BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
-----------------------------
ĐỖ THANH HẢI
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ, THỬ NGHIỆM NHÂN GIỐNG
CÂY XẠ ĐEN (Ehretia asperula Zoll. & Mor.)
BẰNG PHƯƠNG PHÁP GIÂM HOM VÀ GIEO HẠT
TẠI TỈNH HÒA BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Hà Nội, 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
-----------------------------
ĐỖ THANH HẢI
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ, THỬ NGHIỆM NHÂN GIỐNG
CÂY XẠ ĐEN (Ehretia asperula Zoll. & Mor.)
BẰNG PHƯƠNG PHÁP GIÂM HOM VÀ GIEO HẠT
nhiệt đới vùng núi cao ở các tỉnh phía Bắc. Điều kiện tự nhiên đó đã thực sự
ưu đãi cho đất nước và con người Việt Nam một hệ sinh thái phong phú và đa
dạng, một tiềm năng to lớn về tài nguyên cây thuốc nói riêng và tài nguyên
dược liệu nói chung. Theo các tài liêụ về thực vâ ̣t, Việt Nam có khoảng
12.000 loài thực vật bậc cao có mạch. Trong số đó có tới gần 4.000 loài thực
vật bậc cao và bậc thấp được dùng làm thuốc, chúng được phân bố rộng khắp
cả nước. Lợi ích nhiều mặt thu được từ nguồn tài nguyên cây thuốc Việt Nam
thực sự là lớn lao. Vai trò của cây thuốc trong việc chăm sóc sức khoẻ cộng
đồng và đem lại lợi ích kinh tế to lớn cho người dân là điều không thể phủ
nhận, nhưng việc khai thác và sử dụng nguồn nguyên liệu này hiện nay rất
đáng phải lưu ý. Theo ước tính của Bô ̣ Y tế , nguyên liệu làm thuốc có nguồn
-2-
gốc thảo mộc được sử dụng hàng năm tại cộng đồng, tại các cơ sở y tế, phòng
khám đông y, sản xuất và kinh doanh, v.v. khoảng 50.000 tấn/năm thì 1/3
nguyên liệu do thu hái và khai thác tự nhiên, 1/3 do trồng trọt và còn lại do
nhập khẩu chủ yếu từ Trung Quốc , Đài Loan, Hồng Công. Thực trạng hiện
nay do con người phá rừng tràn lan, khai thác dược liệu bừa bãi, chưa có kế
hoạch tái sinh phát triển, nhiều loài cây thuốc mọc tự nhiên cho nhiều loại
dược liệu quý trong rừng đã và đang trở nên bị đe dọa tuyệt chủng, làm cho
vốn quý đa dạng sinh học cây thuốc ngày càng bị cạn kiệt. Do khai thác tài
nguyên cây thuốc kéo dài không có kế hoạch phát triển cộng với nhiều
nguyên nhân tác động khác, nguồn cây thuốc tự nhiên nói chung đều đã bị suy
giảm, nhất là các cây thuốc có giá trị sử dụng phổ biến. Trước kia một số
dược liệu có thể khai thác hàng chục ngàn tấn/năm ở Việt Nam ví dụ như: Ba
kích, Đảng sâm, Hoàng tinh... thì thực tế hiện nay các cây thuốc này đã được
đưa vào sách đỏ vì có nguy cơ bị tuyệt chủng.
Trong vài năm gầ n đây, cây Xa ̣ đen (Ehretia asperula Zoll. & Mor.)
