1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản cung cấp nhiều loại sản phẩm
thiết yếu cho đời sống xã hội, là thị trường rộng lớn của nền kinh tế, cung cấp
nguồn nhân lực và tạo nên tích luỹ ban đầu cho sự nghiệp phát triển của đất nước.
Lý luận và thực tiễn đã chứng minh rằng, nông nghiệp đóng vai trò to lớn trong sự
phát triển kinh tế. Hầu hết các nước đều phải dựa vào sản xuất nông nghiệp để tạo
sản lượng lương thực, thực phẩm cần thiết đủ nuôi sống dân tộc mình và tạo nền
tảng cho các ngành, các hoạt động kinh tế khác phát triển.
Việt Nam là một nước nông nghiệp với điểm xuất phát thấp, trên 70% dân số
sống ở nông thôn và 56% lao động xã hội làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, tạo
ra 68% tổng giá trị kinh tế nông thôn, năng suất khai thác ruộng đất và năng suất lao
động còn thấp… Để giải quyết những vấn đề này thì thực hiện chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp có ý nghĩa vô cùng quan trọng.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở nước ta nhằm tạo dựng một ngành
nông nghiệp có cơ cấu kinh tế hợp lý, qua đó phát huy mọi tiềm năng sản xuất, phát
triển nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá lớn, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập
và cải thiện mức sống cho người nông dân. Do đó, thúc đẩy quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên phạm vi cả nước cũng như với từng địa phương là
rất cần thiết.
Ý Yên là một huyện chiêm trũng thuộc tỉnh Nam Định với trên 95% dân cư
sống ở nông thôn và 73% lao động nông nghiệp. Đời sống của nông dân còn khó
khăn, thu nhập thấp, tỷ lệ hộ nghèo trên 7%. Trong những năm qua, vấn đề chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tại huyện luôn được quan tâm và từng bước hoàn
thiện. Tuy nhiên, thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tại huyện Ý
Yên còn chậm, cơ cấu nông nghiệp còn bất hợp lý, trồng trọt vẫn chiếm tỷ trọng
cao, tình trạng độc canh cây lương thực vẫn tồn tại trong khi đó nhiều tiềm năng
phát triển chăn nuôi và thuỷ sản chưa được khai thác tốt. Thực trạng này đòi hỏi
nghiệp ở một số nước có thể rất hữu ích cho Việt Nam trong quá trình CNH, HĐH
trong nông nghiệp, nông thôn hiện nay.
Dưới đây là kinh nghiệm trong quá trình chuyển dịch CCKT nông nghiệp ở
một số quốc gia.
1.1.1.1. Kinh nghiệm của Thái Lan
Thái Lan vốn là nước độc canh cây lúa nước đã vươn lên với tốc độ tăng
trưởng nhanh gắn với đa dạng hóa trong sản xuất nông nghiệp. Thái Lan chủ trương
ưu tiên đặc biệt cho việc chuyển dịch từ độc canh cây lúa sang đa dạng cây con
trong nông nghiệp để thúc đẩy nhanh nền kinh tế quốc dân.
Cụ thể, Thái Lan đã chú trọng mở mang đất đai, đầu tư sang sản xuất cây
ngũ cốc, cây ăn quả, chăn nuôi, lâm nghiệp, đánh cá, hoa, cây cảnh... Tỷ trọng nông
4
nghiệp trong GDP giảm từ 50,1% năm 1951 xuống còn 14,2% năm 1990. Giá trị
gạo trong tổng giá trị xuất khẩu từ 45% năm 1950 giảm xuống còn 4,4% năm 1992.
Thái Lan cũng đã giảm tỷ trọng sản phẩm nông nghiệp từ 40,9% xuống còn 25%.
Tỷ trọng lao động trong nông nghiệp cũng giảm từ 83,8% xuống còn 74,4%.
Thời kỳ từ năm 1987 đến 1996, mức tăng trung bình của nông nghiệp là
3,4%. Cũng trong thời gian ấy, tỷ trọng của khu vực nông nghiệp trong GDP giảm
từ 40% xuống còn 12% và tỷ trọng lao động nông nghiệp trong tổng số lao động cả
nước giảm xuống còn 60%. Đặc điểm của nông nghiệp Thái Lan hiện nay là nông
nghiệp sản xuất hàng hóa hướng ngoại. Việc chuyển sang các mặt hàng xuất khẩu đã
làm thay đổi bản chất của nông nghiệp từ sản xuất nhỏ sang sản xuất lớn.
