BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGUYỄN TUẤN THANH
THỰC TRẠNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC
CƠ SỞ Y TẾ TƯ NHÂN CUNG CẤP DỊCH VỤ
CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN TẠI THÀNH
PHỐ HÀ NỘI NĂM 2017
Chuyên ngành : Quản lý bệnh viện
Mã số
: 60720701
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. Nguyễn Duy Luật
2. TS. Nguyễn Khắc Hiền
HÀ NỘI - 2017
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn tới Ban Giám hiệu, phòng Đào tạo
sau Đại học, Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng, Trường Đại
học Y Hà Nội đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình
học tập và nghiên cứu.
Tôi xin trân trọng cám ơn các Thầy, Cô Bộ môn Tổ chức và Quản lý Y
một tạp chí hay một công trình khoa học nào
Hà Nội, ngày 17 tháng 7 năm 2017
Nguyễn Tuấn Thanh
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BYT
Bộ Y tế
CBYT
Cán bộ y tế
CCHN
Chứng chỉ hành nghề
GPHĐ
Giấy phép hoạt động
CSVC
Cơ sở vật chất
CSSKSS
Chăm sóc sức khỏe sinh sản
YTTN
Y tế tư nhân
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ...................................................................................................1
Chương 1
3
TỔNG QUAN...................................................................................................3
1.1.Khái niệm....................................................................................................................................3
1.1.1.Cơ sở y tế tư nhân..............................................................................................................3
1.1.2.Các thành phần cấu thành y tế tư nhân............................................................................4
1.1.3.Dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản..................................................................................5
1.2.Tổ chức và hoạt động của dịch vụ y tế tư nhân tại Việt Nam....................................................7
1.2.1.Quy mô...............................................................................................................................7
1.2.2.Phân bố các cơ sở dịch vụ y tế tư nhân.............................................................................8
1.2.3.Cung ứng dịch vụ y tế tư nhân:..........................................................................................8
1.3.Vai trò của cơ sở y tế tư nhân trong việc cung ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản tại
Việt Nam..............................................................................................................................9
1.4.Một số nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của y tế tư nhân trong cung ứng dịch vụ CSSKSS
............................................................................................................................................13
1.4.1.Trên thế giới......................................................................................................................13
1.4.2.Một số nghiên cứu tại Việt Nam......................................................................................15
1.5.Một số văn bản liên quan đến Y tế..........................................................................................17
1.6.Khung lý thuyết đánh giá tổ chức và hoạt động của các cơ sở y tế tư nhân cung cấp dịch vụ
chăm sóc sức khỏe sinh sản..............................................................................................18
26
KẾT QUẢ 26
3.1. Thông tin chung đối tượng nghiên cứu..................................................................................26
Nhận xét: Từ bảng 3.1 cho thấy đối tượng cung cấp thông tin về cơ sở y tế tư nhân cung ứng
dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản chủ yếu là nữ chiếm 92%, phần lớn là bác sĩ với gần
66%; người trong độ tuổi lao động của Nhà nước quy định là 59,48%, người ngoài độ
tuổi lao động là 40,42 %; Về bằng cấp, có gần 50% đối tượng trả lời trong nghiên cứu
có trình độ đại học, trình độ trung cấp chiếm tỉ lệ thấp nhất với gần 5%.......................26
3.2. Thực trạng tổ chức của cơ sở y tế tư nhân trong việc cung ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe
sinh sản tại thành phố Hà Nội năm 2017..........................................................................29
3.2.1. Thực trạng về nhân lực...................................................................................................29