-4-
Chương 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu về chi Cườm rụng (Ehretia P. Browne) trên
thế giới
Chi Cườm rụng (Ehretia P. Browne) thuộc họ Vòi voi (Boraginaceae),
bộ Hoa lốc (Polemoniales), lớp Hai lá mầm (Dycotyledones) [1]. Chi Cườm
ru ̣ng bao gồ m các cây gố hay cây bu ̣i, thường xanh hay ru ̣ng lá, kích thước
trưng biǹ h tới các cây gỗ cao tới 30 m, thân thẳ ng và đường kính tới 65 cm,
có rañ h ở gố c, vỏ mà nâu hoă ̣c xám, có nhiề u vế t nứt nhỏ, vỏ trong thì xố p và
có sơ ̣i, màu vàng nha ̣t. Lá đơn, mo ̣c cách, có cuố ng, mép lá nguyên hay khía
răng cưa, đôi khi lươ ̣n sóng, có gân hình ma ̣ng, không có lá kèm. Cu ̣m hoa ở
đầ u cành hay nách lá, phân nhánh hoă ̣c không, đôi khi sắ p xế p thành da ̣ng
ngù hoă ̣c xim cuô ̣n mô ̣t ngả (xim bo ̣ ca ̣p). Hoa lưỡng tính, mẫu 5; đài rời, xế p
lơ ̣p, có 5 thùy; tràng màu trắ ng hay vàng, hình ố ng hoă ̣c hình chuông, ít khi
hiǹ h phễu, trên có 5 thùy, các thùy mở rô ̣ng hoă ̣c uố n cong gâ ̣p la ̣i. Nhi ̣5, chỉ
nhi ̣ điń h trên ố ng tràng, vươ ̣t ra khỏi tràng, bao phấ n hình thuôn tới hình bầ u
du ̣c thuôn. Bầ u thươ ̣ng, hin
̀ h trứng, 2 ô, mỗi ô chứa 2 noañ . Vòi nhu ̣y ở đin̉ h
bầ u, chia 2 nhánh hoă ̣c xẻ sâu tới giữa vòi nhu ̣y; núm nhu ̣y 2, hình đầ u hoă ̣c
thon dài. Quả ha ̣ch, màu vàng, cam hoă ̣c đỏ nha ̣t, gầ n hình cầ u, nhẵn, vỏ quả
trong khi chín chia 2 ô, mỗi ô 2 ha ̣t hoă ̣c 4 ô, mỗi ô 1 ha ̣t.
Cây thuô ̣c chi Cườm ru ̣ng đươ ̣c đánh giá là sinh trưởng nhanh, những
cây gỗ có thể tăng trưởng 0,6-0,8 cm đường kính mô ̣t năm. Cây E. javanica
trổ hoa khi đã ru ̣ng hế t lá. Các cây thuô ̣c chi Cườm ru ̣ng thu ̣ phấ n nhờ sâu bo ̣.
Về mă ̣t hê ̣ thố ng ho ̣c, đôi khi chi Cườm ru ̣ng la ̣i đươ ̣c tách thành mô ̣t
ho ̣ riêng biê ̣t, ho ̣ Cườm ru ̣ng (Ehretiaceae)
-6-
là thuốc chống viêm nhiễm, vỏ thân và rễ làm thuốc tiêu chảy, kiết lị hay
nước súc miệng để điều trị đau răng. Loài E. resinosa của Đài Loan và
Philippines được sử dụng như là thuốc hạ sốt ở Philippines. Ngoài ra, dịch
chiết của loài này còn được sử dụng trong công nghệ mỹ phẩm làm thuốc
chăm sóc da. Lá của loài E. acuminata giã nhỏ dùng để điều trị sưng tấy.
Gỗ của Ehretia thì không cứng lắm nên chỉ được sử dụng trên quy mô địa
phương, lá của nó còn được sử dụng làm thức ăn gia súc. Hai tác giả E. Boer
và M.S.M. Sosef la ̣i đề câ ̣p tới giá tri ̣ làm gỗ của các loài thuô ̣c chi Cườm
ru ̣ng trong mô ̣t cuố n sách khác về tài nguyên thực vâ ̣t Đông Nam Á [29].
Theo 2 tác giả này, gỗ của nhưng loài thuô ̣c chi Cườm ru ̣ng đươ ̣c sử du ̣ng
trong xây dựng, làm bàn ghế , đồ gia du ̣ng, du ̣ng cu ̣ thủ công và trang trí cho
những loa ̣i thuyề n nhỏ. Gỗ của chi này cũng thích hơ ̣p đề làm những loa ̣i
du ̣ng cu ̣ thể thao đòi hỏi khỏe và gỗ chắ c. Ở Ấn Đô ̣, người ta ăn quả của loài
E. acuminata, còn là thì dùng để chăn nuôi gia súc. Lá non của loài này thì
đươ ̣c người Tibet trô ̣n lẫn với trà khi uố ng. Tuy nhiên những nghiên cứu cu ̣
thể về cây Xa ̣ đen (E. asperula) la ̣i rấ t ít. Nguyên nhân có thể do cây này chỉ
phân bố ở Viê ̣t Nam, Trung Quố c và Malaysia.
