I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
TRIU VN MN
Biện pháp tạm giam
trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam
(Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Bắc Kạn)
LUN VN THC S LUT HC
H NI - 2015
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
TRIU VN MN
Biện pháp tạm giam
trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam
(Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Bắc Kạn)
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04
LUN VN THC S LUT HC
Cỏn b hng dn khoa hc: TS. NGUYN C PHC
H NI - 2015
Khái niệm và các vấn đề cơ bản của biện pháp tạm giam
trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam ............................................... 8
1.1.1. Khái niệm biện pháp ngăn chặn và mục đích của biện pháp
ngăn chặn.............................................................................................. 8
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm của biện pháp ngăn chặn tạm giam .................. 10
1.1.3. Mục đích, ý nghĩa của tạm giam ........................................................ 13
1.2.
Nội dung quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành về
biện pháp ngăn chặn tạm giam ....................................................... 15
1.2.1. Đối tượng áp dụng biện pháp tạm giam ............................................. 15
1.2.2. Quy định về thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam...................... 17
1.2.3. Căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam .................................................. 18
1.2.4. Về thủ tục tạm giam ........................................................................... 20
1.2.5. Về chế độ tạm giam............................................................................ 21
1.2.6. Về thời hạn tạm giam ......................................................................... 25
1.2.7. Về quyền của người bị tạm giam ....................................................... 29
1.3.
Quy định về biện pháp tạm giam trong pháp luật một số
nước trên thế giới ............................................................................. 30
Chương 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN
TẠM GIAM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC KẠN (GIAI ĐOẠN
2010 – 2014)...................................................................................................33
2.1.
Sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố
tụng hình sự hiện hành về biện pháp tạm giam ............................ 63
3.2.
Những giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về
biện pháp tạm giam .......................................................................... 65
3.2.1. Hoàn thiện quy định về căn cứ tạm giam........................................... 66
3.2.2. Về thời hạn tạm giam ......................................................................... 70
3.2.3. Về thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp tạm giam ................... 72
3.2.4. Về thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giam ........................................... 74
3.3.
Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng biện
pháp tạm giam trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn .................................... 76
3.3.1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc áp dụng pháp
luật về biện pháp tạm giam trong hoạt động giải quyết các vụ án
hình của các cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Bắc Kạn ........................ 76
3.3.2. Tăng cường công tác giải thích và hướng dẫn áp dụng thống
nhất pháp luật về biện pháp tạm giam................................................ 78
3.3.3. Tăng cường tổng kết kinh nghiệm trong hoạt động tố tụng của
các cơ quan tiến hành tố tụng làm cơ sở cho hoạt động áp dụng
pháp luật về biện pháp tạm giam được thực hiện thống nhất ............ 79
3.3.4. Tăng cường nâng cao phẩm chất đạo đức, năng lực trình độ
chuyên môn của đội ngũ người tiến hành tố tụng .............................. 81
3.3.5. Tăng cường điều kiện cơ sở vật chất cho các các cơ quan tiến
Cơ quan điều tra
CQTHTT: Cơ quan tiến hành tố tụng
HĐXX:
Hội đồng xét xử
TAND:
Tòa án nhân dân
THTG:
Tiến hành tạm giam
THTT:
Tiến hành tố tụng
TTHS:
Tố tụng hình sự
VKS:
Viện kiểm sát
VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân tối cao
XHCN:
41
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Cùng với pháp luật hình sự, Pháp luật tố tụng hình sự (TTHS) là một
trong những công cụ sắc bén và hữu hiệu của Đảng và Nhà nước ta trong
công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nhằm bảo vệ chế độ xã hội chủ
nghĩa, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, quyền làm
chủ của nhân dân, quyền bình đẳng giữa các dân tộc, bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của công dân, duy trì trật tự, an toàn xã hội, đồng thời, pháp luật
hình sự còn góp phần chống lại mọi hành vị phạm tội, giáo dục mọi người ý
thức chấp hành và tuân theo pháp luật.
Trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, các biện pháp ngăn
chặn (BPNC) trong Luật TTHS có ý nghĩa quan trọng. Việc áp dụng các biện
pháp ngăn chặn có ảnh hưởng lớn đến việc giải quyết có hiệu quả nhiệm vụ
của TTHS cũng như kết quả đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.
Trong hệ thống các biện pháp ngăn chặn trong Luật TTHS, tạm giam là biện
pháp ngăn chặn quan trọng và nghiêm khắc nhất. Việc áp dụng biện pháp tạm
giam (BPTG) luôn luôn gắn liền với những hạn chế quyền và lợi ích hợp pháp
của công dân như: hạn chế quyền tự do của cá nhân, quyền tự do đi lại, quyền
bầu cử, ứng cử… Người bị áp dụng biện pháp này sẽ bị cách ly khỏi xã hội
trong một thời gian nhất định mà với một số trường hợp có thể rất dài. Đây là
những quyền cơ bản của công dân đã được ghi nhận và bảo đảm trong Hiến
pháp. Điều 20 Hiến pháp năm 2013 nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
quy định:“Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật
bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy
bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức
khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm” [20, Điều 20]. Quy định này của Hiến
luận này, cũng còn nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau. Chính
vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “BPTG trong luật tố tụng hình sự Việt Nam
(trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Bắc Kạn” là vấn đề mang tính
2
cấp bách, thiết thực không những về mặt lý luận mà cả về mặt thực tiễn đối
với địa phương trong giai đoạn hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Biện pháp ngăn chặn nói chung và biện pháp ngăn chặn tạm giam nói
riêng là vấn đề quan trọng trong TTHS, trong thời gian qua đã có một số sách,
báo pháp lý ở nước ta đã tiến hành nghiên cứu về việc xây dựng và áp dụng
các biện pháp ngăn chặn nói chung trong đó có biện pháp tạm tam. Có thể kể
đến các công trình nghiên cứu như:
* Ở cấp độ đề tài nghiên cứu khoa học, luận án, luận văn và sách
chuyên khảo có thể kể đến các công trình nghiên cứu như sau:
- Tác giả Phạm Thanh Bình - Nguyễn Vạn Nguyên với sách tham khảo
"Những điều cần biết về bắt người, tạm giữ, tạm giam đúng pháp luật", Nxb,
Sự thật năm 1993;
- Tác giả Võ Khánh Vinh (chủ biên) với cuốn “Bình luận khoa học Bộ
luật tố tụng hình sự Việt Nam”, Nxb. Công an nhân dân, năm 2004
- Tác giả Nguyễn Văn Điệp với luận án tiến sĩ “Các biện pháp ngăn
chặn bắt, tạm giữ, tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam – Thực trạng,
nguyên nhân và giải pháp” Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2005;
* Ở cấp độ các bài viết nghiên cứu khoa học trên các tạp chí chuyên
ngành có thể kể đến như:
- Tác giả Phùng Văn Tài với bài viết “Những vướng mắc trong việc áp
dụng các biện pháp ngăn chặn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và
kiến nghị sửa đổi, bổ sung” , Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 8/2012
dụng BPTG trong thực tiễn.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu trên, đề tài thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau.
- Nghiên cứu và phân tích sơ lược khái quát quá trình hình thành và
phát triển của BPTG trong TTHS; pháp luật thực định về BPTG, từ đó đưa ra
4
khái niệm về biện pháp ngăn chặn nói chung và khái niệm về biện pháp ngăn
chặn tạm giam nói riêng.
- Nghiên cứu các quy định cụ thể của biện pháp ngăn chặn tạm giam
trong TTHS, và thực trạng áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trên
phạm vi địa giới hành chính cụ thể của một tỉnh để tìm hiểu làm rõ những
vướng mắc, tồn tại, hạn chế và bất cập giữa các quy định luật và thực tiễn
áp dụng từ đó rút ra những nhận xét, đánh giá để hoàn thiện các quy định
của Luật TTHS hiện hành.
