Luận văn thạc sĩ giới ngữ tiếng anh (với các giới từ chứa in, on, at) và các biểu đạt tương đương trong tiếng việt - Pdf 44

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ MINH NGỌC

GIỚI NGỮ TIẾNG ANH (VỚI CÁC GIỚI NGỮ CHỨA IN, ON,
AT) VÀ CÁC BIỂU ĐẠT TƢƠNG ĐƢƠNG TRONG TIẾNG
VIỆT

LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÔN NGỮ HỌC

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60 22 01
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS ĐINH VĂN ĐỨC

HÀ NỘI – 2010


MỤC LỤC
Số trang
LỜI MỞ ĐẦU

4

1. Lý do chọn đề tài

4

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

6


1
1

1.1.1.2 Phân chia từ loại theo hình thức

1
1

1.1.2. Khái quát về từ loại trong tiếng Việt

1
2

1.2. Khái quát chung về hƣ từ

1
5

1.3. Khái quát chung về giới từ

1
7

1.3.1. Giới từ trong tiếng Anh

1
7

1.3.2. Giới từ trong tiếng Việt


2.1.2.Cấu tạo của giới ngữ tiếng Việt

4
6

2.2. Về phƣơng diện vị trí của giới ngữ

5
4

2.3. Giới ngữ trong mối liên hệ với phó từ

5
8

Chƣơng 3: GIỚI NGỮ NHÌN TỪ GÓC ĐỘ CHỨC NĂNG
NGỮ PHÁP

6
1

3.1. Chức năng của giới ngữ

6
1

3.1.1. Giới ngữ thực hiện chức năng định ngữ (attribute) bổ
nghĩa cho danh từ



3.2. Giới ngữ từ phƣơng diện chức năng ngữ nghĩa (với
những giới ngữ chứa In, On, At)

7
1

3.2.1. Ngữ nghĩa ngữ pháp của những giới ngữ chứa In, On, At

7
1

3.2.1.1. Giới ngữ chứa In, On, At chỉ thời gian

7
1

3.2.1.2. Giới ngữ chứa In, On, At chỉ vị trí

7
5

3.2.1.3. Giới ngữ chứa In, On, At và những cách dùng
khác

7
7

3.2.2. Giới ngữ chứa In, On, At và những cách biểu đạt tƣơng
ứng trong tiếng Việt


8
9
9

KẾT LUẬN
5
TÀI LIỆU THAM KHẢO

9
8
1

PHỤ LỤC
03


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Theo Lênin “ Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của loài
ngƣời”, song sự giao tiếp ấy chỉ có thể xảy ra khi có sự hiểu biết chung ( còn gọi
là tri thức nền) nhƣ nhau cả ở ngƣời phát lẫn ngƣời nhận. Do đó, để sử dụng
đƣợc một ngôn ngữ cần phải có những tri thức về lịch sử và văn hoá của ngƣời
bản ngữ. “ Điều có ý nghĩ lớn đối với việc hiểu ngôn ngữ là những ngƣời nói
phải có nếp sống xã hội thống nhất, có những phong tục, đạo đức, thói quen
chung đã đƣợc tạo ra do cùng chung sống trên một lãnh thổ hạn chế nhất
định…” ( B.A. Serebrennicov). Trong những năm gần đây, khi xu hƣớng toàn
cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ và các quốc gia ngày càng xích lại gần nhau, cùng
hội nhập vào nền kinh tế thế giới, quan hệ giao lƣu Việt Nam với các nƣớc trong
khu vực và các nƣớc trên thế giới ngày càng phát triển mạnh mẽ. Cùng với sự

việc của ngƣời đi trƣớc.
Giới từ trong “đại gia đình” hƣ từ là một loại đƣợc đề cập đến rất nhiều
trong các sách giáo khoa bậc phổ thông và cả bậc đại học và đƣợc nghiên cứu
bởi nhiều tác giả nhƣ Đinh Văn Đức, Diệp Quang Ban, Nguyễn Thiện Giáp,