Điều quan trọng là Thái Lan ứng dụng nhanh các thành quả khoa học công nghệ (KHCN) sinh học, hóa học, thủy lợi cũng như CNH nhanh ngành nông
nghiệp: cơ giới hóa làm đất, thu hoạch, chế biến... Sản phẩm nông nghiệp có sức
cạnh tranh ở thị trường trong nước và trên thế giới do chất lượng cao, giá thành
thấp. Chính phủ Thái Lan chủ động phát triển nông nghiệp, nâng cao khả năng
cạnh tranh với nước ngoài, mở rộng thị trường xuất khẩu, khuyến khích nông dân
nông nghiệp cho phù hợp. Năm 1975, Nhật Bản thực hiện chính sách phát triển
nông nghiệp toàn diện, lấy an ninh lương thực làm mục tiêu chính. Đến năm 1979,
sản xuất gạo dư thừa, có gạo bán trên thị trường nội địa 6 triệu tấn. Các nông sản
hàng hóa khác có sản lượng tăng khá (rau, quả, sữa, thịt...). Tất cả những thành tựu
trên là do chuyển đổi CCKT nông nghiệp và thực hiện CNH nông nghiệp, nông
thôn đem lại [2, tr.40 - 41].
Từ năm 1990, Nhật Bản chủ trương chuyển 830.000 ha lúa sang sản xuất các
cây con khác có hiệu quả hơn. Hiện nay, Nhật trở thành nước nhập khẩu nông sản
lớn nhất thế giới, với khối lượng nông sản nhập khẩu hàng năm là gần 20 triệu tấn
ngô; 5,5 triệu tấn lúa mỳ; 5 triệu tấn đậu tương; gần 2 triệu tấn đường; trên 700
nghìn tấn thịt và hàng triệu tấn rau quả.
Nhật Bản đang nghiên cứu thực thi đường lối mới phát triển nông nghiệp,
trên cơ sở củng cố sản xuất nông nghiệp trong nước và xuất khẩu sản xuất nông
nghiệp ra nước ngoài. Ở trong nước, Nhật tập trung vào sản xuất một số loại nông
6
sản có giá trị kinh tế cao, sử dụng ít đất và lao động, thực hiện nông nghiệp sinh
thái, phát triển nông nghiệp du lịch và các hoạt động ngoài nông nghiệp để tăng thu
nhập cho nông dân. Mặt khác, Nhật tích cực thực thi đường lối xuất khẩu vốn, công
nghệ, thiết bị, vật tư nông nghiệp ra nước ngoài theo hướng chú trọng các nước
đang phát triển, có đất đai và lao động rẻ để sản xuất ra các loại nông sản nhập khẩu
vào Nhật Bản và xuất khẩu sang các nước thứ ba.
Quá trình điều chỉnh CCKT nông nghiệp của Nhật Bản là nhờ sự nhạy bén
nắm bắt các quy luật phát triển của nền kinh tế thị trường trong mỗi thời kỳ nhất định.
1.1.1.3. Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trung Quốc là nước có rất nhiều điểm giống nước ta về tính chất của sản
xuất nông nghiệp, bước chuyển từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế
hàng hóa, có định hướng của Nhà nước. Những bài học thành công trong quá trình
khai thác hết nguồn lao động phụ. Từ năm 1979 đến 1991 bình quân hàng năm giá
trị trồng trọt tăng 4,6%; nghề rừng tăng 5%; chăn nuôi tăng 10,9%; các ngành nghề
khác tăng 13%.
- Hai là, phát triển xí nghiệp Hương trấn. Năm 1984, ở nông thôn Trung
Quốc đã xuất hiện công nghiệp Hương trấn. Khái niệm “xí nghiệp Hương trấn” là
tên gọi các doanh nghiệp của các công xã, đội sản xuất trước đây, cũng như những
doanh nghiệp mới bước đầu thành lập ở các vùng nông thôn. Năm 1983 tỷ lệ sản
phẩm của “xí nghiệp Hương trấn” đã chiếm 2/3 tổng khối lượng sản phẩm ở nông
thôn và chiếm 1/3 tổng sản phẩm xã hội của cả nước. Tỷ lệ sản phẩm năm 1993
chiếm 60% tổng sản lượng công nghiệp cả nước. Xí nghiệp Hương trấn do nông
dân góp vốn xây dựng, tích lũy, từng bước phát triển, cung ứng nguyên liệu và mua
bán sản phẩm chủ yếu thông qua thị trường, lao động thuê mướn rộng rãi trên thị
trường lao động, tự hạch toán không lệ thuộc ngân sách Nhà nước.