- Đồng thời trên cơ sở nghiên cứu đưa ra một số giải pháp để kiến nghị
sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật TTHS cũng như những giải pháp
nâng cao tính hiệu quả đối với BPTG trong thực tiễn.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu và giải quyết những vấn đề xung quanh biện pháp
ngăn chặn tạm giam trong Luật TTHS Việt Nam, kết hợp với việc nghiên cứu
đánh giá thực trạng áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trong thực tiễn địa
bàn tỉnh Bắc Kạn và những nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế, vướng
mắc để kiến nghị những giải pháp hoàn thiện luật thực định và nâng cao hiệu
quả áp dụng biện pháp ngăn chặn trong thực tiễn.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
Nghiên cứu và phân tích sơ lược khái quát lịch sử lập pháp TTHS quy
định về BPTG.
luận và thực tiễn trong đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung cũng như
hoạt động áp dụng BPTG nói riêng.
Luận văn phân tích đánh giá đúng thực trạng hoạt động áp dụng BPTG
trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn; xây dựng được hệ thống giải pháp hữu hiệu và có
tính khả thi cao, phù hợp với điều kiện tình hình tại địa phương, chỉ ra được
những tồn tại, hạn chế của thực tiễn áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam,
cũng như những nguyên nhân cơ bản của các tồn tại, hạn chế đó.
6
Kết quả của nghiên cứu còn phục vụ cho việc trang bị những kiến thức
chuyên sâu cho các cán bộ đang công tác tại các cơ quan tiến hành tố tụng tại
địa phương tham khảo trong quá trình giải quyết vụ án hình sự được khách
quan, có căn cứ và đúng pháp luật.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đã đề xuất
các định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật thực định và nâng cao hiệu
quả áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trong giai đoạn xây dựng Nhà
nước pháp quyền và cải cách tư pháp hiện nay ở Việt Nam.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo đề tài
được kết cấu làm 3 chương.
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về biện pháp ngăn chặn tạm
giam theo quy định của luật tố tụng hình sự.
Chương 2: Thực tiễn áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trên địa
bàn tỉnh Bắc Kạn (giai đoạn 2010 – 2014).
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả
áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam.
7
viên, dự thẩm viên, kiểm sát viên và tòa án áp dụng đối với bị can (người bị
tình nghi) nếu có đủ căn cứ cho rằng bị can trốn tránh việc điều tra, dự thẩm
hoặc trốn tránh tòa án, cản trở việc xác minh sự thật về vụ án, hay sẽ tiếp tục
hoạt động phạm tội, cũng như để đảm bảo việc thi hành án [3, tr.673].
BLTTHS Việt Nam hiện hành mặc dù không đưa ra một khái niệm về
BPNC, tuy nhiên tại Điều 79 BLTTHS 2003 cũng đã quy định các căn cứ áp
dụng các BPNC như sau:
Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị
cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm
tội, cũng như khi cần bảo đảm thi hành án, thì cơ quan điều tra, Viện kiểm sát
hoặc Tòa án có thể áp dụng một trong những biện pháp ngăn chặn sau đây:
bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản
có giá trị để bảo đảm [18].
Các căn cứ này cũng đã phản ánh một phần bản chất của của các BPNC
của pháp luật TTHS Việt Nam. Tuy nhiên, BPNC là biện pháp cưỡng chế tố
tụng rất nghiêm khắc, đòi hỏi phải có sự phân định rõ ràng về chủ thể áp
dụng, về thẩm quyền áp dụng, về đối tượng bị áp dụng, về căn cứ và mục đích
áp dụng để từ đó mới có thể hiểu một cách thấu đáo và vận dụng đúng đắn
vào thực tiễn.