Nguyễn Chí Hòa, Lý Toàn Thắng… Tuy nhiên, phần lớn các tác giả này chỉ tập
trung nghiên cứu vào mảng giới từ với tƣ cách là một đối tƣợng độc lập trong
chức năng và mối quan hệ với các thành phần khác trong câu cũng nhƣ trong các
cụm từ mà chƣa có sự đề cập hay nếu có cũng chỉ nói đến rất ít mảng giới ngữ có
liên quan. Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi xin đƣợc phép nghiên cứu
giới ngữ tiếng Anh và các biểu đạt tƣơng đƣơng của nó trong tiếng Việt nhằm
tìm hiểu sâu hơn vai trò, cấu trúc, chức năng của giới ngữ cũng nhƣ giới từ.
Đồng thời, chúng tôi cũng muốn áp dụng những kiến thức ngôn ngữ học mà
mình tiếp thu đƣợc trong quá trình học tập và nghiên cứu vào xử lý một vấn đề
cụ thể để trau dồi thêm những kỹ năng nghiên cứu nhằm phục vụ cho những
công trình nghiên cứu khoa học sau này.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài này là tìm ra những nét tƣơng đồng và
dị biệt giữa giới ngữ tiếng Anh và các biểu đạt tƣơng đƣơng trong tiếng Việt
trong sự so sánh, đối chiếu giữa hai ngôn ngữ, khả năng kết hợp của các giới từ
IN, ON, AT và những cấu trúc tƣơng đƣơng đƣợc dùng trong những ngữ cảnh
nhất định của tiếng Việt. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng giúp ích nhiều cho
việc dạy tiếng Anh cho ngƣời Việt và dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu giới ngữ tiếng Anh ( tập trung vào ba giới từ IN, ON, AT)
trong sự đối chiếu với các biểu đạt tƣơng đƣơng trong tiếng Việt.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn sẽ tìm hiểu những vấn đề xoay quanh các
giới ngữ trong hai ngôn ngữ Anh và Việt. Nhƣng để làm bật một số đặc trƣng
nào đó của giới ngữ, luận văn có thể mở rộng phạm vi xem xét các địa hạt khác

Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Khái quát chung về từ loại
Từ loại là một nội dung quan trọng của ngữ pháp học trong nghiên cứu
ngôn ngữ. Mỗi ngôn ngữ đều sở hữu trong bản thân nó những vốn từ vựng đa
dạng và phong phú khác nhau. Do khối lƣợng đồ sộ và chức năng ngữ pháp đƣợc
sử dụng khác nhau nên từ loại đƣợc phân chia theo những mục đích khác nhau.
Về mặt từ vựng, có thể phân loại từ dựa trên cơ cấu ngữ nghĩa của từ vựng. [19]
Cũng có thể chỉ dùng nguyên tắc hình thái học ( nhƣ ở thời kỳ Alexandria và La


Mã) hoặc sử dụng cách pha trộn cả hai nguyên tắc hình thái học và ngữ nghĩa (
nhƣ ở Aristote và những ngƣời khắc kỷ). Đối với các từ có biến hình, việc phân
định theo hình thái học có vẻ hiển nhiên. Còn các hƣ từ không biến hình thì đƣợc
nhận diện trên cơ sở khả năng kết hợp với các thực từ. [5, tr. 467] Tuy nhiên
những nhà ngữ pháp học không dựa vào đó để phân loại từ mà dựa vào bản chất
ngữ pháp của từ, kết quả là ta có các từ loại. Nhƣ vậy, từ loại đƣợc hiểu một cách
nôm na là các lớp từ trong một ngôn ngữ cụ thể đƣợc phân chia dựa trên chức
năng ngữ pháp của chúng.
Cho đến nay tồn tại một cách phổ biến hai cách phân định từ loại: phân chia
vốn từ của một ngôn ngữ ra thành hai lớp khái quát là thực từ và hƣ từ, và phân
chia vốn từ của một ngôn ngữ ra thành nhiều lớp cụ thể hơn với những đặc trƣng
xác định hơn. Trong cách phân chia thứ nhất của ngữ pháp truyền thống châu
Âu, ứng với thực từ là tên gọi dịch ra tiếng Việt có nghĩa là “ các bộ phận của
lời”, ứng với hƣ từ là tên gọi thƣờng dịch ra tiếng Việt là “tiểu từ”; ngữ pháp
châu Âu hiện đại còn gọi là lớp từ từ vựng tính (thực từ) và lớp từ ngữ pháp tính
(hƣ từ). [5, tr. 468] Theo Đinh Văn Đức, các lớp từ, xét về mặt ngữ pháp có thể
chia ra, trƣớc hết, thành thực từ, hƣ từ và tình thái từ. Hai lớp sau khác với lớp
thứ nhất về mặt ý nghĩa và các đặc trƣng ngữ pháp, đồng thời cũng phân biệt với
nhau. Vì vậy có nhiều nhà ngôn ngữ học cho là có cơ sở để tiến hành việc phân
định từ loại chỉ trong phạm vi các thực từ. Nhƣng, mặt khác, nếu xem xét các lớp