1.2. Tình hình nghiên cứu về chi Cườm rụng tại Việt Nam
Chi Cườm ru ̣ng ở Viê ̣t Nam lầ n đầ u tiên đươ ̣c Gagnepain và Courcher
nghiên cứu khi viế t ho ̣ Boraginaceae trong cuố n Thực vâ ̣t Đa ̣i Cương Đông
Dương [32]. Trong đó các tác giả đã mô tả 8 loài thuô ̣c chi Cườm ru ̣ng. Khi
viế t về chi Cườm ru ̣ng ở Nam Viê ̣t Nam, P.H. Hô ̣ đã thố ng kê và mô tả 3 loài
[14]. Năm 1993 và năm 2000, theo P.H. Hô ̣ chi Cườm ru ̣ng ở Viê ̣t Nam bao
gồ m 7 loài [15, 16]. Cả 7 loài đã đươ ̣c ông mô tả ngắ n go ̣n và kèm theo hiǹ h
ve.̃ Năm 2001, theo Võ Văn Chi trong cuố n “Từ điể n cây thuố c” [5] ông la ̣i
cho là chi Ehretia chỉ có 5 loài do loài E. dentate Courch. đươ ̣c chuyể n sang
chi Carmona và E. thyrsiflora Nakai trở thành tên đồ ng nghiã của loài E.
chảy, gan và đau xương. Trong đó, qua điề u tra thực vâ ̣t dân tô ̣c ho ̣c, tác giả
cũng khẳ ng đinh
̣ lá hoă ̣c toàn bô ̣ phầ n trên mă ̣t đấ t của cây Xa ̣ đen và vỏ thân
của cây Cườm ru ̣ng hoa dài (E. longiflora) là đươ ̣c sử du ̣ng nhiề u nhấ t.
-8-
1.3.Tình hình nghiên cứu về cây Xạ đen
Mă ̣c dù trong dân gian, cây Xa ̣ đen đươ ̣c sử du ̣ng làm thuố c từ lâu đời
nhưng rấ t ít các công trình khoa ho ̣c nghiên cứu về cây này. Theo nghiên cứu
sinh Hoàng Quỳnh Hoa, trường Đa ̣i ho ̣c Dươ ̣c Hà Nô ̣i Trong luâ ̣n án tiế n si ̃
“Nghiên cứu mô ̣t số cây thuố c chi Cườm ru ̣ng (Ehretia P. Br.), ho ̣ Vòi voi
(Boraginaceae) ở miề n Bắ c Viê ̣t Nam”, tác giả cũng khẳ ng đinh
̣ tên khoa ho ̣c
của cây Xa ̣ đen là Ehretia asperula Zoll. & Mor., mô tả chi tiế t các đă ̣c điể m
hiǹ h thái và ngoa ̣i da ̣ng của cây này dựa theo mẫu thu đươ ̣c từ tin̉ h Hòa Biǹ h
với các đặc điểm: Cây bu ̣i trườn, cao 3-10 m; cành màu nâu xám, lúc non có
lông, khi già nhắ n. Lá đơn, mo ̣c cách; cuố ng lá dài khoảng 1 cm, hơi vặn;
phiế n lá hình bầ u du ̣c, dài 10-12 cm, rô ̣ng 5-6 cm, gố c tròn hay hơi thuôn,
mép nguyên hoă ̣c khía răng cưa, chóp lá nho ̣n; nhẵn cả 2 mă ̣t hoă ̣c mă ̣t trên
có lông ở các gân; gân bên 4-5 đôi, phủ lông cứng, dựng đứng. Cu ̣m hoa xim
ở đỉnh cành, rô ̣ng 4-6 cm, có lông. Lá bắ c hiǹ h dải đế n hình ngo ̣n giáo, dài 310 mm. Hoa có cuố ng dài 2-2.5 mm; đài màu xanh, cao 1,5 mm, 5 thùy hình
trứng, có lông. Tràng màu trắ ng, da ̣ng phễu, dài 3,5-4 mm, gố c rô ̣ng 1,5 mm,
ho ̣ng rô ̣ng 5 mm, 5 thùy hình trứng hoă ̣c hình tam giác, dài 2-2,5 mm, khi nở
uố n cong gâ ̣p ra ngoài. Nhi ̣5, dài 3,5- 4 mm, đính cách gố c ố ng tràng khoảng
1 mm, bao phấ n dài khoảng 1 mm, hình mũi tên. Bầ u gầ n hình cầ u. Vòi nhu ̣y
dài 4-4,5 mm, xẻ 2 nhánh dài 1 mm. Quả ha ̣ch, màu vàng cam đế n đỏ, đường
kiń h 7-8 mm, lúc chiń mở thành bố n ha ̣ch, mỗi ha ̣ch chứa 1 ha ̣t.