Thành công của công nghiệp Hương trấn là phát triển công nghiệp địa
phương, tạo động lực để chuyển nông thôn thuần túy nông nghiệp sang nông thôn
có CCKT nông - công - dịch vụ, góp phần đô thị hóa nông thôn, gắn nông nghiệp
với công nghiệp chế biến, dịch vụ trên địa bàn nông thôn, phân hóa mật độ công
nghiệp tập trung ở thành thị gây ô nhiễm môi trường.
8
Những hạn chế của xí nghiệp Hương Trấn là phân tán đầu tư, chiếm nhiều
đất đai. Khác với nông nghiệp, công nghiệp đòi hỏi tập trung để tiết kiệm đất đai
canh tác, đầu tư kết cấu hạ tầng, có lợi cho phân công hợp tác, phổ biến kỹ thuật,
điều hòa tư liệu sản xuất, tiền vốn, do không có khả năng đầu tư công nghiệp hiện
đại nên sản phẩm phần lớn kém chất lượng, khó cạnh tranh thị trường, dẫn đến khó
tiêu thụ.
- Ba là, xây dựng hệ thống dịch vụ xã hội ở nông thôn: Ngoài nông nghiệp,
công nghiệp Hương trấn, hệ thống dịch vụ ở nông thôn đã hình thành như một
phần các nước Châu Á trong những năm qua, hiện nay và cả sau này vẫn là kinh tế
tư nhân cá thể, sản xuất hàng hóa lớn kết hợp với kinh tế HTX. Hình thức tổ chức
sản xuất theo mô hình kinh tế trang trại chuyên môn hóa và hộ nông dân cá thể,
trong đó xu hướng chuyển dịch trong nội bộ kinh tế tư nhân cá thể là tăng tỷ trọng
kinh tế trang trại, giảm tỷ trọng kinh tế cá thể, tiểu nông để phù hợp với yêu cầu sản
xuất hàng hóa lớn. Kinh tế tập thể theo mô hình HTX dịch vụ kinh tế hộ tiếp tục
phát triển mạnh theo hướng đa dạng hóa ngành nghề để đáp ứng yêu cầu sản xuất
nông nghiệp và kinh tế nông thôn ngày càng tăng.
1.1.1.5. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Qua nghiên cứu quá trình chuyển dịch CCKT nông thôn ở các nước, có thể rút
ra một số bài học cho quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp ở nước ta như sau:
- Một là, để xây dựng một nền công nghiệp hiện đại trong thời kỳ đầu cần tập
trung phát triển nông nghiệp, coi đó là điều kiện cơ bản để ổn định đời sống nhân
dân, tạo nguồn tích lũy từ nội bộ nền kinh tế cho công cuộc CNH, HĐH. Nghiên
cứu kinh nghiệm ở các nước và lãnh thổ cho thấy, để phát triển kinh tế phải dựa vào
tiềm năng thế mạnh của nền kinh tế dân tộc, khai thác và sử dụng có hiệu quả các
nguồn lực sẵn có để phát triển. Hầu như chính phủ các nước đều có chủ trương bắt
đầu từ sản xuất nông nghiệp, lấy tăng trưởng nông nghiệp làm cơ sở để ổn định đời
sống xã hội, tạo nguồn tích lũy ban đầu cho CNH, HĐH. Nhật Bản lấy việc thu thuế
của nông dân để chuyển thặng dư từ nông nghiệp cho công nghiệp. Để làm được
điều đó, trong cơ cấu ngành nông nghiệp phải chuyển dịch theo hướng đa dạng hóa,
phá bỏ độc canh, phát triển nông nghiệp toàn diện, đưa chăn nuôi, thủy sản thành
ngành sản xuất chính. Chính sách đa dạng hóa nông nghiệp, lấy nông nghiệp làm
điểm tựa đã làm cho thu nhập của nông dân tăng lên, giúp họ tham gia vào thị
10
trường mua sắm hàng hóa, làm tăng cầu, góp phần tiêu thụ hàng hóa công nghiệp,
tạo lập được thị trường trực tiếp cho các ngành công nghiệp nội địa.
chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau biểu hiện bằng những tỷ lệ nhất định.