3.2.2. Thực trạng cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất, trang thiết bị................................................35
3.2.3. Thực trạng về dụng cụ, vật tư y tế..................................................................................39
3.2.4. Thực trạng về điều kiện vệ sinh môi trường tại các cơ sở.............................................44
Nhận xét: bảng 3.13 cho thấy, 100% cơ sở y tế tư nhân đều có hợp đồng xử lý rác thải y tế
nguy hại với công ty môi trường đô thị. Với đặc điểm hoạt động trong khu vực nội
thành nên các bệnh viện không đầu tư xây dựng lò đốt rác thải y tế mà thực hiện việc
phân loại, thu gom và ký hợp đồng với công ty xử lý rác thải y tế. 100% các bệnh viện
có hệ thống xử lý chất thải lỏng. Tuy nhiên hầu hết các phòng khám chỉ đầu tư xây
dựng hệ thống xử lý sơ bộ đối với chất thải lỏng bằng Cloramin B trước khi đưa vào hệ
thống nước thải.................................................................................................................44
3.3. Hoạt động của cơ sở y tế tư nhân cung ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản tại Hà Nội
năm 2017...........................................................................................................................45
3.3.1. Thực trạng một số hoạt động.........................................................................................45
3.3.2. Khó khăn trong tổ chức và hoạt động của cơ sở y tế tư nhân.......................................51
Biểu đồ 3.3. Tỷ lệ nhân viên y tế được cấp chứng chỉ hành nghề.................32
Biểu đồ 3.4. Tỷ lệ cán bộ y tế theo chức danh, vị trí việc làm được cấp
chứng chỉ ngành nghề.................................................................32
Biểu đồ 3.5. Tỷ lệ nhân viên y tế được tập huấn trong vòng 2 năm..............33
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm qua, hệ thống y tế của Việt Nam ngày càng phát triển,
nhờ những nỗ lực của Chính phủ, Bộ Y tế và các ban ngành, Việt Nam đã đạt
được những thành tựu đáng kể trong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân
nói chung và chăm sóc sức khỏe sinh sản nói riêng. Năm 2015, Việt Nam
hoàn thành mục tiêu thiên niên kỉ cho thấy tỷ lệ tử vong bà mẹ đã giảm một
cách đáng kể trong vòng hai thập kỷ: từ 233 ca tử vong trên 100.000 ca sinh
vào năm 1990 xuống còn 69 ca tử vong trên 100.000 ca sinh vào năm 2009 .
Năm 2013, tỷ lệ phụ nữ có thai được quản lý thai là 96,4%; tỷ lệ phụ nữ được
khám thai ≥ 3 lần trước sinh trong 3 thời kỳ là 89,6% . Bên cạnh đó, Việt Nam
đã có nhiều nỗ lực trong việc tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc
sức khoẻ sinh sản bao gồm chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ sơ sinh, kế hoạch
hoá gia đình; tăng cường việc sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại.
Nhằm đa dạng hóa ngành y tế, giảm tải cho dịch vụ y tế công, đồng thời góp
phần tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong tiếp cận các dịch vụ y tế,
dịch vụ y tế tư nhân đã ra đời và phát triển, hàng năm tăng dần về số lượng,
quy mô và chất lượng, y tế tư nhân đã trở thành một bộ phận không thể tách
rời trong hệ thống y tế quốc gia. Từ năm 2003 sau khi Quốc hội ban hành
Pháp lệnh hành nghề y dược tư nhân, hệ thống y tế tư nhân ngày càng phát
triển và đã có những đóng góp đáng kể trong việc cải thiện sức khỏe, huy
động các nguồn lực cho phát triển y tế, nâng cao chất lượng phục vụ, đa dạng
hóa các loại hình dịch vụ, đáp ứng nhu cầu của người dân. Hà Nội, là khu vực
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1.
Khái niệm
1.1.1. Cơ sở y tế tư nhân.
Khu vực y tế tư nhân: là bao gồm hoạt động của các chủ thể cung cấp
dịch vụ y tế ngoài quyền sở hữu của Nhà nước, có thể hoạt động vì mục đích
lợi nhuận hoặc phi lợi nhuận.
Y tế tư nhân: được xác định bao gồm tất cả các nhà cung cấp dịch vụ y tế
nằm ngoài hệ thống y tế nhà nước, bất kể mục tiêu của họ là từ thiện hay
thương mại, điều trị hay phòng bệnh .
Cơ sở y tế tư nhân: là cơ sở mà ở đó bất kỳ người bệnh nào đến đều
được cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh theo quy định về y tế, thực hiện các
thủ thuật, phẫu thuật hoặc các biện pháp điều trị và sau đó ra về, hoặc là cơ
sở mà tại đó một người được cung cấp các dịch vụ hoặc phương pháp điều trị;
y tế tư nhân không bao gồm: một tổ chức được tiến hành bởi Nhà nước hoặc
thay mặt cho Nhà nước, dịch vụ bệnh viện hoặc cơ sở y tế y tế dưới sự kiểm
soát của tổ chức y tế công cộng trong phạm vi ý nghĩa của luật, hoặc một nhà
dưỡng lão .
