MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài ……………………………………………………
2. Mục đích, nhiệm vụ, giới hạn của đề tài ……………………………
3. Phương pháp nghiên cứu ……………………………………………
4. Cấu trúc đề tài ………………………………………………………
PHẦN NỘI DUNG ……………………………………………………………
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VÀ TÀI NGUYÊN DU LỊCH
1. Khái niệm du lịch ……………………………………………………
2. Chức năng của du lịch ……………………………………………….
3. Tài nguyên du lịch ……………………………………………………
3.1. Thế nào là tài nguyên du lịch ………………………………………
3.2. Phân loại tài nguyên du lịch ……………………………………….
3. Các điều kiện ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển du lịch.
Chương 2. TIỀM NĂNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH
KHU VỰC MIỀN NÚI VÀ TRUNG DU THANH HOÁ
A. TIỀM NĂNG DU LỊCH MIỀN NÚI VÀ TRUNG DU THANH HÓA.
1. Vị trí địa lý …………………………………………………………….
1.1. Khái quát …………………………………………………………….
1.2. Vị trí địa lý của khu vực miền núi và trung du Thanh Hóa với tổ chức
hoạt động du lịch ………………………………………………………………
2. Tài nguyên du lịch khu vực miền núi và trung du Thanh Hóa ……
2.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên ……………………………………….
2.2. Tài nguyên du lịch nhân văn ………………………………………
3. Các điều kiện kinh tế - xã hội ………………………………………
3.1. Giao thông vận tải: …………………………………………………
3.2. Thông tin liên lạc và bưu chính viễn thông: ……………………….
3.3. Lưới điện: ……………………………………………………………
B. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH MIỀN NÚI VÀ TRUNG DU
THANH HÓA
Du lịch ở Việt Nam nói chung và du lịch ở Thanh Hóa nói riêng đã và
đang có nhiều khởi sắc.
Với diện tích rộng chiếm trên 70% diện tích toàn tỉnh, miền núi và trung
du Thanh Hóa có nhiều ưu thế về cảnh quan thiên nhiên, và là nơi sinh sống của
đồng bào dân tộc thiểu số Dao, Thái, Mường, Mông…đời sống văn hoá tinh
thần phong phú, các lễ hội truyền thống đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc đến nay
vẫn được bảo tồn.
Tuy nhiên hiện nay các nguồn tài nguyên du lịch chưa được khai thác hợp
lý, nhiều tiềm năng đang có nguy cơ bị mai một. Bản thân sinh ra và lớn lên từ
những bản làng trên vùng đất xứ Thanh, nhận thức đúng đắn về những thế mạnh
du lịch của địa phương. Với những lý do trên các tác giả đã quyết định chọn đề
tài “Tiềm năng phát triển du lịch khu vực miền núi và trung du Thanh Hoá” –
Qua đề tài các tác giả mong muốn góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào
quá trrình phát triển kinh tế chung của quê hương.
2. Mục đích, nhiệm vụ, giới hạn của đề tài.
2.1.Mục đích.
Bước đầu tìm hiểu làm quen với phương pháp tiếp cận khoa học, vận
dụng kiến thức đã học và một số phương pháp nghiên cứu khoa học địa lý KT-
XH nhằm tìm hiểu tiềm năng phát triển du lịch miền núi và trung du Thanh Hóa.
Qua đó các tác giả hiểu rõ hơn về các kiến thức mới trong địa lý KT-XH,
du lịch và tài nguyên du lịch. Đồng thời đưa ra các định hướng khai thác các
điểm du lịch tiềm năng của khu vực miền núi Thanh Hóa.
2.2. Nhiệm vụ.
Vận dụng những quan điểm địa lý cơ bản và nắm được phương pháp
nghiên cứu khoa học của lãnh thổ, địa phương cụ thể. Đề tài thực hiện nhằm đưa
ra được:
- Tiềm năng, lợi thế của khu vực miền núi và trung du Thanh Hóa đối với
sự phát triển du lịch.
- Nêu định hướng khai thác các loại hình du lịch, các điểm và tuyến du
lịch.
phát triển du lịch của khu vực miền núi đầy tiềm năng và triển vọng.
4. Cấu trúc bài tập
Ngoài phần mở bài, phần kết luận, báo cáo gồm có hai chương.
Chương I. Cơ sở lý luận về du lịch và tài nguyên du lịch
Chương II. Tiềm năng và định hướng phát triển du lịch khu vực miền núi
và trung du Thanh Hóa.
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VÀ TÀI NGUYÊN DU LỊCH
Địa lý địa phương: Tiềm năng du lịch miền núi và trung du tỉnh Thanh Hóa.
5
1. Khái niệm du lịch.
Thuật ngữ “du lịch” ngày nay trở nên rất thông dụng. Thuật ngữ này được
bắt nguồn từ tiếng Pháp “Tour”: Đi vòng quanh, cuộc dạo chơi. “Touriste”:
Người đi dạo chơi.
