TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
--------------------
VŨ THỊ VIỆT ANH
VẬN DỤNG HỆ THỐNG CÂU HỎI
NÊU VẤN ĐỀ VÀO VIỆC DẠY HỌC BÀI
PHONG CÁCH NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT
(NGỮ VĂN 10)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học
Người hướng dẫn khoa học
TS. PHẠM KIỀU ANH
HÀ NỘI, 2017
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo – TS
Phạm Kiều Anh – người đã trực tiếp tạo điều kiện hướng dẫn, giúp đỡ , chỉ bảo tận
tình, để tôi hoàn thành khóa luận này.
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Ngữ Văn, đặc biệt
là các thầy, cô giáo trong tổ Phương pháp dạy học Ngữ Văn và các bạn sinh viên
trong nhóm khóa luận đã giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 12 tháng 4 năm 2017
Sinh viên thực hiện
1.1. Cơ sở lý luận về phong cách ngôn ngữ nghệ thuật ................................................ 8
1.1.1. Giới thiệu chung về phong cách chức năng ngôn ngữ ..................................... 8
1.1.2. Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật ...................................................................... 9
1.2. Cơ sở lý luận về dạy học nêu vấn đề và câu hỏi nêu vấn đề ................................ 14
1.2.1. Giới thiệu chung về dạy học nêu vấn đề .......................................................... 14
1.2.2. Những vấn đề chung về câu hỏi nêu vấn đề .................................................... 15
1.3. Cơ sở thực tiễn ........................................................................................................ 18
1.3.1. Thực trạng dạy .................................................................................................. 18
1.3.2. Thực trạng học .................................................................................................. 19
Chương 2 ............................................................................................................................ 20
DẠY HỌC BÀI “PHONG CÁCH NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT” .................................. 20
CÓ SỬ DỤNG HỆ THỐNG CÂU HỎI NÊU VẤN ĐỀ ................................................. 20
2.1. Mục đích của việc dạy học bài “Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật” .................. 20
2.2. Các nguyên tắc xây dựng hệ thống câu hỏi nêu vấn đề khi dạy học bài “Phong
cách ngôn ngữ nghệ thuật” (Ngữ văn 10)..................................................................... 20
2.2.1. Nguyên tắc tích hợp .......................................................................................... 20
2.2.2. Nguyên tắc phù hợp với đặc điểm nhận thức của HS..................................... 21
2.2.3. Nguyên tắc rèn luyện năng lực tư duy cho HS .............................................. 21
2.3. Bài “Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật” (Ngữ văn 10) ........................................ 22
2.3.1. Cấu trúc bài học ................................................................................................ 22
2.3.2. Xác định nội dung kiến thức có thể sử dụng CHNVĐ ................................... 23
2.4. Xây dựng hệ thống câu hỏi nêu vấn đề ................................................................. 28
2.5. Phương hướng dạy bài “Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật” (Ngữ văn 10) có sử
dụng hệ thống CHNVĐ ................................................................................................. 29
Chương 3 ............................................................................................................................ 33
THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM ............................................................................................ 33
3.1. Mục đích thực nghiệm ............................................................................................ 33
3.2. Đối tượng thực nghiệm ........................................................................................... 33
GS
: Giáo sư
GV
: Giáo viên
HS
: Học sinh
NXB
: Nhà xuất bản
PPDH
: Phương pháp dạy học
PGS
: Phó giáo sư
SGK
: Sách giáo viên
THCS
HS có thể tiếp nhận đầy đủ, sâu và chính xác những tri thức, kỹ năng Ngữ văn, GV
cần phải có những hình thức, những phương pháp dạy học phù hợp để chủ thể học
tập vừa có khả năng tự tìm tòi, khám phá và phát hiện nội dung học tập. Vì vậy,
việc sử dụng câu hỏi nêu vấn đề (CHNVĐ) trong DH Ngữ văn, đặc biệt là DH
Tiếng Việt là việc là có ý nghĩa. Bởi tác dụng lớn nhất của DHNVĐ chính là lấy
người học làm trung tâm. Sử dụng kiểu câu hỏi (CH) này vào hoạt động dạy học,
GV sẽ giúp HS sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi để phát huy tính tích cực, tự giác,
chủ động, sáng tạo trong việc tiếp thu kiến thức.