loại từ gồm: danh từ, đại từ, tính từ, động từ, phó từ, giới từ, liên từ và thán từ.
Theo đó mỗi từ loại có những chức năng riêng:


Tên từ loại

Chức năng

Ví dụ

Danh từ (Noun)

Chỉ ngƣời, vật, sự việc hay

Girl, baby, history,

khái

freedom…

niệm
Đại từ (pronoun)

Dùng để thay thế cho danh

I, he, them, who,
which…

từ
Tính từ

Đứng trƣớc danh từ hoặc

I spoke to him

đại từ
để chỉ quan hệ của chúng
với
các từ khác

Liên từ
(conjunction)
Thán từ

Nối các từ, cụm từ hoặc câu
với nhau
Diễn tả cảm xúc

You and I. He will
come if you ask…
Well! Ah! Yeah!

(interjection)

[46,tr. 12]


1.1.1.1. Phân chia từ loại theo chức năng
Phân chia từ loại theo chức năng là dựa vào chức năng cú pháp mà từ đảm
nhận trong câu. Vì một từ có thể đảm nhận nhiều công việc khác nhau nên nó có
thể thuộc một từ loại trong câu này nhƣng lại thuộc về một từ loại khác trong câu



(hoạ sỹ)

(tự do)

(bóng tối)

(nỗi gian truân)

Dramatist

Wisdom

Sweetness

Friendship

(nhà soạn kịch)

(sự thông thái)

(sự ngọt ngào)

(tình bạn)

- Động từ với –ed, -ing, -en, -ize, -fy, -ate:
Changed
(đã thay đổi)
Walked


(có tài)

(bằng gỗ)

(không sợ hãi)

Continous

Learned

Woollen

Hopeless

(tiếp diễn)

(có học)

(bằng len)

(không hy vọng)

Người ta thường phân chia tám từ loại nêu trên thành hai nhóm lớn:

- Open word classes: (từ loại có thể nhận thêm từ mới) gồm có: danh từ,
động từ, tính từ và phó từ. Số lƣợng mỗi từ loại thuộc nhóm này có thể từ một
vài nghìn đến cả trăm nghìn từ. Nhóm này bao gồm các content word, là những
từ mang nghĩa nội dung hay nghĩa từ điển (lexical meaning) nhƣ home (nhà ở,
quê hƣơng), bridge (cây cầu), slowly (chậm chạp).