Không thể có một chính sách riêng rẽ nào lại có thể tạo nên được sự hình thành và
hoàn thiện cơ cấu kinh tế nông thôn.
Trong Hội nghị lần thứ VII Ban Chấp hành Trung ương khóa X chỉ rõ:
“Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giữ vững ổn định chính trị,
bảo đảm an ninh, quốc phòng… Các vấn đề nông nghiệp, nông thôn phải được giải
quyết đồng bộ gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa đất nước… Giải quyết
vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ của hệ thống chính trị và toàn
xã hội” [10, tr.123 - 124]. Trong nghị quyết, trên cơ sở khẳng định CNH, HĐH
nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình CNH,
HĐH đất nước, Đảng ta đã xác định rõ giữa nông nghiệp, nông dân, nông thôn có
mối quan hệ mật thiết với nhau, trong mối quan hệ đó nông dân được coi là “chủ
thể” của quá trình phát triển.
Theo Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị
lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn,
có đến 48 quy hoạch, chương trình, đề án cụ thể đã được phân công cho các Bộ,
ngành triển khai. Trong số này phải kể đến các đề án như: thí điểm bảo hiểm nông
nghiệp, phát triển thông tin, truyền thông nông thôn, phát triển y tế nông thôn, cơ
chế, chính sách hỗ trợ giảm nghèo bền vững cho các huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao,
phát triển mô hình liên kết giữa hộ nông dân với các thành phần kinh tế ở nông
thôn, phát triển nông nghiệp công nghệ cao…
Những chính sách của Đảng và Nhà nước ở trên là một tiền đề mở ra cho nền
nông nghiệp một hướng đi mới, tạo điều kiện cho sự chuyển dịch CCKT nông
nghiệp nước ta có hiệu quả hơn.
Quan điểm của Việt Nam về chuyển dịch CCKT nông nghiệp có thể được
mô tả khái quát trên một số điểm chính sau đây:
12
13
mía đường ở miền Trung, Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long, chè ở trung
du miền núi phía bắc, cà phê ở Tây Nguyên, cao su ở Đông Nam Bộ, nuôi trồng
thủy sản ở nhiều tỉnh ven biển...
- Năng lực công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản tăng đáng kể.
- Cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn đã dịch chuyển theo hướng khai
thác lợi thế đặc thù của mỗi vùng sinh thái.
- Tỷ trọng các loại cây trồng trong ngành trồng trọt cũng có những chuyển
dịch theo hướng tích cực. Tỷ trọng của cây lương thực giảm từ 60,7% (năm 2000)
xuống 56,4% (2009), cây công nghiệp năm 2000 là 24% tăng lên 25,6% năm 2009; cây
rau đậu từ 7% (2000) lên 8,8% (2009); cây ăn quả từ 6,7% (2000) lên 7,8% (2009).
- Các làng nghề ở nông thôn được khôi phục và phát triển, mở ra nhiều việc
làm, nhất là thu hút nguồn lao động tại chỗ khi nông nhàn. Nhiều tiến bộ kỹ thuật và
công nghệ mới đã được áp dụng.
- Cơ sở vật chất, kỹ thuật được cải thiện đáng kể, các hộ sản xuất trở thành
đơn vị kinh tế tự chủ, các hợp tác xã kiểu mới được hình thành, sản xuất trang trại
xuất hiện và phát triển khá nhanh.
Tóm lại, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn thời
gian qua đã có những bước chuyển biến tích cực từ một nền nông nghiệp tự cấp tự
túc sang nền nông nghiệp hàng hóa phát triển toàn diện kinh tế nông thôn, làm tiền
đề cho quá trình CNH, HĐH.
Những tồn tại, hạn chế
Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu như trên nhưng quá trình phát triển kinh tế
và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn nước ta hiện còn nhiều tồn tại:
- Tốc độ chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong tổng thể nền kinh tế và
trong nội bộ ngành diễn ra chậm: Cơ cấu kinh tế nông thôn còn nặng về nông
nghiệp (khoảng 60%). Tỷ trọng của sản xuất nông nghiệp trong cơ cấu nông, lâm,
ngư nghiệp còn rất lớn (trên 70% giá trị sản xuất toàn ngành). Cơ cấu cây trồng vật
khích được triệt để các thành phần.
