Tìm hiểu tiềm năng phát triển du lịch huyện côn đảo, tỉnh bà rịa vũng tàu - Pdf 44

5

BẢN TÓM TẮT
TÌM HIỂU TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH HUYỆN CÔN ĐẢO,
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Mã số: SV2014-07
1. Vấn đề nghiên cứu: TÌM HIỂU TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH HUYỆN
CÔN ĐẢO, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
2. Mục đích nghiên cứu/mục tiêu nghiên cứu:
- Xác lập cơ sở khoa học nghiên cứu sự phát triển du lịch.
- Thấy được tiềm năng và hiện trạng hoạt động du lịch của Côn Đảo.
- Xây dựng định hướng và giải pháp phát triển tiềm năng du lịch của Côn Đảo
trong thời kì mới.
3. Nhiệm vụ/nội dung nghiên cứu/câu hỏi nghiên cứu:
- Nghiên cứu những tài liệu có liên quan đến sự phát triển tiềm năng du lịch.
- Phân tích, đánh giá sự tác động của các nhân tố tự nhiên, kinh tế - xã hội đến
ngành du lịch của Côn Đảo.
- Đánh giá tiềm năng của ngành du lịch Côn Đảo và so sánh lợi thế du lịch của
địa phương với các địa phương khác trong tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Dựa vào đặc điểm tài nguyên và điều kiện tự nhiên liên quan, đưa ra các định
hướng và giải pháp phát triển tiềm năng du lịch Côn Đảo.
4. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích tổng hợp và phân tích hệ thống.
- Phương pháp thống kê du lịch.
- Phương pháp bản đồ, biểu đồ.
- Phương pháp dự báo.
5. Kết quả nghiên cứu:
- Đánh giá “Phát triển du lịch của huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu”. Trên
cơ sở đó đề ra những giải pháp để phát huy những thế mạnh, khắc phục những
hạn chế còn tồn tại để góp phần thúc đẩy du lịch ở Côn Đảo phát triển tương
xứng với tiềm năng sẵn có.



7

DANH MỤC BẢNG BIỂU
Danh mục hình
Hình
1.1

Tên hình
Mức độ tăng trưởng lượng khách tham quan ở Châu Á - Thái Bình
Dương, Việt Nam và Côn Đảo, từ năm 2008 đến năm 2013

Trang
48

2.1

Bản đồ hành chính tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

51

2.2

Bản đồ vị trí các đảo ở Côn Đảo

52

2.3



Doanh thu du lịch của Côn Đảo từ năm 2010 – 2013

73

3.1

Bản đồ quy hoạch các phân khu du lịch Côn Đảo

111

3.2

Bản đồ vị trí các dự án ưu tiên

112

3.3

Bản đồ vị trí bờ biển thắng cảnh của Côn Đảo

124

Danh mục bảng
Bảng

Tên bảng

Trang




9

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
SPDL

: Sản phẩm du lịch

ĐDSH

: Đa dạng sinh học

DLBV

: Du lịch bền vững

LHDL

:

HĐDL

: Hoạt động du lịch

BQL

: Ban quản lí

Loại hình du lịch

kinh tế quan trọng có đóng góp lớn trong sự phát triển của các nước.
Ở Việt Nam ngành du lịch giữ một vai trò quan trọng trong việc phát triển thúc
đẩy nền kinh tế phát triển. Tuy chịu sự ảnh hưởng của những biến động toàn cầu và
khu vực nhưng với sự nỗ lực của lãnh đạo và cán bộ các cơ quan quản lý du lịch từ
Trung ương đến địa phương, các doanh nghiệp du lịch trong cả nước, du lịch Việt Nam
vẫn đảm bảo tăng trưởng vượt bậc với sự mở rộng quy mô về cơ sở vật chất kỹ thuật
dịch vụ du lịch; hệ thống hạ tầng gắn với quy hoạch và đầu tư phát triển các khu,
tuyến, điểm, đô thị du lịch trên 7 vùng du lịch của cả nước; hệ thống doanh nghiệp
thuộc các lĩnh vực lữ hành, lưu trú, vận chuyển, giải trí... với chuỗi các sản phẩm du
lịch đa dạng hướng tới nhiều thị trường mới, đồng thời với lực lượng lao động trực tiếp
và gián tiếp được tăng cường cả về số lượng và trình độ chuyên nghiệp... Những thành
tựu đó đã đánh dấu mốc quan trọng trong lịch sử phát triển ngành du lịch trong thời kỳ
hội nhập và phát triển mới của đất nước. Trong năm 2013, khi bối cảnh nền kinh tế vẫn
đang trong quá trình khắc phục suy thoái, tái cấu trúc và từng bước tìm kiếm động lực
tăng trưởng mới, du lịch là ngành kinh tế duy nhất duy trì tốc độ tăng trưởng cao và là
điểm sáng của nền kinh tế Việt Nam. Mặc dù phải vượt qua nhiều khó khăn và thách
thức nhưng năm 2013, cả nước đã đón 7,57 triệu lượt khách quốc tế, tăng trưởng
10,6%; 35 triệu lượt khách nội địa; tổng thu trực tiếp từ khách du lịch đạt 200 nghìn tỷ
đồng, đóng góp trên 6% GDP.


12

Côn Đảo hay Côn Sơn là tên một quần đảo ngoài khơi thuộc tỉnh Bà Rịa-Vũng
Tàu, cách Vũng Tàu 97 hải lý và cách sông Hậu 45 hải lý. Khu du lịch Côn Đảo là
điểm du lịch mới được đưa vào khai thác và với lợi thế về cảnh quan Côn Đảo đã được
đánh giá là một trong những địa điểm du lịch hấp dẫn vào bậc nhất của nước ta hiện
nay. Côn Đảo được nhiều du khách đánh giá là thiên đường của nghỉ dưỡng và khám
phá thiên nhiên (rừng và biển). Côn Đảo là một trong 21 khu du lịch quốc gia của Việt
Nam với nhiều địa danh đẹp nổi tiếng như Bãi Đầm Trầu, Cầu tàu 914,... được xem là

- Đánh giá tính bền vững của ngành du lịch huyện Côn Đảo và lợi thế so sánh du lịch
địa phương với các địa phương khác trong tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Dựa vào đặc điểm tài nguyên và các điều kiện liên quan, đưa ra các định hướng và
giải pháp phát triển bền vững du lịch huyện Côn Đảo.
2.3. Ý nghĩa của đề tài
- Củng cố lý thuyết về phát triển du lịch bền vững.
- Xây dựng cơ sở lý thuyết phát triển du lịch bền vững cho huyện Côn Đảo.
- Điều tra, khảo sát, đánh giá khai thác tài nguyên du lịch tại khu du lịch Côn Đảo.
Trên cơ sở đó đề ra những giải pháp để phát huy những lợi thế, khắc phục những hạn
chế còn tồn tại góp phần thúc đẩy khu du lịch Côn Đảo phát triển tương xứng với tiềm
năng sẵn có.
3. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
Cho tới nay, chưa có một báo cáo quy hoạch hay chiến lược nào để định hướng
phát triển bền vững cho du lịch Côn Đảo. Năm 2004, Ủy ban Kinh tế Trung ương triển
khai dự án “Phát triển Côn Đảo” và VNAT cũng hoàn thành báo cáo “Định hướng Phát
triển Du lịch Côn Đảo”. Những tài liệu này đánh giá sơ bộ về tiềm năng du lịch của
Côn Đảo, đồng thời tổng kết về tình hình hoạt động du lịch của huyện. Những vấn đề


14

được quan tâm bao gồm “huy động sức lực” để phát triển du lịch cùng với việc quan
tâm tới nguồn tài nguyên đất và nước trên quần đảo. Những báo cáo này cũng đưa ra
những giải pháp cho việc phát triển du lịch cũng như khẳng định quy hoạch du lịch
đóng vai trò then chốt.
4. GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
- Nội dung nghiên cứu:
+ Cơ sở lý luận về phát triển du lịch bền vững.
+ Nghiên cứu tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch ở Côn Đảo.
+ Định hướng và một số giải pháp phát triển du lịch của Côn Đảo.