Giáo trình luật TTHS Việt Nam - Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội,
cho rằng: BPNC là biện pháp cưỡng chế trong TTHS áp dụng với bị can, bị
cáo, người phạm tội quả tang và người cần phải bắt trong trường hợp khẩn cấp.
Nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm của họ, ngăn chặn người đó gây khó khăn
cho việc điều tra truy tố, xét xử và tiếp tục phạm tội hoặc trốn [30, tr.133].
Cuốn "Tội phạm học, luật hình sự và TTHS" lại giải thích rằng BPNC
là một loại biện pháp do cơ quan điều tra, VKS và Tòa án áp dụng đối với
người bị tình nghi phạm tội, đối với bị can, bị cáo và cả người bị kết án khi
10
lợi ích xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Tuy nhiên, khi áp
dụng BPTG vào quá trình giải quyết vụ án, các cơ quan tiến hành tố tụng phải
tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật, để bảo đảm các quyền của
công dân, góp phần nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh chống và phòng
ngừa tội phạm. Bản chất pháp lý của BPTG còn thể hiện ở chỗ: đây là những
biện pháp cưỡng chế của Nhà nước áp dụng đối với các đối tượng nhất định
và trong những trường hợp do pháp luật quy định, nhằm ngăn chặn những
hành vi nguy hiểm cho xã hội, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội hoặc gây cản
trở cho các hoạt động tố tụng.
Theo Điều 88 BLTTHS thì đối tượng bị áp dụng BPTG chỉ có thể là bị
can, bị cáo tức là những người đã bị khởi tố về hình sự hoặc đã bị Tòa án
quyết định đưa ra xét xử và không phải tất cả bị can, bị cáo đều bị tạm giam
mà chỉ áp dụng khi bị can, bị cáo rơi vào trường hợp sau:
- Bị can, bị cáo phạm tội trong những trường hợp đặc biệt nghiêm
trọng, phạm tội rất nghiêm trọng;
- Bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà
BLHS quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ để cho rằng người đó có
thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội.
Là biện pháp cưỡng chế nhà nước, pháp luật nước ta chỉ quy định một
phạm vi hẹp những cơ quan và cá nhân có thẩm quyền áp dụng BPTG, đó là:
- Viện trưởng, phó Viện trưởng VKSND và VKS quân sự các cấp.
- Chánh án, phó chánh án TAND và Tòa án quân sự các cấp.
- Thẩm phán là Chánh tòa, Phó Chánh tòa phúc thẩm TANDTC.
- Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp. Trong trường
hợp này, lệnh tạm giam phải được VKS cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành.
Tạm giam là biện pháp tạm thời tước tự do do Cơ quan điều tra, VKS,
an toàn và vững mạnh của chế độ XHCN, bảo vệ tài sản, tĩnh mạng, sức
khỏe, danh dự, nhân phẩm của công dân, tạm giam đúng sẽ góp phần bảo
12
đảm sự dân chủ, tôn trọng các quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp
quy định như quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền tự do cư trú và đi
lại…, tạm giam đúng còn bảo đảm cho việc đấu tranh chống và phòng ngừa
tội phạm có hiệu quả, bảo đảm hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng
được thuận lợi, thể hiện sự chuyên chính của nhà nước XHCN trong việc
đấu tranh phòng chống tội phạm.
Như vậy, có định nghĩa về tạm giam như sau:
Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong TTHS do người có
thẩm quyền ở Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đối
với bị can, bị cáo phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng,
phạm tội rất nghiêm trọng hoặc bị can, bị cáo phạm tội nghiêm
trọng; phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình
phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc
cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội.