1
“Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật” là bài giảng về phong cách chức năng ngôn
ngữ. Thông qua việc trang bị cho HS những hiểu biết về ngôn ngữ nghệ thuật, phong
cách ngôn ngữ nghệ thuật, HS sẽ biết vận dụng những hiểu biết của bản thân về một
phong cách ngôn ngữ HS vào hoạt động nhận diện, cảm thụ và phân tích ngôn ngữ
nghệ thuật, các biện pháp nghệ thuật và hiệu quả của chúng trong quá trình sử dụng.
Trên cơ sở đó, hình thành và bồi dưỡng cho HS kỹ năng sử dụng ngôn ngữ để diễn
đạt hiệu quả nghệ thuật khi nói và đặc biệt là khi viết. Xuất phát từ những lý do trên,
chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Vận dụng hệ thống câu hỏi nêu vấn đề vào việc
dạy học bài Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật (Ngữ văn 10)”.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Thuật ngữ “Dạy học nêu vấn đề” xuất phát từ thuật ngữ “Orixtic” hay còn gọi
là phương pháp phát triển, tìm tòi. Phương pháp này còn có tên gọi là “Dạy học
phát hiện và giải quyết vấn đề”. Phương pháp này được nhiều nhà nghiên cứu khoa
học, tâm lý học, giáo dục học như A.Ja Ghecđơ, B.E Raicop,… tìm hiểu vào những
năm 70 của thế kỷ XIX. Các nhà khoa học này đã nêu lên phương án tìm tòi phát
kiến trong dạy học nhằm hình thành năng lực nhận thức cho HS bằng cách đưa HS
vào hoạt động tìm kiếm tri thức, HS là chủ thể của hành động học, là người sáng tạo
ra hoạt động học. Đây có thể là một trong những cơ sở lý luận đầu tiên của PPDH
I.Ia.Lec-nhe trong nhiều quan điểm, đặc biệt là việc đánh giá cao khả năng sáng tạo
của HS khi được tham gia vào việc giải quyết các tình huống có vấn đề trong DH.
Ông cho rằng “DHNVĐ chỉ nổi lên thành một trong các kiểu và một trong các giai
đoạn của DH. DHNVĐ thuộc vào giai đoạn của dạy học. DHNVĐ trong DH phải
được hiểu trước hết là một giai đoạn cần thiết trong quá trình hình thành hành
động, trong quá trình lĩnh hội tri thức” [11; 121]. Nét nổi bật trong nghiên cứu của
ông là đã tập trung nghiên cứu rất sâu những vấn đề cốt lõi là tình huống có vấn đề.
Kiểu dạy học này đã phát triển không ngừng, được nghiên cứu và ứng dụng ở một
số nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt chú trọng ở Ba Lan. V.Okon – một nhà giáo dục
học ở Ba Lan đã làm rõ phương pháp này thật sự là một phương pháp dạy học tích
cực. Trong tác phẩm “Những cơ sở của việc DHNVĐ”, ông quan niệm về kiểu dạy
học này như sau: “Chúng tôi hiểu DHNVĐ ở dạng chung nhất là toàn bộ các hành
động tổ chức các tình huống có vấn đề, biểu đạt (nêu ra) các vấn đề (tập cho HS
3
quen dần để tự làm lấy công việc này), chú ý giúp đỡ HS những điều kiện cần thiết để
giải quyết vấn đề, kiểm tra các cách giải quyết đó và cuối cùng lãnh đạo quá trình hệ
thống hóa và củng cố các kiến thức đã tiếp thu được” [13; 103]. Hiện nay, công trình
của ông được ứng dụng và thực nghiệm ở nhiều môn học khác nhau và ở cả ba cấp
học, tùy thuộc vào điều kiện thực tiễn khác nhau. Tư tưởng cơ bản trong công trình
nghiên cứu của ông đã và đang được áp dụng cho nền giáo dục Việt Nam.