- Nhà nước bố trí ngân sách cho công tác quy hoạch; hỗ trợ dân trí, xây dựng
kết cấu hạ tầng đô thị du lịch, khu du lịch, điểm du lịch; hỗ trợ công tác tuyên truyền,
quảng bá du lịch, bảo vệ tôn tạo tài nguyên và môi trường du lịch, nghiên cứu ứng
dụng khoa học và công nghệ, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực du lịch.
- Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài, người Việt Nam định
cư ở nước ngoài vào Việt Nam đi du lịch trong nước và nước ngoài; bảo đảm quyền và
lợi ích hợp pháp của khách du lịch.
5.1.2. Quan điểm hệ thống lãnh thổ
Phát triển du lịch ở bất kỳ cấp vùng hoặc trung tâm nào cũng phải là một phần
cấu thành không thể tách rời trong hệ thống du lịch chung của cả nước. Các hệ thống
lãnh thổ du lịch thường tồn tại và phát triển trong mối quan hệ qua lại nội tại của từng


16

phân hệ, giữa các phân hệ du lịch trong một hệ thống với nhau và các môi trường xung
quanh, giữa các hệ thống lãnh thổ du lịch cùng cấp và khác cấp, giữa hệ thống lãnh tổ
du lịch và hệ thống kinh tế - xã hội. Quan điểm hệ thống còn đặc biệt có ý nghĩa trong
quá trình nghiên cứu các hệ sinh thái đặc thù với sự phân hoá theo lãnh thổ từ cấp quốc
gia đến cấp vùng và điểm. Mặc khác, các đối tượng nghiên cứu của sinh thái cần được
xác định trên một lãnh thổ để phân tích, nghiên cứu tìm ra những sự khác biệt và mối
quan hệ phụ thuộc lẫn nhau.
5.1.3. Quan điểm phát triển du lịch bền vững
Phát triển bền vững đã trở thành mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của toàn
nhân loại trong thế kỷ XXI. Phát triển du lịch bền vững trở thành xu hướng và mục tiêu
phát triển ngành kinh tế du lịch của nhiều quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam
trong hiện tại và tương lai. Vì vậy quan điểm phát triển này cần được soi sáng, vận
dụng trong việc tổ chức quản lý, triển khai đánh giá các hoạt động du lịch trong nghiên
cứu phát triển du lịch.
5.1.4. Quan điểm tổng hợp

nghiên cứu khoa học. Phương pháp này được sử dụng đặc biệt có hiệu quả trong
nghiên cứu tự nhiên và tổ chức khai thác lãnh thổ du lịch. Phát triển bền vững có liên
quan chặt chẽ tới các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội; vì vậy, trong nghiên cứu đây
là phương pháp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
5.2.2. Phương pháp thống kê du lịch
Đây là phương pháp không thể thiếu trong quá trính nghiên cứu mặt lượng trong
mối quan hệ chặt chẽ với mặt chất của các hiện tượng và qúa trình, đối chiếu biến