Trong nghiên cứu này này chúng tôi chỉ quan tâm đến những cơ sở hành
nghề y tế tư nhân đã được cấp giấyphép hoạt động và cung cấp dịch vụ chăm
sóc sức khỏe sinh sản.
Điều kiện hành nghề Y tế tư nhân:
Chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh: là văn bản do cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền cấp cho người có đủ điều kiện hành nghề theo quy
định của Luật Khám bệnh, chữa bệnh.
5
được tổ chức rất đa dạng: từ một người đến vài chục người hoặc vài trăm
người phụ thuộc vào quy mô tổ chức bệnh viện hoặc phòng khám. Những cơ
sở y tế tư nhân có quy mô nhỏ thường có người phụ trách chuyên môn đồng
thời là người quản lý và thực hiện khám và chữa bệnh .
Cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế tại cơ sở y tế tư nhân:
Trang thiết bị y tế được dùng để chỉ tất cả các dụng cụ, thiết bị kỹ thuật,
hóa chất, phần mềm cần thiết, phương tiện vận chuyển, vật tư chuyên dụng và
thông dụng được sử dụng riêng lẻ hay phối hợp với nhau trong các hoạt động
phòng bệnh, chẩn đoán và chữa bệnh phục vụ cho con người . Cơ sở khám
chữa bệnh được cấp phép hoạt động phải có cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế
phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn đăng ký.
Hiện nay các bệnh viện tư nhân được đầu tư xây dựng kiên cố, có diện
tích sử dụng rộng rãi, bài trí hiện đại. Hoạt động chuyên môn theo mô hình
tập trung, tổ chức liên hoàn, khép kín trong phạm vi khuôn viên, đảm bảo
thông thoáng, đáp ứng tiêu chuẩn về môi trường và xử lý chất thải. Nhiều cơ
sở y tế tư nhân đầu tư trang thiết bị y tế, máy móc hiện đại nhằm thực hiện
các kỹ thuật cao, kỹ thuật mũi nhọn. Cơ sở y tế tư nhân có thể thay đổi từ hình
thức cá thể, các công ty vì lợi nhuận, sang hình thức tổ chức hoạt động không
vì lợi nhuận, các tổ chức tài trợ, các nhóm cộng đồng. Quan hệ đối tác có thể
thay đổi về mặt tài chính sang phi tài chính . Hiện nay nước ta đang tồn tại
song song hệ thống y tế công và tư trong CSSKSS .
1.1.3. Dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản
Hội nghị dân số và phát triển của Liên Hợp Quốc tại Ai Cập năm 1994
đưa ra định nghĩa về sức khỏe sinh sản: “Sức khỏe sinh sản là trạng thái khỏe
mạnh hoàn toàn về thể chất, tinh thần và xã hội trong tất cả mọi thứ liên quan
đến hệ thống sinh sản, các chức năng và quá trình của nó chứ không phải chỉ
là bệnh tật hay ốm yếu” .
thai nghén; những vấn đề mới liên quan tới dinh dưỡng và chăm sóc trẻ sơ
7
sinh như uốn ván rốn. Thời kỳ này bà mẹ cần được nghỉ ngơi và ăn uống bồi
dưỡng để phục hồi sức khoẻ và có đủ sữa cho con bú.
Kế hoạch hóa gia đình: là sự cố gắng có ý thức của một cặp (hoặc cá
nhân) nhằm điều chỉnh số con và khoảng cách sinh con, không chỉ bao hàm
việc lựa chọn sử dụng các biện pháp tránh thai mà còn là những cố gắng của
các cặp vợ chồng để có thai. Công tác Dân số, kế hoạch hóa gia đình ở những
nước đang phát triển chủ yếu là giảm sự gia tăng dân số .
1.2.
Tổ chức và hoạt động của dịch vụ y tế tư nhân tại Việt Nam
1.2.1. Quy mô
Y tế tư nhân chiếm thị phần đáng kể và đang tăng trưởng mạnh trong thị
trường cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ.