Như vậy, DHNVĐ đã đươc các nhà nghiên cứu nước ta phần nào quan tâm
đến từ sớm, từ ngay thập kỉ 70-80. Nhưng điều đáng nói là những vấn đề cơ bản của
kiểu dạy học này mới được các nhà nghiên cứu giáo dục và một số quốc gia phát
triển trên thế giới quan tâm một cách triệt để và được triển khai, ứng dụng trong nhà
trường từ sau cải cách giáo dục năm 1980. Ở Việt Nam, có nhiều nhà nghiên cứu đã
dành cho phương pháp dạy học mới này sự quan tâm ưu ái, đặc biệt là nhà nghiên
cứu Nguyễn Ngọc Quang và gần đây nhất là Đặng Vũ Hoạt. Nhà nghiên cứu
CH này để tìm ra những cách thức tổ chức hoạt động dạy học cho bài “Phong cách
ngôn ngữ nghệ thuật” (Ngữ văn 10) nhằm hình thành và phát triển năng lực cho HS,
để hoạt động DH theo hướng “lấy HS làm trung tâm” đạt hiệu quả cao nhất. Đó
cũng là lý do để chúng tôi triển khai nghiên cứu đề tài này.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này nhằm xác định được khả năng ứng dụng DHNVĐ vào
giờ DH Tiếng việt thông qua việc sử dụng CHNVĐ, từ đó tìm ra những cách tổ
chức DH Tiếng việt, trong đó có bài “Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật”, tạo ra sự
sáng tạo và kích thích nhu cầu học tập của HS, làm cho giờ học đạt hiệu quả cao.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài “Xây dựng hệ thống câu hỏi nêu vấn đề vào dạy học bài
“Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật” (Ngữ văn 10)”, chúng tôi xác định những nhiệm
vụ nghiên cứu cơ bản sau đây:
- Tổng hợp hệ thống cơ sở khoa học về dạy học nêu vấn đề và câu hỏi nêu vấn
đề vào dạy học bài “Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật” (Ngữ văn 10) ở trường
THPT.
- Nghiên cứu khả năng và tác dụng của việc sử dụng câu hỏi nêu vấn đề vào
dạy học bài “Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật” (Ngữ văn 10).
5
- Đề xuất cách thức sử dụng câu hỏi có vấn đề vào thiết kế dạy học bài “Phong
cách ngôn ngữ nghệ thuật” (Ngữ văn 10).
- Bước đầu đánh giá tính hiệu quả và khả năng thực thi của việc sử dụng câu
hỏi có vấn đề bằng dạy học thực nghiệm.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Để hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu đề ra trên đây, khóa luận tập trung vào
nhằm chứng minh cho tính khả thi của những vấn đề được đặt ra trong khóa luận.
6. Bố cục của khoá luận
Khoá luận được triển khai thành ba phần: Mở đầu, nội dung và kết luận.
Phần nội dung của khoá luận được cấu trúc với 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc dạy học bài “Phong cách
ngôn ngữ nghệ thuật” có sử dụng hệ thống câu hỏi nêu vấn đề.
Chương 2: Dạy học bài “Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật” có sử dụng hệ
thống câu hỏi nêu vấn đề.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
7
NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC BÀI
“PHONG CÁCH NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT’’ CÓ SỬ DỤNG HỆ THỐNG
CÂU HỎI NÊU VẤN ĐỀ
1.1. Cơ sở lý luận về phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
1.1.1. Giới thiệu chung về phong cách chức năng ngôn ngữ
“Phong cách” là một thuật ngữ dùng chung cho nhiều ngành nghệ thuật, chỉ
phẩm chất của một tính cách đạt đến độ ổn định cao, không lặp lại và trở thành dấu
hiệu để phân biệt công trình sáng tạo này với công trình sáng tạo khác. Trong các
lĩnh vực hoạt động ngoài văn học, khái niệm phong cách được dùng với một nghĩa
rất hẹp và rất chặt chẽ. Không phải công trình nghệ thuật nào cũng có phong cách
mà chỉ có những công trình đạt đến một trình độ nghệ thuật điển hình mới được gọi
là tác phẩm có phong cách. Ví dụ phong cách hội họa Phục hưng, phong cách cổ
điển Pháp (kịch, kiến trúc, hội họa…). Phong cách luôn mang tính đặc trưng riêng
cho từng tác giả, trường phái, thời đại. Như vậy, có thể đưa ra định nghĩa về phong
cách như sau: “Phong cách” là một cấu trúc hữu cơ của tất cả các kiểu lựa chọn tiêu
thông thường và đạt được giá trị nghệ thuật – thẩm mỹ” [9; 98]. Phạm vi sử dụng
của ngôn ngữ nghệ thuật rất đa dạng, có thể dùng trong văn bản nghệ thuật: ngôn
ngữ tự sự (truyện ngắn, tiểu thuyết, phê bình, hồi kí), ngôn ngữ trữ tình (ca dao, vè,
thơ), ngôn ngữ sân khấu (kịch, chèo, tuồng). Ngoài ra ngôn ngữ nghệ thuật còn
được sử dụng trong văn bản chính luận, báo chí hay trong chính lời nói hàng ngày.
Ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ gợi hình, gợi cảm. Nhờ có tính gợi hình, gợi cảm
của ngôn ngữ, người nói/người viết có khả năng tái hiện hiện thực, làm xuất hiện ở
người tiếp nhận những biểu tượng về thị giác, thính giác, xúc giác, khứu giác, vị
giác, những biểu tượng vận động về người, vật, việc, cảnh đời… được nói tới ở tác
phẩm cũng như trong thực tế.
Ngôn ngữ gợi cảm là ngôn ngữ chẳng những làm cho người đọc hiểu mà còn
làm cho ở người đọc cũng nảy sinh cảm xúc, tâm trạng, tình cảm, thái độ… như ở
tác giả hay như tác giả muốn gợi ra. Ngôn ngữ nghệ thuật được sử dụng trong các
9
tác phẩm văn chương sẽ tạo nên một phong cách chức năng ngôn ngữ - phong cách
ngôn ngữ nghệ thuật. Tuy ngôn ngữ nghệ thuật được sử dụng đa dạng về thể loại,
phong phú về màu sắc, biến hóa về tính sáng tạo nhưng đều thống nhất ở 3 đặc
trưng cơ bản: tính hình tượng, tính truyền cảm và tính cá thể hóa. Ba đặc trưng này
đã tạo nên phong cách ngôn ngữ nghệ thuật.
1.1.2.2. Các đặc trưng cơ bản
Ngôn từ là vật liệu, chất liệu là tiếng nói của văn học. Nhà văn Nga M. Gorky
đã coi yếu tố thứ nhất của văn học là ngôn ngữ. Và cũng vì thế mà nhà văn được
mệnh danh là “Nghệ sĩ của ngôn từ”. Thực ra ngôn từ nghệ thuật cũng bắt nguồn từ
ngôn ngữ đời sống toàn dân. Nhưng trước khi đi vào tác phẩm thành ngôn ngữ văn
học, nó đã trải qua quá trình chọn lựa, sàng lọc, gọt giũa, tái tạo dưới bàn tay tài hoa
của người nghệ sĩ. Vì thế mà ngôn từ trong các tác phẩm văn chương nghệ thuật vẫn
có những đặc trưng riêng của nó. Nói tới phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, người ta
cũng có quan hệ mật thiết với tính hàm súc: lời ít mà ý sâu xa, rộng lớn. Người viết
chỉ dùng một vài câu, thậm chí thay đổi một vài từ mà có thể gợi ra những hình
tượng khác nhau.
