Thị hiếu thẩm mỹ của các nhà thơ Trung Quốc, qua thơ Đường - Pdf 44

TIỂU LUẬN VĂN HỌC
Thị hiếu thẩm mỹ
của các nhà thơ Trung Quốc, qua thơ Đường
VÕ PHÚC CHÂU
1.VÀI NÉT VỀ THỊ HIẾU THẨM MỸ:
Con người là hiện thân của cái đẹp, nhưng luôn ngạc nhiên về cái đẹp của
chính mình và xung quanh mình. Cái đẹp luôn có một sức hấp dẫn kỳ lạ, thu hút sự chú
ý của con người. Nó được cảm nhận bởi ý thức, ẩn sâu trong tiềm thức, vô thức. Mỗi
khi bắt gặp một vẻ đẹp trẻ trung, nụ cười gợi cảm, chứng kiến một hành vi cao thượng,
hay ngắm nhìn một sự sống mới tượng hình, một cảnh mùa xuân tràn đầy hương sắc,...
con người thường nảy sinh trạng thái xúc động. Tri giác và xúc động trước các khách
thể thẩm mỹ này, con người hình thành trong mình cảm xúc thẩm mỹ. Những cảm xúc
thuộc về cá nhân ấy dần dần ổn định, hợp thành một thực thể bền vững và biến thành sở
thích thẩm mỹ của người đó. Sở thích thẩm mỹ chính là biểu hiện của thị hiếu thẩm mỹ.
Thị hiếu thẩm mỹ là một thành tố cơ bản của ý thức thẩm mỹ. Nó thể hiện sự
bằng lòng và hứng thú của chủ thể khi tiếp nhận và đánh giá các đối tượng nhất định.
Nó là vấn đề ý thức được cụ thể hóa bằng hành động, bằng vật phẩm. Nó in dấu vết trên
hầu hết những gì con người tạo ra trong môi trường sống.
Thị hiếu thẩm mỹ là một hiện tượng xã hội – lịch sử, trong đó kết hợp những
yếu tố có tính nhân loại, những yếu tố thuộc về tầng lớp, giai cấp, giới tính và những
yếu tố cá nhân. Bất kỳ một sự ưa thích, một sự lựa chọn nào của cá nhân trong lĩnh vực
thẩm mỹ đều mang dấu vết xã hội. Nếu cảm xúc thẩm mỹ thiên về khía cạnh trực giác,
cảm quan và tình cảm thì trong thị hiếu thẩm mỹ đã có sự hòa hợp và cân bằng giữa cảm
tính và lý tính, giữa trực giác tức thời và sự nghiền ngẫm lâu dài. Sự khác biệt về trình
độ văn hóa, kinh nghiệm sống và đời sống đạo đức,... khiến con người khác nhau về thị
hiếu thẩm mỹ: cao quý hoặc thấp kém.
Như mọi hiện tượng xã hội khác, thị hiếu thẩm mỹ cũng mang tính qui luật.
Có ba loại qui luật thường xuyên chi phối, tác động đến sự hình thành và phát triển của
nó. Đó là quy luật xã hội học, qui luật tâm lý học và qui luật thẩm mỹ học. Qui luật xã
hội học giải thích sự phát sinh, phát triển và tiêu vong của các loại thị hiếu, các loại
“mốt”. Qui luật tâm lý thể hiện sự thích ứng giữa nhu cầu tình cảm của con người và

♦ Sơ Đường (618 – 713) bóng bẩy và hoa mỹ trong những vần thơ ca tụng.
♦ Thịnh Đường (713 – 766) “ Tài này, sắc ấy nghìn vàng chưa cân” (Nguyễn
Du).
♦ Trung Đường (766 – 835) bắt đầu phai sắc kém hương, với vần thơ cảm
thương, u uẩn.
♦ Vãn Đường (835 – 907) buổi chiều tà, với những vệt sáng hoàng hôn cuối cùng.