- Số lượng các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực y tế và các hoạt
động bảo trợ xã hội tăng nhanh từ năm 2000 đến 2008. Số lượng bệnh viện tư
nhân được cấp phép hoạt động giai đoạn từ năm 2000 đến 2010 đã tăng lên đáng
kể. Năm 2002 có 18 Bệnh viện, năm 2003 là 23 bệnh viện, năm 2004 có 34 bệnh
viện, đến năm 2009 đã có 100 bệnh viện, tính đến ngày 31/12/2016 số bệnh viện
tư nhân trên toàn quốc là 204 bệnh viện trong đó Hà Nội và thành phố Hồ Chí
Minh chiếm số lượng lớn các cơ bệnh viện .
- Bên cạnh sự tăng lên về số lượng của các bệnh viện còn có sự tăng lên
nhanh chóng của các phòng khám đa khoa, chuyên khoa, các phòng chẩn trị y
học cổ truyền, các cơ sở dịch vụ y tế….
chiếm 2,9% trong toàn ngành, trong đó các bệnh viện công chiếm 97,1%.
Đến năm 2009 tỷ lệ này tăng lên 3%, trong đó tỷ lệ giường của bệnh
viện công là 97%. Bệnh viện tư nhân tuy đã phát triển về quy mô và số lượng,
nhưng thực tế vẫn chiếm tỷ lệ nhỏ trong toàn bộ hệ thống y tế.
9
Số lượt khám bệnh
Năm 2008 các bệnh viện tư nhân đã thực hiện được 4.957.286 lượt khám
bệnh cho các bệnh nhân, số lượt khám bệnh này đến năm 2009 là 6.098.933
lượt đã tăng 1,141,647 lượt. Số lượt khám bệnh phán ánh mức độ lựa chọn sử
dụng dịch vụ của người tiêu dùng. Đây là con số gia tăng khá lớn, tăng
khoảng 23% số lượt khám bệnh. Sự gia tăng về tổng số lượt khám bệnh đã thể
hiện mức độ tin tưởng của người bệnh đối với dịch vụ y tế tư nhân.
- Trong năm 2009, khối bệnh viện tư nhân đã đóng góp 4.637.060 lượt
khám nội trú chiếm tỷ lệ là 4.4% đối với tổng số lượt của các hệ thống là
106.427.741 lượt.
- Y tế tư nhân có ưu thế về chuyên môn: Năm 2009 tổng số lượt phẫu
thuật nội soi (một kỹ thuật mới) của khối bệnh viện tư nhân đã là là 22.142
lượt, số lượng này cũng tương đương với các bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế và
trung ương.
Tổng số phẫu thuật.
Trong năm 2009 khối bệnh viện tư nhân cũng đã tham gia phẫu thuật
(loại 3 trở lên) là 151.557 lần phẫu thuật, chiếm 7,3% trong toàn ngành. Phẫu
thuật nội soi của bệnh viện tư nhân là 22.142 lần chiếm 17,2%, loại phẫu
thuật này bệnh viện tư nhân chiếm tỷ lệ gần bằng các bệnh viện trực thuộc bộ
với tỷ lệ tương ứng là 17,5% và là nhóm có số lượt phẫu thuật cao nhất trong
toàn hệ thống , .
giá khám chữa bệnh để từ đó thu lợi nhuận. Tác động của đầu cơ tăng giá:
việc đầu cơ trong lĩnh vực y tế là tác động đến mọi tầng lớp trong xã hội vì nó
ảnh hưởng đến một nhu cầu thiết yếu là nhu cầu được chăm sóc sức khỏe, mà
mọi đối tượng đều cần phải sử dụng. Hơn thế nữa, vấn đề cung cấp dịch vụ
chất lượng chưa tốt: một bộ phận y tế tư nhân đã cung cấp dịch vụ với chất
lượng chưa đạt yêu cầu, kém hiệu quả và chưa đáp ứng được kỳ vọng của
người bệnh, thậm chí gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe người bệnh. Đó là
các hiện tượng: một số phòng khám hoạt động vượt quá phạm vi chuyên môn
được cơ quan quản lý Nhà nước phê duyệt, đăng kí khám chữa bệnh tại một
số chuyên khoa nhất định, nhưng thực tế để giảm chi phí nhân lực, các cơ sở
11
này không duy trì sự có mặt thường xuyên của bác sỹ chuyên khoa, sử dụng
cán bộ y tế chưa có đủ chứng chỉ hành nghề hoặc tự ý tăng giá dịch vụ, giá
thuốc …. .