Đồng chí Lê Duẩn thì phát biểu cụ thể hơn:… Nói nghệ thuật là nói quy luật
riêng của tình cảm, thường thường triết học giải quyết về lí trí, nghệ thuật xảy dựng
tình cảm. Điều đó cùng có nghĩa là cái đẹp sinh thành từ tình cảm. Tình cảm là
ngọn nguồn, là sức sống, là linh hồn của cái đẹp. Cái đẹp trong nghệ thuật ngôn từ
cũng không nằm ngoài quy luật chung ấy. Chính điều này là cội rễ sâu xa quyết
định một đặc trưng vào loại hàng đầu của ngôn ngữ văn học: tính biểu cảm. Thiếu
tính biểu cảm, người nghệ sĩ không thể phô bày được thế giới cảm xúc phong phú
mãnh liệt của mình. Cũng như tính trừu trượng, tính vô cảm là chỗ chết của nghệ
thuật và ngôn từ nghệ thuật. Ngôn ngữ văn học không thể nào chấp nhận được sự
khách quan lạnh lùng, xơ cứng, vô cảm. Mỗi một lời nói bao giờ cũng phải được
chất chứa đầy tình cảm. Mỗi một ngôn từ bao giờ cũng phải hàm chứa một sắc thái
biểu cảm nào đó. Để tất cả hợp lại mới thành điệu tình cảm chung, điệu tâm hồn của
tác phẩm. Cũng vì thế, đặc trưng thứ 2 của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật là tính
truyền cảm. Trong lời nói đã chứa đựng những yếu tố tình cảm, thể hiện ở sự lựa
chọn các yếu tố ngôn ngữ như từ ngữ, câu, cách nói, giọng điệu… Tính truyền cảm
trong ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện ở chỗ làm cho người nghe, người đọc vui, buồn,
11
yêu thích… như chính người nói, người viết. Sức mạnh của ngôn ngữ nghệ thuật là
tạo ra sự hòa đồng, giao cảm, cuốn hút, gợi cảm xúc cho người đọc. Năng lực gợi
cảm xúc của ngôn ngữ nghệ thuật có được là nhờ sự lựa chọn ngôn ngữ để miêu tả,
bình giá đối tượng khách quan (truyện, kịch) và tâm trạng chủ quan (thơ trữ tình).
Ngôn ngữ thơ thường giàu hình ảnh, nhưng có khi không có hình ảnh mà vẫn có sức
hấp dẫn lạ thường, do sự cảm thông đối với số phận, hoàn cảnh của con người. Viết
về thôn Vĩ Dạ, Hàn Mặc Tử đã có một đoạn thật xúc động:
Sinh khi hỏi Thúy Kiều làm vợ:
“Rằng mua ngọc đến Lam Kiều,
Sính nghi xin dạy bao nhiêu cho tường?”
Cách nói ấy hoàn toàn mâu thuẫn với hành động “Ghế trên ngồi tót sỗ sàng”
và thái độ con buôn qua tình tiết:
“Cò kè bớt một thêm hai,
Giờ lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm”
Còn nhân vật Từ Hải, dẫu chỉ xuất hiện và biến mất đột ngột như ngôi sao
băng trên nền trời đen tối nhưng chàng đã để lại ấn tượng sâu đậm không thể phai
mờ trong lòng mọi người bằng dáng dấp phi thường và khẩu khí anh hùng:
“Khen cho con mắt tinh đời,
Anh hùng đoán giữa trần ai mới già
Một lời đã biết đến ta,
Muôn chung nghìn tứ cũng là có nhau”
Hoặc trong truyện ngắn Chí Phèo của nhà văn Nam Cao, tên cường hào bá
Kiến mưu mô, hiểm độc thì lời lẽ của hắn cũng theo kiểu “miệng thơn thớt dạ ớt
ngâm”. Còn Chí Phèo, một tên lưu manh say rượu triền miên thì hễ mở miệng là
dọa đốt, doạ giết, là chửi đời, chửi người, thậm chí chửi cha cả đứa nào đẻ ra hắn.
Tính cá thể hóa tạo cho ngôn ngữ nghệ thuật vẻ đẹp đa dạng, phong phú. Nó
cũng là cơ sở để các tác giả phát triển và thể hiện tài năng sáng tác, in đậm dấu ấn
phong cách viết của mình trong lòng bạn đọc.
Còn có thể kể đến nhiều đặc trưng khác. Nhưng dầu sao những đặc trưng kể
trên là không thể bỏ qua, không thể bỏ quên. Nó cho thấy ngôn từ nghệ thuật cố một
đòi hỏi thật khắt khe. Lao động nhà văn là một thứ lao động sáng tạo đầy khổ hạnh.
Đã có người gọi nhà thơ là người thợ ngôn từ, lại có người gọi là phu chữ… để
nhấn mạnh phương diện lao động cực nhọc của người nghệ sĩ ngôn từ.