- Do khủng hoảng kinh tế Đông Nam Á và việc hiệu chỉnh tỷ giá hối đoái
chưa mềm dẻo đã ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của hàng Việt Nam.
15
1.2. Cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng
CNH - HĐH
1.2.1. Nông nghiệp và vai trò của nông nghiệp trong nền kinh tế
1.2.1.1. Khái niệm nông nghiệp
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để
trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao
động chủ yếu để tạo ra lương thựcthực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp.
Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều lĩnh vực: trồng trọt,
chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lĩnh vực: lâm nghiệp,
thuỷ sản.
- Ngành nông nghiệp (theo nghĩa rộng) là: tổ hợp các ngành gắn liền với quá
trình sinh học gồm nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp. Khi phân tích đánh giá
cơ cấu kinh tế thì tiêu chí, cơ cấu ngành thường được xem trọng nhất bởi vì nó phản
ánh trình độ phát triển của phân công lao động xã hội. Lực lượng sản xuất càng phát
triển, phân công lao động xã hội càng sâu sắc, tỷ mỉ thì càng có nhiều ngành kinh tế
hình thành và phát triển đa dạng khác nhau. Ở nước ta cho đến nay, về cơ bản vẫn là
một nước nông nghiệp cho nên sự phát triển của nó giữ vai trò quyết định trong
kinh tế nông thôn, đồng thời là một trong những ngành cơ bản của nền kinh tế quốc
dân. Vì vậy, nó vừa chịu sự chi phối của nền kinh tế quốc dân vừa gắn bó chặt chẽ
với các ngành khác, vừa phản ánh những nét riêng biệt mang tính đặc thù của một
ngành mà đối tượng sản xuất là những cơ thể sống.
- Ngành nông nghiệp (theo nghĩa hẹp): bao gồm trồng trọt và chăn nuôi.
Trong trồng trọt được phân ra trồng cây lương thực, cây công nghiệp, cây ăn quả…
nhiều loại nguyên liệu cho các ngành công nghiệp, đặc biệt là ngành công nghiệp
chế biến nông sản. Sự phát triển của công nghiệp chế biến, ở mức độ rất lớn phụ
thuộc vào quy mô và tốc độ của sản xuất nông nghiệp. Tính phụ thuộc này sẽ càng
tăng lên khi nhu cầu sản xuất và xuất khẩu nông sản với kỹ thuật cao tăng lên.
17
- Nông nghiệp, nông thôn là thị trường rộng lớn tiêu thụ sản phẩm cho nền
kinh tế quốc dân.
- Nông nghiệp, nông thôn là nguồn cung cấp nhân lực cho các ngành kinh
tế xã hội phát triển. Quá trình phát triển kinh tế ở hầu hết các nước đều gắn liền
với sự chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ. Sự
nghiệp CNH, HĐH ở nước ta đòi hỏi nguồn lao động không ngừng được bổ sung
từ khu vực nông nghiệp.
- Nông nghiệp phát triển tạo điều kiện để chuyển các yếu tố sản xuất sang
khu vực phi nông nghiệp.
1.2.1.3. Những đặc điểm cơ bản của sản xuất nông nghiệp Việt Nam
Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất chủ yếu của xã hội.
Sản xuất nông nghiệp có những đặc điểm riêng mà các ngành sản xuất khác không
thể có, đó là:
- Trong nông nghiệp ruộng đất vừa là tư liệu sản xuất chủ yếu, vừa là tư liệu
sản xuất đặc biệt.
Ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu vì nó có vai trò quyết định (trực tiếp
hay gián tiếp) tạo ra các loại nông sản phẩm. Không có ruộng đất thì về cơ bản
không thể tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh nông nghiệp.
Ruộng đất là tư liệu sản xuất đặc biệt vì khác với các loại tư liệu sản xuất
khác, nếu biết sử dụng cải tạo, bảo vệ và bồi dưỡng hợp lý thì ruộng đất chẳng
những không bị hao mòn, chất lượng không giảm đi qua quá trình sử dụng mà còn
tốt hơn, tức là độ phì nhiêu, độ màu mỡ ngày càng tăng lên.
tự nhiên, đặc biệt là điều kiện đất đai, khí hậu, nguồn nước,…
Ngoài những đặc điểm chung của sản xuất nông nghiệp nêu trên, nông
nghiệp nước ta còn có những đặc điểm riêng, như:
- Sản xuất nông nghiệp ở nước ta phổ biến là sản xuất nhỏ, cơ cấu nông
nghiệp nước ta đang chuyển dịch theo yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa và phát triển nền nông nghiệp hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã
hội chủ nghĩa.