Công tác CSSKSS luôn được sự quan tâm của thế giới cũng như của Việt
Nam. Từ thập kỷ 60 Nhà nước ta đã quan tâm đến công tác sinh đẻ có kế
hoạch, hướng dẫn bảo vệ CSSKBM. Công tác này được Bộ Y tế xây dựng
chính sách, quản lý, tổ chức thực hiện trên toàn quốc . Theo báo cáo của
UNICEF tại Việt Nam năm 2009, tỷ lệ các bà mẹ được khám thai ít nhất 4 lần
rất thấp (40%), trong đó có trên 13% số bà mẹ không đi khám thai lần nào,
các tai biến sản khoa vẫn còn nhiều (2,3%), số trẻ được bú mẹ hoàn toàn
trong 4 tháng đầu chỉ chiếm 17% . Do đó, tỷ lệ tử vong mẹ do những nguyên
nhân liên quan tới quá trình sinh đẻ, cũng như tỷ lệ tử vong của trẻ dưới 5 tuổi
còn cao. Năm 2009, tỷ lệ tử vong mẹ là 69/100.000 trẻ đẻ sống, tỷ lệ tử vong
của trẻ dưới 5 tuổi là 24,4‰ . Theo báo cáo tổng quan ngành y tế năm 2014,
các chỉ tiêu chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em được cải thiện so với năm 2013
và đạt các chỉ tiêu kế hoạch năm 2014 đề ra: tỷ lệ phụ nữ có thai được quản lý
y tế tư nhân bởi đặc điểm thuận lợi như: dịch vụ tiếp đón chu đáo, tiết kiệm
thời gian, thuận tiện cho người có nhu cầu sử dụng dịch vụ y tế. Dịch vụ y tế
tư nhân có khả năng đáp ứng những nhu cầu khám định kì, thường xuyên. Các
bệnh nhân được kê đơn điều trị phần lớn là các bệnh nhẹ còn các bệnh nặng,
mãn tính hoặc tiên lượng xấu thì chủ yếu là chuyển đến các cơ sở y tế nhà
nước. Bệnh nhân điều trị nội trú tại cơ sở y tế tư nhân cũng không nhiều,
thường được chuyển đến tuyến trên, cơ sở y tế nhà nước. Các cơ sở khám
chữa bệnh công lập sẵn sàng tiếp nhận bệnh nhân được các cơ sở YTTN giới
thiệu đến. Sự hỗ trợ của các bệnh viện công cũng có thể coi là cơ chế chính
sách, tạo điều kiện cho các cơ sở y tế tư nhân hoạt động.
Như vậy, các cơ sở y tế tư nhân đóng góp một phần cho việc sàng lọc
bệnh nhân, cùng việc chuyển chuyên khoa phù hợp trong hệ thống y tế. Tuy
vậy, hệ thống YTNN chưa có thông tin rõ ràng về ngành dọc của dịch vụ
13
CSSKSS, nhiều khi các cơ sở này lúng túng, trong việc tiếp cận thông tin và
sự hỗ trợ chuyên môn của tuyến y tế nhà nước. Do đó, cần có các biện pháp
hỗ trợ và quản lý phù hợp để cơ sở YTTN hoạt động được tốt hơn như: khám,
chữa bệnh đúng đăng ký, có chế độ báo cáo, tập huấn định kỳ.
Mặc dù các cơ sở YTTN ngày càng có vai trò quan trọng hơn trong cung
cấp dịch vụ, nhưng họ vẫn giữ vai trò khiêm tốn trong cung cấp dịch vụ
CSSKSS. Hiện nay không có quy định thưởng phạt cho những cơ sở y tế không
cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản theo phân tuyến kỹ thuật .
1.4.