Sừng sững giữa đội ngũ 2.300 nhà thơ là những tên tuổi ngời chói. Sơ Đường có
tứ kiệt: Vương Bột, Lạc Tân Vương, Lô Chiếu Lân, Dương Quýnh,... Thịnh Đường có
thi tiên Lý Bạch, thi thánh Đỗ Phủ, thi phật Vương Duy,... Trung Đường có Bạch Cư
Dị, Liễu Tông Nguyên,... Vãn Đường có Lý Thương Ẩn, Đỗ Mục,... Mỗi nhà thơ là một
ngọn sóng tỏa dư ba khác nhau, nhưng cùng tạo nên sinh khí cuồn cuộn, tráng lệ cho thơ
ca thời này. Chúng ta xin mượn lời cụ Ngô Tất Tố để cảm nhận khái quát về thơ Đường:
“Sơ Đường phần nhiều hay về khí cốt nhưng lối dùng chữ đặt câu chưa được trau
chuốt cho lắm. Vãn Đường giỏi về từ tảo, lời đẹp, ý sâu, nhưng lại thiếu phần hùng
hồn, có khi còn bị cái tội ủy mị là khác. Duy chỉ có Thịnh Đường ở vào giữa hai thời kỳ
ấy, cho nên chẳng những không có cái dở của hai thời kỳ kia, mà còn gồm cả cái hay
của hai thời kỳ ấy nữa”.
3. GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU:
Bài viết này không chủ ý đi tìm những đặc trưng thẩm mỹ của thơ Đường, cũng
không cao vọng phát hiện thêm những giá trị tiềm ẩn của nó. Người viết chỉ xin vận
dụng lý thuyết về thị hiếu thẩm mỹ để tìm hiểu một số tác giả tiêu biểu, thông qua
3
những bài thơ Đường đặc sắc. Tuy nhiên, do số lượng tác phẩm, tác giả quá lớn, năng
lực người viết lại hạn chế..., bài viết xin giới hạn trong một tuyển tập thơ cụ thể, với một
vài khía cạnh nổi bật củavấn đề. Cơ sở khảo sát và kết luận trong bài dựa vào tập Thơ
ca cổ điển Trung Quốc (giáo sư Lương Duy Thứ và giáo sư Nguyễn Lộc biên soạn,
Nhà xuất bản Trẻ kết hợp Hội nghiên cứu và giảng dạy Văn học thành phố Hồ Chí Minh
ấn hành, năm 1997). Tuyển tập bao gồm 49 bài thơ Đường hay nhất. Mọi số liệu thống
kê đều căn cứ vào 49 bài này.
Bài viết khảo sát thị hiếu thẩm mỹ của các nhà thơ, thông qua các khách thể thẩm

Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền”
(Phong kiều dạ bạc)
(Quạ kêu, trăng lặn, sương rơi
Lửa chài, cây bãi, đối người nằm co
4
Chùa đâu trên núi Cô Tô,
Tiếng chuông đưa đến bến đò canh khuya)
(Đêm đỗ thuyền ở Phong Kiều Bạc – Ngô Tất Tố dịch)
Cả bài thơ bàng bạc một nỗi buồn, nhưng đó là cái buồn toát lên từ vẻ đẹp mê đắm
não nùng của trời đêm. Trong giấc ngủ, con người thấy tâm hồn mình giao hòa cùng vẻ
đẹp thiên nhiên, vũ trụ.
Tuy nhiên, đêm rộng quá, xa vắng quá, thành ra lòng người nhiều lúc rơi vào nỗi
cô đơn. Những người một mình thao thức thường cảm giác lạc lõng giữa vũ trụ, xa cách
người thân và cố hương. Thiếu bạn tri âm, vắng người thân thích, các nhà thơ thường
mượn cảnh đêm để thổ lộ lòng mình. Có 10 bài là tâm sự về nỗi cô đơn, trống vắng.