19
- Trong nông nghiệp nước ta, bình quân ruộng đất theo đầu người ít, sức lao
động nông nghiệp nhiều lại phân bố không đồng đều giữa các miền và các vùng.
- Sản xuất nông nghiệp của nước ta chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới,
ẩm, có chế độ gió mùa, hàng năm chia làm hai mùa rõ rệt, đồng thời tùy theo vĩ
tuyến và độ cao của từng vùng mà một số nơi còn có khí hậu ôn đới. Tài nguyên khí
hậu ấy, một mặt tạo điều kiện thuận lợi là: Có thể phát triển nhiều chủng loại cây
trồng, vật nuôi, xây dựng cơ cấu cây trồng, công thức luân canh, trồng xen, trồng
gối, sử dụng không gian nhiều tầng, có khả năng tăng vụ và rải vụ sản xuất quanh
năm, bốn mùa có thu hoạch. Mặt khác, khí hậu nước ta cũng gây ra những khó khăn
phức tạp cho sản xuất nông nghiệp như: bão lụt, hạn hán, gió mùa đông bắc, gió tây,
gió Lào, sương muối,… gây ra những tổn thất lớn đối với mùa màng [12, tr.10 - 15].
1.2.2. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
1.2.2.1. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Cơ cấu kinh tế là tổng thể các bộ phận của nền kinh tế, có mối quan hệ hữu
cơ với nhau theo những tỷ lệ nhất định về mặt lượng và liên quan chặt chẽ với nhau
về mặt chất. Các bộ phận kinh tế tác động qua lại lẫn nhau trong cùng một không
gian và thời gian nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao [15, tr.7].
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp là tổng thể các mối quan hệ kinh tế bao gồm các
lĩnh vực: trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, dịch vụ, lâm nghiệp… có mối quan hệ hữu
Hai là, cơ cấu vùng (lãnh thổ)
Nếu cơ cấu ngành kinh tế hình thành từ quá trình phân công lao động xã hội
và chuyên môn hoá sản xuất thì cơ cấu kinh tế vùng lại được hình thành chủ yếu từ
việc bố trí sản xuất theo không gian địa lý. Cơ cấu vùng và cơ cấu ngành kinh tế
thực chất là hai mặt của một thể thống nhất và đều là biểu hiện của sự phân công lao
động xã hội. Cơ cấu lãnh thổ hình thành gắn liền với cơ cấu ngành và thống nhất
trong vùng kinh tế. Ở nước ta, trong các năm qua các vùng kinh tế sinh thái đã được
hình thành và phát triển từng bước tạo nên các vùng sản xuất nông nghiệp hàng hoá
có trình độ chuyên môn hoá cao như vùng trồng lúa, cây công nghiệp, cây ăn quả.
21
Ba là, cơ cấu thành phần kinh tế
Cơ cấu kinh tế được hình thành từ chế độ sở hữu: “Một cơ cấu thành phần
kinh tế hợp lý phải dựa trên cơ sở hệ thống, tổ chức kinh tế với chế độ sở hữu có
khả năng thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, thúc đẩy phân công lao
động xã hội”.
Ở nước ta, cơ cấu thành phần kinh tế tham gia trong lĩnh vực nông nghiệp
bao gồm: kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế cá thể, kinh tế
hỗn hợp; trong đó, kinh tế cá thể là chủ yếu và đang chiếm vai trò quan trọng trong
đời sống kinh tế nông nghiệp nước ta.