Thông tin khác về phân loại thực vật: Nguyễn Văn Nam, trong luận
ha ̣t hoă ̣c bằ ng hom. Trong cuố n sách này, E. anacua là mô ̣t trong những hàng
trăm cây cảnh thuô ̣c vùng Texas (My)̃ đươ ̣c tác giả Miller giới thiêụ cũng như
đưa ra phương pháp nhân giố ng cây này bằ ng ha ̣t và bằ ng hom rễ [46]. Boer
và Sosef (1998) khi viế t về chi Ehretia trong cuố n “Timber trees: Lesserknown timber” có đề câ ̣p tới nhân giố ng loài E. acuminata bằ ng ha ̣t [29].
Theo các tác giả tỉ lê ̣ nảy mầ m của ha ̣t E. acuminata là 50% khi không đươ ̣c
- 10 -
xử lý. Trái la ̣i tỉ lê ̣ nảy mầ m là 90% nế u trước khi gieo ha ̣t đươ ̣c xử lý bằ ng
axit sulphuaric nồ ng đô ̣ thấ p trong 10 phút.
1.4. Cơ sở khoa học của nhân giống thực vật bằng hom
Giâm hom là một phương pháp nhân giống sinh dưỡng sử dụng thân
cây (bao gồm các dạng thân như thân củ, thân rễ, thân cành), cành và lá, rễ
cây để tạo ra cây mới gọi là cây hom. Trong đó nhân giống bằng hom thân,
hom cành đang được phát triển nhanh và được áp dụng rộng rãi vào sản xuất
lâm nghiệp như đối loài liễu (Salix), bạch đàn (Eucalyptus), keo lai (Acacia
mangium x Acacia auriculiformis)… Cây hom có đặc tính di truyền giống
như cây mẹ. Nhân giống bằng hom có hệ số nhân giống lớn, giữ được đặc
tính tốt của cây mẹ và tương đối rẻ tiền nên được sử dụng rộng rãi trong nhân
giống cây trồng, cây cảnh và cây ăn quả. Nhân giống bằng hom là làm cho
hom ra rễ, còn thân cây sẽ được hình thành từ các chồi bên hoặc chồi bất
định. Đặc điểm ra rễ phụ thuộc vào đặc điểm di truyền của loài và các nhân tố
ảnh hưởng bên ngoài trong quá trình giâm hom. Do đó, khi giâm phải tạo mọi
điều kiện thuận lợi nhất để cho hom ra rễ.
Rễ bất định là rễ sinh ra ở bất kỳ bộ phận nào của cây ngoài hệ rễ của
nó. Có hai loại rễ bất định là rễ tiềm ẩn và rễ mới sinh. Rễ tiềm ẩn là rễ có
nguồn gốc tự nhiên trong thân, cành nhưng chỉ phát triển khi đoạn thân hoặc
cành đó tách rời khỏi cây, còn rễ mới sinh được hình thành khi cắt hom và là
hậu quả của phản ứng với vết cắt.
Nhiều thí nghiệm giâm hom với các cây cá thể đã chứng tỏ có cây cho
tỷ lệ hom ra rễ rất cao, còn có cây hầu như không ra rễ. Ngay từ năm 1940,
Deuber đã cho biết là ở một số loài cây lá kim, tỷ lệ ra rễ có biến động lớn từ
0% - 100%. Theo Simsiri (1991) ở loài cây keo lá tràm, cây cá thể có ảnh
hưởng rõ rệt tới khả năng ra rễ của hom (60% - 80%). Trong thí nghiệm của
Lambeth et al. (1989) với bạch đàn E.grandis ở Colombia tỷ lệ hom ra rễ biến
động từ 0% - 100% tùy theo cây mẹ. Cụ thể trong 950 cây trội được chọn để
- 12 -
nhân giống tiếp có 10 cây trội có hom chồi gốc không ra rễ, còn 940 cây trội
có hom ra rễ ở tỷ lệ khác nhau, chỉ có 460 cây trội được sử dụng vào khảo
nghiệm dòng vô tính, vì các cây này có tỷ lệ hom ra rễ đạt từ 60% trở lên. Vì
vậy chọn dòng vô tính sử dụng vào nhân giống đại trà người ta sử dụng
ngưỡng tỷ lệ ra rễ 60% trở lên thì nhân giống hom mới đạt hiệu quả kinh tế
[22].