Trong thơ của họ, trăng và sương đêm nhòa lẫn vào nhau, cũng như nỗi nhớ cố hương
chảy tràn theo vầng sáng trên mặt đất (Tĩnh dạ tư – Lý Bạch). Trước cảnh hữu tình,
người buồn gặp mình với bóng (Nguyệt hạ độc chuốc – Lý Bạch). Trước cảnh lạnh lẽo,
mênh mông, người buồn quặn nhớ nhà cửa, vợ con (Nguyệt dạ – Đỗ Phủ). Nghe tiếng
chuông, gảy khúc đàn, người kỹ nữ ôm nỗi tủi hờn, chìm khuất vào đêm dài lạnh vắng
(Tì bà hành – Bạch Cư Dị)... Có lẽ, các nhà thơ xưa gặp nhau ở cảnh đêm cũng bởi
những nỗi niềm này. Họ mượn đêm làm tín hiệu gợi mở tâm trạng khắc khoải, ưu tư, cô
đơn, sầu nhớ.
Mặt khác, cảnh đêm còn được nhắc đến, khi các nhà thơ gợi ra bao nỗi nhọc nhằn,
bất trắc, khốn khổ của một đời người. Đó là bóng tối mịt mờ, là cơn gió thu ngang tàng
thổi tốc mái nhà rách nát, là trận mưa đêm lạnh lùng xối ướt em thơ (Mao ốc vi thu
phong sở phá ca – Đỗ Phủ). Đó là cơn gió nồm đêm qua, báo hiệu một mùa gặt lúa nộp
thuế, cật lực vẫn hoàn đói rách (Quan nghệ mạch – Bạch Cư Dị). Đó còn là bóng đen

Ở những bài viết về chiến tranh, cảnh mùa xuân tươi sáng gắn liền với ngày vui
chiến thắng (Văn quan quân thu Hà Nam, Hà Bắc – Đỗ Phủ). Nhưng mùa xuân cỏ cây
âm u, hoa đầm nước mắt, lại là cảnh tượng sông núi điêu linh, người người ly biệt
(Xuân vọng – Đỗ Phủ).
Thích khai thác cảnh tượng mùa xuân, các nhà thơ tỏ ra nhạy cảm với thời gian.
Thời gian trôi qua, không có cái đẹp nào vĩnh cửu, không có sự vật nào đứng yên. Bởi
vậy, cảnh xuân càng đẹp, càng sớm lụi tàn. Niềm vui xuân càng mau đến, nỗi buồn càng
đọng lại thấm thía, dài lâu. Mùa xuân trở thành biểu tượng cho giấc mộng êm đềm, tuổi
xuân phơi phới, hạnh phúc và tình yêu nồng thắm. Nhưng, như mùa xuân đất trời, tất cả
đều vụt đến, vụt đi, chỉ kịp cho con người tiếc nuối. Biết rằng bốn mùa vẫn tuần hoàn,
chẳng hiểu sao, không thấy bài thơ nào diễn tả niềm vui khi mùa xuân trở lại.
Rõ ràng, các nhà thơ Đường tỏ ra thích cảnh xuân. Nhưng mỗi khi miêu tả,
họ ít tận hưởng trọn vẹn niềm vui hiện tại. Tất cả đều cùng man mác nỗi buồn tiếc
thương tuổi trẻ, hạnh phúc và quá khứ.
