôi có trích dẫn giáo án tiết 1, bài 37 “Địa lý các
ngành GTVT”)
III.3.3.Phân tích, so sánh, đánh giá kết quả giải pháp:
Thông qua việc tích hợp giáo dục an toàn giao thông trong các tiết dạy trên
lớp, tôi nhận thấy có những lợi ích sau:
+ Tiết học diễn ra sôi nổi, hào hứng hơn khi học sinh được bày tỏ quan điểm của
mình khi tham gia giao thông, các kiến thức có phần khô khan của bài học được
HS lĩnh hội nhanh hơn, nhớ lâu hơn.
+ Học sinh nắm được thực trạng an toàn giao thông trên thế giới, ở Việt Nam và ở
địa phương.
+ Việc thường xuyên nhắc nhở HS những điều cần lưu ý khi tham gia giao thông
sẽ là biện pháp ví như “mưa dầm thấm lâu” có thể tác động đến thái độ nhận thức
của các em, chuyển biến trong hành động, để từ đó các em nghiêm túc thực hiện
Luật giao thông và trở thành người tham gia giao thông có văn hóa.
+ Ý thức chấp hành an toàn giao thông của học sinh được nâng cao. 100% đội mũ
bảo hiểm khi đi xe đạp điện, khi ngồi trên mô tô, xe máy.
+ Không có tình trạng học sinh vi phạm Luật GTĐB bị xử phạt hành chính dẫn đến
để đối phó với công an như trước.
- 100% học sinh tham gia các hoạt động tập thể, các bài dự thi tìm hiểu kiến
thức về Luật giao thông đường bộ, về văn hóa khi tham gia giao thông.
- 100% học sinh và phụ huynh ký cam kết thực hiện Luật giao thông và
không vi phạm các điều cấm do BGH nhà trường quy định.
- Để đánh giá thực tế hiệu quả của đề tài, tôi tổ chức khảo sát trên 40 học sinh
+ Đầu năm học (khi chưa áp dụng giải pháp): Khi được hỏi: “Em đã tằng
vi phạm lỗi nào sau đây?”. Tôi nhận được kết quả:
STT
Lỗi vi phạm
Kết quả (n=40)
Số lượng HS vi phạm
Tỷ lệ
1
Chạy xe trên 50cc
3
7,5%
2
Lạng lách, đánh võng
10
Kết quả (n=40)
STT
Lỗi vi phạm
Số lượng HS sẵn sàng
vi phạm
Tỷ lệ
1
Chạy xe trên 50cc
0
0%
2
Lạng lách, đánh võng
3
7,5%
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục an toàn giao thông cho học sinh lớp chủ nhiệm
3
- Chỉ đạo điểm một số mô hình về công tác GDKNS, giáo dục ATGT cho
học sinh, rút kinh nghiệm và phổ biến cho các trường khác học tập.
V.2. Đối với trường THCS & THPT Bàu Hàm.
- Nâng cao nhận thức cho đội ngũ CBQL, GV, NV và HS về tầm quan trọng
của giáo dục ATGT, hoạt động GDATGT trong nhà trường;
- Thực hiện nghiêm túc việc kiểm tra, theo dõi, nhắc nhở đối với công tác
giáo dục ATGT cho học sinh;
- Xây dựng kênh thông tin điện tử, tăng cường mối liên lạc giữa nhà trường
với PHHS và các tổ chức đòan thể trong và ngoài trường học để quản lý tốt và phối
hợp giáo dục an toàn giao thông cho học sinh trong nhà trường.
2. Khuyến nghị khả năng áp dụng
GDATGT không những giúp cho các em có được những kiến thức về Luật
giao thông mà còn giúp các em rèn luyện về đạo đức và lối sống, trở thành một con
người có văn hóa khi tham gia giao thông. Sau khi áp dụng SKKN vào thực tế tại
đơn vị đã cho thấy khả năng áp dụng đạt hiệu quả cao, đặc biệt là học sinh đã biết
vận dụng các kiến thức, kĩ năng một cách hợp lý trong sinh hoạt và học tập hàng
ngày. Tôi tin rằng phương pháp này không những cải tiến tình hình GDATGT, rèn
luyện KNS, văn hóa giao thông cho học sinh tại trường THCS&THPT Bàu Hàm
mà có khả năng áp dụng rộng rãi tại các trường THPT trên địa bàn tỉnh cũng như
trong ngành giáo dục.
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục an toàn giao thông cho học sinh lớp chủ nhiệm
VI. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, Luật giáo dục, ngày 14 tháng 6 năm
2005;
2. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, Nghị quyết 32/2007/NQ-CP “Về
một số giải pháp cấp bách nhằm kiềm chế tai nạn giao thông và ùn tắc giao
thông” ngày 29/6/2007;
B. Chưa cần thiết.
C. Không cần thiết.
2. GD ATGT cho học sinh trong trường là trách nhiệm của:
A. Giáo viên chủ nhiệm.
B. Giáo viên bộ môn.
C. Cán bộ Đoàn Đội.
D. Hội đồng sư phạm.
3. Theo thầy (cô), có thể thực hiện GDATGT cho học sinh thông qua hình thức nào?
A. Tích hợp qua các giờ dạy trên lớp.
B. Thông qua HĐNGLL.
C.
Vừa tích hợp thông qua giờ dạy trên lớp vừa thông qua HĐNGLL.
4. Khi GDATGT cho học sinh, thầy (cô) gặp phải những khó khăn gì?
..................................................................................................................................................................................
..................................................................................................................................................................................
..................................................................................................................................................................................
..................................................................................................................................................................................
..................................................................................................................................................................................
..................................................................................................................................................................................
..................................................................................................................................................................................
..................................................................................................................................................................................
5. Để công tác GDATGT cho học sinh trong nhà trường đạt hiệu quả cao
hơn, thầy (cô) có đề nghị gì?
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................. ..............................................................
.............................................................................................................................................