- Chất điều hoà sinh trưởng:
Trong các chất này, Auxin được coi là quan trọng nhất trong qúa trình
ra rễ của hom. Song nhiều chất khác nhau tác động cùng auxin và hoạt tính
của auxin cũng tồn tại một cách tự nhiên trong các mô của hom giâm và tác
động đến quá trình ra rễ của chúng. Vì vậy, khi giâm hom để tăng hiệu quả
việc giâm hom, đặc biệt là với những loài cây khó ra rễ cần sử dụng các chất
điều hoà sinh trưởng để tăng tỷ lệ ra rễ của hom. Ngày nay sử dụng các chất
điều hoà sinh trưởng hầu như không thể thiếu trong nhân giống bằng hom.
Để hom ra rễ với tỷ lệ cao thì mỗi loài cần có loại chất, nồng độ và thời gian
xử lý thuốc thích hợp. Các chất kích thích thường dùng hiện nay là IAA (Axit
Indol - Axetic), IBA (Axit Indol - Butiric), NAA (Axit Napthalen - Axetic).
Với Bạch đàn trắng thí nghiệm cho thấy IBA là chất cho tỷ lệ ra rễ cao nhất
(93,8%) (Lê Đình Khả, Nguyễn Hoàng Nghĩa, 1977). Ngoài ra, việc xử lý
loài có tính thời vụ rõ rệt. Thời vụ giâm gắn liền với diễn biến thời tiết, mùa
sinh trưởng của cây và trạng thái sinh lý của cành. Hầu hết các cây sinh
trưởng mạnh trong mùa xuân hè (mùa mưa). Vì thế, mùa mưa là mùa giâm có
tỷ lệ ra rễ cao ở nhiều loài cây, mùa đông thường cho tỷ lệ ra rễ thấp. Tỷ lệ ra
rễ ở loài Keo lai trong mùa giâm hom (tháng 4 – tháng 10) thường có tỷ lệ ra
rễ 80 – 90%, song khi đảm bảo các điều kiện cần thiết cho ra rễ của hom giâm
thì trong các tháng 11 – 12 cũng chỉ có thể đạt tỷ lệ ra rễ 60 – 70%, còn giâm
hom vào tháng 1 thì hoàn toàn không ra rễ [17]. Tuy nhiên, với từng loài cụ
thể cần có những nghiên cứu thực nghiệm để có kết quả cụ thể.
- 14 -
- Giá thể cắm hom: Một số loại giá thể thông dụng như cát tinh, mùn
cưa, xơ dừa băm nhỏ, hoặc hỗn hợp đất, mùn và phân. Giá thể phải không
nhiễm bệnh, rễ thoát nước. Giâm hom cho Mắc ca dùng giá thể 1/3 trấu + 1/3
rơm băm nhỏ ủ hoai + 1/3 cát vàng là thích hợp nhất vừa cho tỷ lệ ra rễ của
hom cao nhất (75,5%) và chất lượng bộ rễ trên cây hom là tốt nhất (Chỉ số ra
rễ: 39,8) [11].
- Điều kiện ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm của không khí và của giá thể: Các
nhân tố này đều có ảnh hưởng quan trọng đến tỷ lệ ra rễ. Tuy nhiên, chúng tác
động mang tính tổng hợp chứ không riêng lẻ. Vì vậy, cần chú ý việc che bóng
và các chế độ chăm sóc để đảm bảo nhiệt độ và độ ẩm thích hợp. Theo
Tewary, ánh sáng tán xạ khoảng 40-50% là phù hợp cho hom nhưng cá biệt
như Nhài nhật có thể ra rễ cả khi che bóng hoàn toàn trong 30 ngày. Các loài
cây nhiệt đới cần nhiệt độ thích hợp là 28 – 33oC (Longman, 1993).
Năm 2009, Bùi Thanh Nam làm khoá luận tốt nghiệp Đại học với đề tài
“Nghiên cứu đặc điểm sinh học, đặc điểm nơi mọc và tìm hiểu kỹ thuật gây
trồng loài cây Xạ đen (Celastrus hinsii) ở Vườn Quốc gia Cúc Phương”.
Trong luận văn, tác giả đã sơ bộ thử nghiệm nhân giống cây Xạ đen bằng hạt
[10].
- 16 -
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG, MỤC TIÊU, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Cây Xạ đen (Ehretia asperula Zoll. & Mor.
2.2. Địa điểm nghiên cứu: tỉnh Hòa Bình
2.3. Mục tiêu nghiên cứu
2.3.1. Mục tiêu tổng quát
Nhân giống cây Xạ đen bằng phương pháp giâm hom và bằng hạt nhằm
tìm được phương pháp nhân giống tối ưu cây Xạ đen.