Một số nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của y tế tư nhân trong
cung ứng dịch vụ CSSKSS
hiệu thuốc là nơi quan trọng trong điều trị các bệnh lây truyền qua đường tình
dục. Những phát hiện này làm nổi bật sự cần thiết phải tăng lên rất nhiều cam kết
tài trợ cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe CSSK sinh sản cũng như sự chú ý của
chính sách hơn sự đóng góp của các nhà cung cấp công cộng, tư nhân và vai trò
của sự hợp tác giữa họ mở rộng tiếp cận dịch vụ cho người dân .
Trong khi đó một nghiên cứu khác về vai trò của các nhà cung cấp dịch
vụ tư nhân trong việc cung cấp các biện pháp tránh thai hiện đại với tăng bất
bình đẳng ngang trong sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại được thực hiện
qua điều tra dân số và y tế từ bốn quốc gia được lựa chọn (Nigeria, Uganda,
Bangladesh và Indonesia). Kết quả cho thấy việc mở rộng cung cấp khu vực
thương mại tư nhân biện pháp tránh thai trong bốn quốc gia nghiên cứu đã
không dẫn đến gia tăng sự bất bình đẳng trong việc sử dụng biện pháp tránh
thai hiện đại. Ở Nigeria và Uganda, bất bình đẳng thực sự giảm theo thời gian,
trong khi ở Bangladesh và Indonesia, bất bình đẳng dao động. Từ đó có thể
kết luận rằng, kết quả nghiên cứu không cung cấp hỗ trợ cho giả thuyết rằng
vai trò gia tăng của khu vực thương mại tư nhân trong việc cung cấp vật tư
tránh thai dẫn đến tăng sự bất bình đẳng trong sử dụng biện pháp tránh thai
hiện đại .
15
Một nghiên cứu tại Anh ước tính có khoảng 85% điều trị vô sinh và 15%
các cặp vợ chồng nhận công nghệ hỗ trợ sinh sản (ART), và một tỷ lệ khá lớn
được cung cấp bởi PK tư nhân .
1.4.2. Một số nghiên cứu tại Việt Nam.
Y tế nơi liên tục thay đổi mô hình bệnh tật và yêu cầu tăng cường sử
dụng công nghệ hiện đại để chẩn đoán và điều trị đã làm cho nó hầu như
không thể tồn tại duy nhất một hình thức tổ chức cung cấp dịch vụ mà cần đa
dạng loại hình và hợp tác giữa các tổ chức. Các đối tác này có thể có nhiều
tiêu giai đoạn 2011-2015 và chỉ tiêu năm 2015. Tỷ lệ sàng lọc trước sinh và
sơ sinh ngày càng tăng qua các năm. Năm 2012, tỷ lệ sàng lọc trước sinh là
40,36%, đến 2014 tăng lên 67% (cao hơn 1,6 lần so với 2012); tỷ lệ sàng lọc
sơ sinh năm 2012 đạt 20,21% đến 2014 tăng lên 47,6% (cao hơn 2,4 lần so
với 2012). Tính đến tháng 6 năm 2015, đã thực hiện sàng lọc trước sinh cho
282.444 trường hợp và sàng lọc sơ sinh cho 177.493 trẻ, thực hiện sàng lọc sơ
sinh cho 61,89% số trẻ sinh ra, phát hiện 646 trường hợp nghi ngờ thiếu men
G6PD, 20 trường hợp nghi ngờ suy giáp trạng bẩm sinh. Dự kiến cuối năm
đạt tỷ lệ sàng lọc sơ sinh là 85% hoàn thành kế hoạch đề ra. Tỷ lệ cặp vợ
chồng áp dụng các biện pháp tránh thai hiện đại tăng từ 74,5% (2011) lên
76,0% (2014) và dự kiến đến hết năm 2015 đạt 76% .
Hay một nghiên cứu khác của tác giả Nguyễn Ngọc Hoan trong nghiên
cứu thực trạng công tác CSSKBM, Dân Số - KHHGĐ tại Sóc Sơn, Thành phố
Hà Nội năm 2000 đã đưa ra kết quả: tỷ lệ phụ nữ khám thai là 98,2%, trong
đó khám thai 3 lần trở lên là 75,0%. Tỷ lệ PNCT được tiêm phòng uốn ván là
97,8%. Tỷ lệ bà mẹ đẻ tại cơ sở Y tế là 95,6%. Tỷ lệ các cặp vợ chồng áp