thuộc nhiều từ loại khác nhau) mà từ đảm nhận trong câu nhƣ Phan Khôi… hay
lại dựa vào khả năng kết hợp của từ trong câu nhƣ Lê Văn Lí, Nguyễn Tài Cẩn,
Lưu Vân Lăng, trong đó tập trung vào khả năng làm trung tâm của cụm từ, ngữ
hoặc khả năng làm thành tố phụ của ngữ.
Từ loại đƣợc Đinh Văn Đức định nghĩa nhƣ sau: “ Từ loại là những lớp từ
có cùng bản chất ngữ pháp, đƣợc phân chia theo ý nghĩa, theo khả năng kết hợp
với các từ ngữ khác trong ngữ lƣu và thực hiện những chức năng ngữ pháp nhất
định”. [17, tr23] Định nghĩa này cho ta thấy rõ đƣợc cách phân định từ loại trong
trong tiếng Việt. Nghiên cứu về từ loại là nghiên cứu các lớp từ của ngôn ngữ
xét theo các đặc trƣng ngữ pháp của chúng. Tiêu chí phân định từ loại đƣợc
nhiều tác giả nhƣ Đinh Văn Đức, Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung… tán
thành nhất là dựa vào tập hợp ba tiêu chuẩn: (1) ý nghĩa - từ vựng ngữ pháp khái
quát có tính chất phạm trù của từ, (2) khả năng kết hợp của từ, và (3) chức năng
cú pháp chủ yếu của từ. Và hệ thống từ loại tiếng Việt có thể sắp xếp thành hai
nhóm bao gồm những từ loại sau:
Nhóm 1: danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ
Nhóm 2: phụ từ (định từ, phó từ); kết từ; tiểu từ (trợ từ và tình thái từ)
Danh từ, động từ, tính từ, là ba từ loại cơ bản, chiếm số lƣợng lớn nhất và
thể hiện tƣơng đối đầy đủ và rõ rệt nhất các tiêu chuẩn phân loại. Về mặt ý
nghĩa, chúng có bản chất từ vựng - ngữ pháp, trực tiếp phản ánh các nội dung ý
nghĩa từ vựng khái quát có tính vật thể, hành động, trạng thái hoặc phẩm chất
thành các đặc trƣng phân loại. Về khả năng kết hợp, chúng có thể làm thành tố
chính - trung tâm ngữ nghĩa - ngữ pháp - trong một kết hơp từ, với các từ làm
thành tố phụ đứng xung quanh. Về chức năng cú pháp, danh từ, động từ, tính từ
có khả năng tạo câu và đảm nhiệm hầu hết các thành phần ở mọi vị trí trong cấu


tạo câu. Số từ phản ánh nội dung ý nghĩa số lƣợng có tính chất thực, gần gũi với
danh từ, động từ, tính từ. Số từ không có đƣợc khả năng kết hợp rộng rãi nhƣng
vẫn đảm nhiệm đƣợc đầy đủ các chức năng cú pháp nhƣ các từ loại nói trên. Vì

ví nhƣ cách gọi “mots vides” (Pháp), “empty words” (Anh), “pustoe slovo”
(Nga), “leerwort” (Đức)… Ở các ngôn ngữ này, nhìn chung hƣ từ đƣợc đặt ở vị
thế đối lập với thực từ.
Trong tiếng Việt, hƣ từ đƣợc đặt trong thế đối lập với thực từ và tính thái
từ. Hƣ từ có thể hình thành hai tập hợp tạm gọi là các hƣ từ từ pháp và các hƣ từ
cú pháp. Các hƣ từ từ pháp có chức năng diễn đạt các ý nghĩa ngữ pháp của thực
từ (danh từ, động từ, tính từ, số từ). Trong quan hệ cấu trúc, chúng chuyên dùng
làm thành tố phụ trong các đoản ngữ. Các hƣ từ cú pháp, trái lại, không đƣợc
dùng để diễn đạt ý nghĩa ngữ pháp của thực từ này hay khác mà dùng để diễn đạt
mối quan hệ giữa thực từ với thực từ trong các phát ngôn – nghĩa là diễn đạt mối
quan hệ giữa các khái niệm trong tƣ duy trừu tƣợng. Hƣ từ cú pháp, theo đó,
cũng là công cụ diễn đạt các mối quan hệ logic, các quan hệ trong cách thức
phản ánh của ngƣời bản ngữ. Các hƣ từ cú pháp không làm trung tâm và cũng
không làm thành tố phụ đoản ngữ, chúng là một thứ phƣơng tiện liên kết “xúc
tác” thành tố phụ với trung tâm đoản ngữ, các đoản ngữ, các mệnh đề với nhau