13
Trong quá trình DH, GV thường gặp trở ngại khi nêu lên vấn đề cần nghiên
cứu và làm thế nào để HS không những hiểu rõ vấn đề mà quan trọng là vấn đề vừa
phải sát kiến thức, vừa hay, vừa lôi cuốn, thu hút, gần gũi, khiến cho HS say sưa tìm
hiểu. Một tình huống được gọi là có vấn đề phải thỏa mãn 3 điều kiện: tồn tại một
vấn đề, gợi nhu cầu nhận thức và gợi niềm tin vào khả năng của bản thân. Vấn đề
trong tình huống phải vừa quen, vừa lạ với người học. Quen vì nó chứa đựng những
kiến thức có liên quan mà HS đã được học từ trước đó, lạ vì mặc dù có vẻ quen
những ngay tại thời điểm đó người học chưa thể giải thích được. Vì vậy, để việc
DHNVĐ đạt hiệu quả cao, GV cần tìm cách tác động vào tình cảm, cảm xúc của
HS; cần ứng dụng kiến thức, kinh nghiệm và kĩ năng sư phạm của mình. Sau khi
thu hút được HS vào vấn đề cần nghiên cứu, GV cần hướng dẫn các em từng bước
để giải quyết vấn đề. Cần lựa chọn những vấn đề hợp lý, phù hợp với năng lực tự
giải quyết của HS để tiếp thu được kiến thức mới.
1.2.2. Những vấn đề chung về câu hỏi nêu vấn đề
1.2.2.1. Khái niệm câu hỏi nêu vấn đề
Muốn giải quyết được tình huống có vấn đề, GV phải xây dựng được hệ thống
CHNVĐ. CHNVĐ là loại CH đặt ra cho HS, được HS tiếp nhận một cách có ý thức,
không dội từ ngoài vào mà do nhu cầu khám phá tìm tòi. Song, không thể chỉ dựa
vào kiến thức cũ mà có thể giải quyết được. CHNVĐ chứa đựng một nội dung lớn,
mang tính chất tổng hợp, thường phức tạp về nội dung, gợi lên những mâu thuẫn
giữa cái đã biết với cái chưa biết, cái cũ với cái mới, giữa lý thuyết và thực tế. Mâu
thuẫn đó đòi hỏi HS giải quyết bằng tư duy sáng tạo. CHNVĐ cũng phải bám sát
với nội dung bài học và phù hợp với năng lực, tâm lý tuổi của HS thì mới có thể gợi
lên hứng thú, lôi cuốn HS, nghĩa là nó vừa phản ánh nội dung trọng tâm của bài
học, vừa nằm trong tầm suy nghĩ của các em. Theo PGS Vũ Nho, CHNVĐ không
nhằm mục đích tái hiện kiến thức, cũng không nhằm khơi gợi sự tự biểu hiện của
HS khi đánh giá chi tiết hay toàn bộ tác phẩm văn học. CHNVĐ phải làm rõ được
vấn đề tiềm ẩn trong tác phẩm, phải gây hứng thú nhận thức cho HS, phải động viên
đánh giá được năng lực của HS, đồng thời giúp GV có điều chỉnh phù hợp, nâng
cao hiểu biết và kinh nghiệm cho chính người DH. Dưới sự tổ chức học tập của GV,
HS sẽ sáng tạo ra những cách hiểu của riêng mình, hình thành năng lực tự giác tìm
hiểu vấn đề cho các em.