4.3. CẢNH CHIỀU:
Hoàng hôn cũng là cảnh tượng đầy thi vị trong thiên nhiên. Nhiều người thích
ngắm cảnh chiều tà, bởi ánh nắng vàng nhạt, bởi ráng đỏ trời tây,... Cứ ngỡ thơ Đường
sẽ có nhiều bức tranh chiều đắm say, diễm lệ. Nhưng ngược lại, chỉ có dày đặc cảnh
chiều tối, với nỗi buồn giăng kín. Xuất hiện qua 07/49 bài, tỉ lệ 14%, cảnh chiều gợi cho
người đọc nhiều suy tư. Thiên nhiên buổi chiều đổ về hướng tây. Đó là cơn mưa ở núi
phía tây, mây lơ lửng như chuỗi ngày dằng dặc (Đằng vương các – Vương Bột), là mặt
trời lặn xuống dòng sông khói sóng mịt mù (Hoàng hạc lâu – Thôi Hiệu). Đó là cảnh
vườn Lương xơ xác mấy nếp nhà, quạ bay tới tấp (Sơn phòng xuân sự – Sầm Tham), là
mặt đất mây đùn cửa ải xa (Thu hứng I – Đỗ Phủ). Cảnh chiều luôn ở trạng thái vận
động chuyển về đêm. Các nhà thơ hầu như không dùng từ hoàng hôn, mà tập trung biểu
đạt qua từ mộ: nhật mộ (chiều tà, trời tối), mộ đầu Thạch Hào thôn (buổi tối trú ở thôn
Thạch Hào), mộ hôn thần cáo biệt (chập tối đưa dâu, sớm mai từ biệt), cấp mộ châm
(tiếng nện vải về chiều nghe càng mau), Châu liêm mộ quyển Tây sơn vũ (Tây sơn mưa
tối, cuốn rèm châu),... Nó cũng được đối chiếu với sớm mai: sớm còn như tơ xanh,
chiều đã như tuyết (Tương tiến tửu – Lý Bạch ), vợ chồng cưới chiều hôm, vắng sớm

Lúc này, sông nước và dòng chảy triền miên của nó đã trở thành biểu tượng cho dòng
thời gian trôi đi, không bao giờ trở lại. Các nhà thơ soi bóng nước, cảm thấy niềm vui
qua nhanh, hạnh phúc không đến hai lần và tự an ủi mình tạm sống vui với hiện tại.
Có khi, dòng sông lại gợi ấn tượng về con đường đời, về thời cuộc. Lý Bạch nhìn
những người kéo thuyền trên sông, thấy nước đục không uống được mà lòng tan nát, lệ
trào như mưa (Đinh đô hộ ca). Ông nhìn sóng cuộn ngược dòng mà thấy đường xứ
Thục khó đi hơn cả lên trời xanh (Thục đạo nan). Ông chạnh nghĩ đến sông Tang Càn,
sông Thông Hà mà kinh hãi cho cảnh chiến trường phơi xương trắng (Chiến thành nam).
Đỗ Phủ, từ kinh đô về huyện Phụng Tiên, nhận ra dòng sông rộng, không thể vượt được,
có bao người khốn khổ, bao người chết trơ xương (Tự kinh phó Phụng Tiên huyện vịnh
hoài ngũ bách tự). Những dòng sông Trung Quốc đa phần hùng vĩ, sóng to, nước xiết.
Chuyện đi lại ngày xưa nhọc nhằn, cách trở đò ngang. Binh đao loạn lạc kéo dài bao thế
kỷ,... Có lẽ hoàn cảnh sống ấy khiến các nhà thơ dễ hình dung dòng sông như con
đường đời, đầy nỗi khổ đau và tai họa. Dòng sông ấy có một phần nước mắt cảm
thương tuôn chảy của những tấm lòng thơ.
Ở góc độ khác, dòng sông mênh mông khiến cho đất thêm dài, trời thêm rộng. Vũ
trụ bao la bao nhiêu, con người càng bé nhỏ, cô đơn và đau khổ bấy nhiêu. Nỗi tương tư
nát ruột gan của Lý Bạch khiến hồn bay đau khổ trên nước biếc sóng dàn (Trường
tương tư). Liễu Tông Nguyên lại vẽ ra dòng sông buốt giá cùng một nỗi cô đơn:
“ Thiên sơn điểu phi tuyệt
Vạn kinh nhân tung diệt
Cô chu thôi lạp ông
Độc điếu hàn giang tuyết ”
7


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status