trong cấu trúc phát ngôn. [17,tr.207] Theo tác giả Hoàng Trọng Phiến [32], hƣ từ
tiếng Việt có đặc điểm:
- Làm phƣơng tiện biểu hiện của các quan hệ ngữ pháp – ngữ nghĩa khác
nhau giữa các thực từ. Nghĩa của hƣ từ gắn với cách thức tƣ duy, hành vi tƣ duy.
Do đó chọn lựa hƣ từ nào để cấu tạo câu nói mang thông tin là xuất phát từ nhu
cầu diễn đạt của tƣ duy.
- Hƣ từ tham gia kiến tạo lập luận.
- Hƣ từ không làm trung tâm của cụm từ, của ngữ đoạn và không độc lập
làm thành phần câu cũng nhƣ không độc lập tạo ra câu. Hƣ từ và các kết cấu hƣ
từ đứng ngoài nòng cốt câu và có liên đới đến toàn câu nhằm diễn đạt ý nghĩa
ngữ dụng nào đó tùy theo chiến lƣợc của ngƣời sử dụng chúng.
- Hƣ từ tự nó không có khả năng biểu hiện sắc thái nghĩa. Nó có sắc thái
nghĩa khi tham gia vào một kết cấu cú pháp nào đó, trong một ngôn cảnh nào đó.

rằng giới từ luôn luôn chiếm vị trí trƣớc danh từ hay cụm danh từ. Thậm chí
trong một ngôn ngữ có hệ thống cách hoàn thiện thì giới từ đóng vai trò quan
trọng có nhiệm vụ phân biệt những mối quan hệ thƣờng đƣợc thể hiện rất mờ
nhạt bằng sự biến đổi hình thái cách. Trong tiếng Anh hiện đại mà mất đi hầu hết
những dạng cách thì giới từ trở thành phƣơng tiện quan trọng nhất chỉ ra những
mối quan hệ khác nhau với những từ khác trong câu)


Lê Dũng có định nghĩa giới từ nhƣ sau: “Giới từ là từ dùng để chỉ mối quan
hệ giữa danh từ hoặc đại danh từ với một từ khác trong câu”. [12, tr.176]
Nhƣ vậy, ở hầu hết các sách ngữ pháp đều có chung định nghĩa về giới từ
với tƣ cách là từ nối danh từ hay đại từ với từ đứng trƣớc.
Giới từ không nhiều lắm nhƣng không nhất thiết phải biết hết tất cả. Chúng
tôi đã bỏ bớt một số giới từ ít gặp hơn trong tiếng Anh cơ bản. Các giới từ đơn
cơ bản bao gồm:
about =

về,

above =

bên trên,

across =

ngang qua, băng qua,

after =

sau,


ở giữa, trong số

as =

nhƣ là

before =

trƣớc

behind =

đằng sau

below =

bên dƣới, dƣới

beside =

bên cạnh

between =

giữa (2 trở lên)


beyond =


except =

ngoại trừ

excluding =

chƣa kể

for =

cho, trong (khoảng thời gian)

from =

từ

following =

theo sau

forward =

phía trƣớc

in =

trong, ở trong

inside=


on =

trên

onto =

lên trên


out =

ngoài

outside =

bên ngoài

over =

ở trên đầu, trên

opposite =

đối diện

past =

qua, quá

per =


to =

đến

toward =

phía trƣớc

together =

cùng

under =

dƣới

until =

cho đến khi

up =

trên, lên

upon =

theo sau động từ

via =

He is a man of honour
(Ông ấy là một ngƣời danh giá)
1.3.1.2. của một danh từ (hoặc đại từ) với một tính từ; giới từ đứng trƣớc
danh từ đóng vai trò làm bổ ngữ hoặc là trạng ngữ:
Ví dụ: Our country is rich in minerals
(Nƣớc chúng ta giàu khoáng sản)
She is free from care
(Cô ấy chả phải lo lắng gì)
This knife is good for nothing
(Con dao này không sử dụng đƣợc nữa )



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status