16
1.2.2.3. Phân loại câu hỏi nêu vấn đề
Dựa vào mức độ nhận thức, người ta thường phân loại CHNVĐ thành 6 dạng
như sau:
Thứ 1 là CHNVĐ ở mức độ nhận biết, tương ứng với mức độ lĩnh hội “nhận
biết”. GV thường sử dụng CH này để kiểm tra trí nhớ của HS về các dữ liệu, các
định nghĩa, tên tuổi, địa điểm,… HS nhờ đó sẽ nhớ lại được kiến thức đã học, đã
đọc. Loại CH này thường sử dụng các từ để hỏi như “Cái gì…”, “Hãy định
nghĩa…”, “Hãy mô tả…”, “Em biết gì về…”,…
Thứ 2 là CHNVĐ ở mức độ hiểu. Trong thang nhận thức, loại CH này tương
ứng với mức độ “thông hiểu”. GV thường sử dụng CH này khi kiểm tra cách HS
liên hệ, kết nối các dữ liệu, các dữ kiện, các địa điểm, tên tuổi, địa điểm,… Việc trả
lời loại CH này cho thấy HS có khả năng diễn đạt bằng ngôn ngữ nói, nhận ra được
những yếu tố cơ bản hoặc so sánh các yếu tố cơ bản trong nội dung bài học. Loại
CH này thường sử dụng các từ để hỏi như “Hãy so sánh…”, “Hãy phân tích…”,
“Hãy liên hệ…”, “Tại sao…”,…
Thứ 3 là loại CH vận dụng, được xây dựng trên mức độ “vận dụng”. GV sử
dụng loại CH này với mục đích kiểm tra khả năng áp dụng các dữ liệu, các định
nghĩa, các quy luật, định nghĩa vào hoàn cảnh và điều kiện mới. Từ đó GV có thể
đánh giá khả năng của HS trong việc hiểu vấn đề đến đâu để lựa chọn tốt các
phương án giải quyết, vận dụng các phương án vào thực tiễn của mỗi HS riêng.
Loại CH này thường sử dụng các từ để hỏi như “Hãy tính chênh lệch giữa…và…”,
“Em giải quyết…này như thế nào?”, “Làm thế nào để…”,… Khi đặt loại CH này,
1.3. Cơ sở thực tiễn
1.3.1. Thực trạng dạy
Để đánh giá đúng thực tế việc dạy học tiếng Việt ở trường THPT, chúng tôi đã
tiến hành điều tra, dự giờ một số GV qua hoạt động giảng dạy môn Ngữ văn. Chúng
tôi tiến hành thăm dò ý kiến của GV bằng cách phát phiếu thăm dò cho 10 GV trong
tổ Văn, trường THPT Nguyễn Gia Thiều (Hà Nội). Sau khi thu thập được ý kiến
của đội ngũ GV, chúng tôi thấy rằng đại đa số GV đã có những nhận thức đúng đắn
và có ý thức tìm hiểu trong việc xây dựng hệ thống CHNVĐ vào giờ học tiếng Việt
nhằm thu hút, khơi gợi hứng thú học tập phía HS. Mặc dù vậy, việc sử dụng
CHNVĐ vào thực tế dạy học còn chưa được phổ biến, do nhiều lý do khách quan.
18
Đó cũng là một trong những nguyên nhân để HS chưa thực sự hứng thú và tự chủ,
hăng hái tham gia vào nội dung học tập khi các em học bài “Phong cách ngôn ngữ
nghệ thuật” nói riêng và tiếng Việt nói chung.
Ngoài ra, thông qua việc dự giờ của một GV Văn trường THPT Nguyễn Gia
Thiều (Hà Nội) tại lớp 10A6, chúng tôi nhận thấy GV mặc dù đã áp dụng đúng quy
trình DH của một giờ học tiếng Việt, từng bước thay đổi phương pháp để phát huy
năng lực cho HS trong quá trình dạy học. Song, việc áp dụng đó vẫn chưa thực sự
mang lại hiệu quả cao trong DH tiếng Việt, làm ảnh hưởng không nhỏ đến sự tiếp
thu kiến thức của HS.
1.3.2. Thực trạng học
Cùng với việc thăm dò ý kiến của GV, chúng tôi cũng tiến hành thăm dò thái
độ và ý kiến của HS. Chúng tôi tiến hành điều tra thái độ, không khí và kết quả học
tập của HS khi được học bài “Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật”. Không quá bất
ngờ khi thu lại được nhiều kết quả khác nhau từ phía HS, nhưng đa phần, các em đã
nhận ra điểm mới khi GV sử dụng CHNVĐ trong quá trình DH. Điều đó yêu cầu
các em phải sử dụng cái đã biết để làm phương tiện tìm ra cái chưa biết. Những khó