2.3.2. Mục tiêu cụ thể
- Nắm được hiện trạng phân bố và đặc điểm phân bố của cây Xạ đen tại
tỉnh Hòa Bình.
- Chọn công thức tối ưu cho việc nhân giống cây Xạ đen bằng phương
pháp giâm hom và gieo hạt tại tỉnh Hòa Bình.
2.4. Nội dung nghiên cứu
2.4.1. Điều tra về đặc điểm phân bố của cây Xạ đen tại tỉnh Hòa Bình
- Hiện trạng phân bố trong tự nhiên, tình hình khai thác và sử dụng cây
Xạ đen tại tỉnh Hòa Bình.
- Đặc điểm phân bố (theo đai cao, theo dạng sinh cảnh).
2.4.2. Nghiên cứu thử nghiệm kỹ thuật nhân giống cây Xạ đen
- Nhân giống bằng giâm hom:
+ Nghiên cứu về tuổi hom giâm (hom đoạn ngọn, hom đoạn giữa, hom
đoạn gốc)
+ Nghiên cứu về loại và nồng độ chất kích thích ra rễ (2 loại chất kích
Mẫu biểu 2.1. Biểu điều tra đặc điểm phân bố theo địa giới hành chính
Tên xã
Số điểm
Số điểm
Tỷ lệ %
Số cá
% theo
Độ cao
Loài cây
điều tra
gặp Xạ
gặp Xạ
thể bắt
số cá
khu vực
Giá thể được sử lý bằng phun dung dịch Ben lát – C với nồng độ 3%
trước khi giâm hom 1- 2 ngày.
- Khu vực giâm hom: Khu giâm hom được xây dựng có mái che bằng
lưới nilon che nắng có độ che 60% cao cách mặt đất 2,2 m và chung quanh
có bao che bằng bạt nhựa trong đến độ cao 1,5 m. Lồng giâm hom làm bằng
tre hoặc sắt có kích thước cao 1,4m rộng 1,2m, được che phủ bằng ni lon
trắng. Luống giâm hom cách nhau 40 cm và có đường đi lại thuận tiện. Nền
luống giâm hom có chiều rộng 1 – 1,2m, chiều dài 5m và chiều cao 6 – 10
cm, dễ thoát nước.
1,4m
1,2m
Hình 2.1: Kích thước lồng giâm hom
- Giâm hom Xạ đen được thực hiện 2 đợt tại vườn ươm Trung tâm
giống cây trồng tỉnh Hòa Bình :
+ Đợt 1: Vụ xuân hè tháng 4/2011.
+ Đợt 2: Vụ thu tháng 7/2011.
- Sơ đồ bố trí thí nghiệm như sau:
- 20 -
Giâm hom vụ xuân hè tháng 4/2011
Hom giâm
trên cát
thô sạch
Hom giâm
trên đất
đóng bầu
T3ĐC
T1100
T1200
T1300
T1TTG
T1ĐC
T2100
T2200
T2300
T2TTG
T2ĐC
T3100
T3200
T3300
T3TTG
T3100
T3200
T3300
T3TTG
T3ĐC
T1100
T1200
T1300
T1TTG
T1ĐC
T2100
T2200
T2300
T2TTG
T2ĐC
đếm là 45 ngày sau giâm hom.
Số liệu thu thập được ghi chép theo biểu mẫu 2.2
Mẫu biểu 2.2. Biểu theo dõi tình hình sinh trưởng hom giâm
Công
thức/
Nồng
độ
Số thứ
tự hom
Ngày
giâm
Số ngày
bật chồi
Số
ngày
ra rễ
Số
Số
Chiều
hom ra lượng
dài
rễ
rễ/hom rễ(cm)/
hom
gieo hạt
đầu nảy mầm
thúc nảy mầm
mầm
1
2
3
- Xác định tỷ lệ sống của cây con khi đưa vào bầu với thời gian:
+ Cấy cây khi cây mầm được 1 tháng tuổi
+ Cấy cây khi cây mầm được 2 tháng tuổi.
+ Che bóng 50% và 70%.
Cây sống sau 2 tháng cây vẫn xanh tốt được xác định là sống. Mỗi công
thức thí nghiệm là 30 cây mầm và được lặp lại 3 lần. Các công thức thí
nghiệm với tổng số 360 cây mầm.
Số liệu thu thập được ghi chép theo biểu mẫu 2.4
- 23 -
Mẫu biểu 2.4. Biểu theo dõi tỷ lệ cây sống.
TT
Công thức