Ngoài 3 loại cơ cấu chính nêu trên, trong sản xuất nông nghiệp còn có các
loại cơ cấu khác như cơ cấu mùa vụ, cơ cấu công nghệ sử dụng trong nông nghiệp…
- Cơ cấu mùa vụ nói lên thời điểm gieo trồng các loại cây, chu kỳ sinh
trưởng và thu hoạch chúng. Việc bố trí mùa vụ cho từng loại cây phụ thuộc vào các
yếu tố chính như thời tiết, đất đai, đặc điểm sinh học của giống cây trồng, tiến bộ
khoa học kỹ thuật… Trong sản xuất nông nghiệp, sự thay đổi cơ cấu mùa vụ cũng
bao hàm sự thay đổi cơ cấu cây trồng và góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp.
hệ tỷ lệ giữa các ngành, các vùng, các thành phần do sự xuất hiện hoặc biến mất của
một số ngành và tốc độ tăng trưởng giữa các yếu tố cấu thành cơ cấu kinh tế là
không đồng đều.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là sự thay đổi của cơ cấu kinh tế
nông nghiệp từ trạng thái này sang trạng thái khác cho phù hợp với môi trường phát
triển. Đây không đơn thuần là sự thay đổi vị trí mà là sự biến đổi cả về lượng và
chất trong nội bộ cơ cấu. Việc chuyển dịch CCKT nông nghiệp phải dựa trên cơ sở
một cơ cấu hiện có, do đó nội dung của chuyển dịch cơ cấu là cải tạo cơ cấu cũ, lạc
hậu hoặc chưa phù hợp để xây dựng CCKT mới tiên tiến, hoàn thiện và bổ sung cơ
cấu kinh tế cũ nhằm biến cơ cấu cũ thành cơ cấu mới hiện đại và phù hợp hơn. Như
vậy, chuyển dịch CCKT thực chất là sự điều chỉnh cơ cấu trên 3 mặt biểu hiện của
cơ cấu (ngành, vùng, thành phần) nhằm hướng sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế
theo các mục tiêu kinh tế - xã hội đã xác định cho từng thời kỳ phát triển. Mục đích
của chuyển dịch là tạo ra sự cân đối giữa nông nghiệp và các ngành kinh tế khác
trong nền kinh tế quốc dân, đồng thời tạo dựng một ngành nông nghiệp có cơ cấu
hợp lý, qua đó phát huy mọi tiềm năng sản xuất, lợi thế so sánh của từng vùng, từng
23
miền và trên cả nước nhằm phát triển nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá lớn, giải
quyết công ăn việc làm cho nông dân, nâng cao thu nhập và mức sống cho người
nông dân ở nông thôn.
Bối cảnh thế giới và trong nước hiện nay đòi hỏi nền nông nghiệp Việt Nam
phải chuyển dịch CCKT nông nghiệp nhằm thích ứng với sự biến động của quan hệ
cung - cầu nông sản hàng hoá ở cả thị trường trong nước và thế giới trong quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế.
Quá trình chuyển dịch CCKT nông nghiệp có thể được xem xét, đánh giá
qua các chỉ tiêu sau đây:
- Một là, nhóm các chỉ tiêu đánh giá động thái của từng bộ phận trong tổng
quả các nguồn lực, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động và các tầng lớp
dân cư. Do đó, tính hợp lý về CCKT phải là hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường
do quá trình đó mang lại.
Để đánh giá hiệu quả chuyển dịch CCKT người ta thường sử dụng các chỉ
tiêu sau:
+ Hiệu quả sử dụng các nguồn lực như tài nguyên, lao động, vốn, KHCN.
+ Tác động giữa các ngành, vùng, khu vực kinh tế.
+ Chỉ tiêu nâng cao tiềm lực kinh tế như giá trị sản xuất, giá trị xuất khẩu,
tốc độ tăng trưởng kinh tế, mức lương nội bộ, khả năng cạnh tranh.
+ Chỉ tiêu bảo vệ môi trường sinh thái, tạo lập môi trường phát triển bền
vững [2, tr.37 - 40].
1.2.3. Chuyển dịch CCKT nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH ở nước ta
1.2.3.1. Nội dung CNH, HĐH trong nông nghiệp
“CNH, HĐH nông nghiệp là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị
trường; thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, ứng dụng các thành tựu
khoa học, công nghệ, trước hết là công nghệ sinh học, đưa thiết bị kỹ thuật và công
nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất
lượng hiệu quả, sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa trên thị trường.
25
CNH, HĐH nông thôn là quá trình chuyển dịch CCKT nông thôn theo hướng
tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành nghề công nghiệp và
dịch vụ; giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp; xây dựng kết cấu hạ
tầng kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển nông thôn, bảo vệ môi trường sinh thái;
tổ chức lại sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp; xây dựng nông thôn dân
chủ, công bằng, văn minh, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của
nhân dân ở nông thôn.” [9, tr.93 -94].