1.1.3. Mục đích, ý nghĩa của tạm giam
1.1.3.1. Mục đích
Ngoài mục đích chung, thống nhất là ngăn chặn không để bị can, bị cáo
tiếp tục phạm tội hoặc có hành vi gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án thì ở
mỗi giai đoạn tố tụng nhất định, việc áp dụng BPNC tạm giam còn có mục
đích riêng nhằm bảo đảm thực hiện tốt chức năng tố tụng của cơ quan áp
dụng. Ví dụ: việc áp dụng BPTG trong giai đoạn điều tra tạo điều kiện thuận
lợi cho Cơ quan điều tra tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ từ lời khai của
bị can vào bất cứ khi nào nếu thấy cần thiết mà không phải mất thời gian triệu
tập nhiều lần, giúp cho quản lý giám sát bị can được chặt chẽ; còn việc tạm
hợp pháp của họ được tôn trọng và bảo vệ, tránh được sự tấn công, xâm hại từ
phía các đối tượng nhất định, bảo đảm cho mọi công dân yên tâm sinh sống,
học tập, làm việc tham gia vào công tác đấu tranh phòng chống tội phạm đạt
hiệu quả cao nhất.
14
1.2. Nội dung quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành về
biện pháp ngăn chặn tạm giam
1.2.1. Đối tượng áp dụng biện pháp tạm giam
Về đối tượng áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam, theo quy định
của khoản 1 Điều 88 BLTTHS 2003 thì:
Tạm giam có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo trong những
trường hợp sau đây:
a) Bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; phạm tội rất
nghiêm trọng;
b) Bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm
trọng mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm và có
căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy
tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội [18, Điều 88, Khoản 1].
Theo quy định trên thì đối tượng có thể bị áp dụng BPTG chỉ có thể là
bị can, bị cáo. Bị can là “người đã bị khởi tố về hình sự” (Khoản 1 Điều 49
BLTTHS 2003), tức là những người có quyết định khởi tố bị can về một tội
phạm cụ thể được quy định trong BLHS. Còn bị cáo là “người đã bị Tòa án
quyết định đưa ra xét xử” (Khoản 1 Điều 50 BLTTHS 2003). Tuy nhiên,
không phải tất cả bị can, bị cáo đều bị áp dụng BPTG, mà chỉ áp dụng đối với
họ trong hai trường hợp sau:
- Thứ nhất, bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội rất
nghiêm trọng. Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc
biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là
+ Bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới ba
mươi sáu tháng tuổi,
+ Người già yếu, người bị bệnh nặng mà nơi cư trú rõ ràng.
Tuy nhiên, những đối tượng này có thể bị áp dụng biện pháp ngăn chặn
tạm giam trong những trường hợp đặc biệt đó là:
+ Bị can, bị cáo bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã;
16
+ Bị can, bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác
nhưng tiếp tục phạm tội hoặc cố ý gây cản trở nghiêm trọng đến
việc điều tra, truy tố, xét xử;
+ Bị can, bị cáo phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia và có
đủ căn cứ cho rằng nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy
hại đến an ninh quốc gia [18, Điều 88, Khoản 2].
Với quy định này, BLTTHS đã thể hiện khá rõ nét nguyên tắc nhân đạo
xã hội chủ nghĩa, tôn trọng quyền con người, bảo vệ quyền trẻ em. Với điều
kiện sinh hoạt trong các trại tạm giam thì không thể đảm bảo những nhu cầu
thiết yếu của phụ nữ mang thai, nuôi con dưới ba mươi sáu tháng tuổi người
già yếu và người bị bệnh nặng. Hơn nữa trong những trường hợp này thì bị
can, bị cáo đã có nơi cư trú rõ ràng, nếu họ không thuộc các trường hợp đặc
biệt kể trên, các CQTHTT có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn khác để đảm
bảo sự có mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu tập của CQTHTT.
1.2.2. Quy định về thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam
Theo quy định tại BLTTHS 2003, những người sau đây có quyền ra
lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam:
- Viện trưởng, Phó viện trưởng VKSND và VKSQS các cấp;
- Chánh án, Phó chánh án TAND và TAQS các cấp;
- Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa phúc