18

động, phát triển trong hoạt động du lịch. Phương pháp này áp dụng để thống kê các hệ
sinh thái đặc thù, các tài nguyên du lịch quan trọng và phụ trợ, thống kê hệ thống cơ sở
hạ tầng phục vụ du lịch; thống kê đánh giá lượng khách; đánh giá tỷ lệ doanh thu; tỷ
trọng và mức tăng trưởng du lịch nói chung để đưa ra bức tranh chung về hiện trạng.
5.2.3. Phương pháp bản đồ, biểu đồ
Phương pháp này cho phép thu thập những nguồn thông tin mới phát hiện phân
bố trong không gian của các đối tượng nghiên cứu. Bản đồ còn là phương tiện để cụ
thể hoá, biểu đạt kết quả nghiên cứu về cấu trúc, đặc điểm và phân bố không gian của
các đối tượng du lịch.
Đây là phương pháp cần thiết trong quá trình nghiên cứu bất kỳ tổ chức không
gian lãnh thổ du lịch nào, đặc biệt là khi nghiên cơ sở khoa học cho sự phát triển bền
vững du lịch nói chung và tổ chức không gian hoạt động du lịch nói riêng.
Bản đồ được sử dụng chủ yếu theo hướng chuyên ngành với việc thể hiện sự
phân bố lãnh thổ của các khu bảo tồn thiên nhiên, các hệ sinh thái đặc thù, hệ thống cơ
sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật. Phương bản đồ sẽ đặc biệt có hiệu quả khi sử dụng
công nghệ GIS (Geographic Information System - hệ thông tin địa lý) để phân tích
đánh giá tiềm năng du lịch căn cứ vào mức độ quan trọng và phân hoá lãnh thổ của các
tài nguyên và điều kiện có liên quan cũng như để phân tích phát hiện các mối quan hệ
trong tổ chức không gian du lịch.

cao. Nhiều quốc gia trên thế giới, du lịch là nguồn thu ngoại tệ chính, là ngành kinh tế
quan trọng.
Du lịch xuất hiện từ khi nào? Du lịch là gì? Đã có rất nhiều câu trả lời, rất nhiều
khái niệm, có nhiều cách tiếp cận với nhiều cách hiểu khác nhau, sau đây là một số
khái niệm cơ bản về du lịch.
Du lịch là một hiện tượng. Trước thế kỷ thứ XIX đến tận đầu thế kỷ XX du lịch
hầu như vẫn được coi là tầng lớp giàu có, quý tộc và đây chỉ là một hiện tượng cá biệt
trong đời sống kinh tế - xã hội.
Năm 1811 lần đầu tiên tại Anh, từ du lịch (Tourism) được xuất hiện sớm nhất
trong quyển Từ điển Oxford. Theo đó, du lịch có định nghĩa như sau:
“Du lịch là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của (các) cuộc
hành trình với mục đích giải trí”. Ở đây giải trí là động cơ chính.
Giáo sư, tiến sĩ Hunziker và giáo sư, tiến sĩ Krapf - hai người được coi là đặt
nền móng cho lý thuyết về cùng du lịch đưa ra định nghĩa như sau:
“Du lịch là tập hợp các mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong các cuộc
hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không
thành cư trú thường xuyên và không liên quan đến hoạt động kiếm lời”.
Trường Đại học kinh tế Praha (Cộng hòa Séc) định nghĩa như sau:


21

“Du lịch là tập hợp các hoạt động kỹ thuật, kinh tế và tổ chức liên quan đến
cuộc hành trình của con người và việc lưu trú cho họ ngoài nơi ở thường xuyên với
nhiều mục đích khác nhau, loại trừ mục đích hành nghề và thăm viếng có tổ chức định
kỳ”.
Năm 1985, I.I.Pirogionic đưa ra khái niệm:
“Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian nhàn rỗi liên quan
tới sự di chuyển và lưu trú tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ
ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức về văn

đưa ra định nghĩa:
“Khách du lịch là người hành trình tự nguyện với những mục đích hòa bình.
Trong cuộc hành trình của mình họ đi qua những chặng đường khác nhau và thay đổi
một hoặc nhiều lần nơi cư trú của mình”.
Các định nghĩa trên đều mang tính phiếm diện, chưa đầy đủ, chủ yếu mang tính
chất phản ánh sự phát triển của du lịch đương thời và xem xét không đầy đủ, hạn chế
nội dung thực của khái niệm – khách du lịch.
Định nghĩa của Liên hiệp các quốc gia – League of Nations – năm 1937 tổ chức
này đưa ra khái niệm:
“Bất ai đến thăm một đất nước khác với nơi cư trú thường xuyên của mình
trong khoảng thời gian ít nhất là 24h”.
Định nghĩa về khách du lịch của Việt Nam trong khoảng 2, điều 4, chương I đã
nêu rõ:


23

“Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi
học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”. [9]
1.1.3. Khái niệm về SPDL
Khi đề cập đến bất cứ hoạt động kinh doanh nào chúng ta cũng không thể không
nhắc đến sản phẩm của hoạt động đó. Trong du lịch khi tìm hiểu về khái niệm du lịch
thì chúng ta cũng cần phải tìm hiểu về SPDL.
SPDL là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách, được tạo nên bởi sự kết
hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực: cơ
sở vật chất kỹ thuật và lao động tại một cơ sở, một vùng hay một quốc gia nào đó.
SPDL = Tài nguyên du lịch + Các dịch vụ hàng hóa du lịch
Hiện nay khái niệm này rất khái quát, trong phạm vi bài tham luận này có thể
hiểu sản phẩm du lịch (SPDL) là tất cả những giá trị về vật chất lẫn tinh thần của một
địa phương mà du khách đến hưởng thụ và trả tiền. SPDL bao gồm sản phẩm vật thể và

song trong nhiều trường hợp, tuyến du lịch được phát triển trên lãnh thổ xuyên ranh
giới hành chính (liên xã, liên huyện, liên tỉnh/thành phố), thậm chí xuyên quốc gia.
Trong xu thế hội nhập hợp tác cùng phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực du lịch thì các
tuyến du lịch liên vùng như vậy thường chiếm ưu thế. Điều này cũng làm tăng đáng kể
sức hấp dẫn của các tuyến du lịch.
1.2. NHỮNG ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN VÀ NGUYÊN TẮC ĐẢM BẢO PHÁT
TRIỂN BỀN VỮNG DU LỊCH
1.2.1. Những điều kiện cơ bản để phát triển bền vững du lịch
Để ngành du lịch phát triển một cách bền vững cần những điều kiện sau:


28

1.2.1.1. Sự đa dạng của tài nguyên du lịch
Đối với tài nguyên thiên nhiên, gắn với nó là loại hình du lịch, đòi hỏi tính đa
dạng sinh học cao.
Đa dạng sinh học bao gồm đa dạng sinh thái, đa dạng di truyền và đa dạng loài.
Đa dạng sinh thái thể hiện ở sự khác nhau của các kiểu cộng sinh tạo nên các cơ
thể sống và mối liên hệ giữa chúng với nhau và với các yếu tố vô sinh có ảnh hưởng
trực tiếp hay gián tiếp lên sự sống như: đất, nước, địa hình, khí hậu… đó là các hệ sinh
thái (eco - systems) và các nơi trú ngụ, sinh sống của một hoặc một số loài sinh vật
(theo công ước đa dạng sinh học được thông qua tại hội nghị thượng đỉnh Rio De
Janeiro về môi trường).
Đối với tài nguyên nhân văn bao gồm những di tích lịch sử, di tích cách mạng,
những công trình văn hoá, kiến trúc… kể cả những giá trị văn hoá truyền thống cần
được giữ gìn, bảo tồn để mỗi điểm du lịch mang nét độc đáo riêng tạo sự hấp dẫn đa
dạng cho ngành du lịch.
1.2.1.2. Sự am hiểu về du lịch
Người làm công tác du lịch đặc biệt là các nhà điều hành, hướng dẫn viên du
lịch và dân địa phương phải thật am hiểu - đây cũng là một trong những nguyên tắc của

sống, an toàn vệ sinh thực phẩm, giá cả phù hợp.
1.2.1.4. Tuân thủ chặt chẽ các quy định về "sức chứa"
Nhằm hạn chế tới tới mức tối đa tác động của hoạt động du lịch đến tài nguyên
du lịch và môi trường, đạt đến nền du lịch bền vững, cần tổ chức với sự tuân thủ chặt
chẽ các quy định về "sức chứa". Khái niệm "sức chứa" được hiểu từ bốn khía cạnh: vật



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status