Theo II.Piroginic (1985), khái niệm du lịch có thể được xác định như sau:
“Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi, liên quan đến
sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nằm nghỉ
ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức
văn hóa hoặc kèm theo việc tiêu thụ những giá trị tự nhiên, kinh tế và văn hóa”
Cùng với sự phát triển du lịch, khái niệm du lịch đã có những đổi thay
phù hợp hơn: Du lịch là tổng thể những hiện tượng và những mối quan hệ phát
sinh từ sự tác động qua lại lẫn nhau giữa khách du lịch, những nhà kinh doanh
du lịch, chính quyền sở tại và cộng đồng dân cư địa phương trong quá trình thu
hút và lưu trữ khách du lịch.
Như vậy, để phát triển để phát triển du lịch cần chú trọng cả đối tượng du
lịch và chủ thể du lịch.
2. Chức năng của du lịch.
- Chức năng xã hội: Thể hiện ở vai trò của nó trong việc giữ gìn phục hồi
sức khỏe và tăng cường sức sống cho nhân dân. Chừng mực nào đó, du lịch có
tác dụng hạn chế bệnh tật, kéo dài tuổi thọ và khả năng lao động của con người.
3.2.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên:
Tài nguyên du lịch tự nhiên là tổng thể tự nhiên trên một tổng thể tự nhiên
ở một trình độ nghiên cứu và phát triển nhất định của ngành du lịch gồm: địa
hình, khí hậu, tài nguyên nước, tài nguyên sinh vật.
- Địa hình: Được xem là nhân tố quan trọng đối với hoạt động du lịch và
giải trí. Đặc điểm hình thái địa hình và các dạng đặc biệt của địa hình có sức hấp
dẫn đối với các hoạt động khai thác du lịch.
- Khí hậu: Là phần quan trọng đối với môi trường tự nhiên, ảnh hưởng
đến môi trường du lịch. Nó thu hút người tham gia tổ chức và du lịch qua khí
hậu sinh học.
- Nước: Nhằm mục đích du lịch, nước được sử dụng tùy theo nhu cầu cá
nhân, theo độ tuổi và nhu cầu quốc gia. Nhìn chung giới hạn nhiệt độ lớp nước
trên mặt tối thiểu có thể chấp nhận được là 18
0
C và đối với trẻ em là trên 20
0
C.
- Sinh vật: Việc tham quan thế giới động thực vật sống động hài hòa trong
thiên nhiên làm cho con người thêm yêu cuộc sống. Tùy mục đích khác nhau có
chỉ tiêu sinh vật khác nhau.
- Di sản thiên nhiên: Theo UNESCO đó là các công trình thiên nhiên hợp
thành bởi các thành tạo vật lý, sinh học hoặc những nhóm thành hệ có một giá
trị toàn cầu đặc biệt về mặt thẩm mỹ và khí hậu, các thành hệ địa chất, địa văn
và các miên được phân định ranh giới rõ ràng.
Một di sản thiên nhiên được ghi vào danh sách di sản thế giới sẽ là nguồn
tài nguyên du lịch tự nhiên vô giá. Đó thường là những điểm có sức thu hút
khách lớn nhất trên lãnh thổ và có ý nghĩa toàn cầu.
2.1. Tài nguyên du lịch nhân văn:
Địa lý địa phương: Tiềm năng du lịch miền núi và trung du tỉnh Thanh Hóa.
7
8
A. TIỀM NĂNG DU LỊCH KHU VỰC MIỀN NÚI VÀ TRUNG DU
THANH HÓA
1. Vị trí địa lý.
1.1. Khái quát.
Thanh Hóa là một tỉnh cực Bắc của Bắc Trung Bộ, có tọa độ địa lý từ
19
o
18’ đến 20
o
40’ vĩ độ Bắc và từ 104
o
22’ đến 106
o
04’ kinh độ Đông. Phía Bắc
giáp 3 tỉnh Ninh Bình, Hòa Bình, Sơn La. Phía Nam giáp với Nghệ An. Phía
Tây giáp Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào trên địa phận bao gồm các núi cao
trên 1000m rất hiểm trở. Phía Đông Thanh Hóa mở rộng ra gần vịnh Bắc Bộ,
nằm trên bờ biển Đông, thông ra Thái Bình Dương.
Vì vậy, Thanh Hóa là cửa ngõ nối liền Bắc Bộ với Trung Bộ và nước bạn
Lào. Trên địa phận Thanh Hóa có đường sắt và đường quốc lộ 1A chạy xuyên
Việt chạy qua vùng đồng bằng trung du và ven biển. Đường Hồ Chí Minh lịch
sử chạy xuyên suốt trung du và miền núi của tỉnh. Đường 217 nối Thanh Hóa
với nước bạn Lào.
Vị trí địa lý và khả năng giao thông của tỉnh tạo điều kiện thuận lợi giao
lưu với các tỉnh, thành phố trong cả nước trong khu vực và các nước trên thế
giới.
1.2. Vị trí địa lý của khu vực miền núi và trung du Thanh Hóa với tổ chức
hoạt động du lịch.
Miền núi và trung du Thanh Hóa gồm 11 huyện nằm ở phía Tây của tỉnh,
2.1.1. Cảnh quan núi và hang động.
Miền núi và trung du Thanh Hóa có hệ thống núi đá vôi đồ sộ hệ thống
núi đá vôi Pu Luông (Quan Hóa, Bá Thước), Hải Vân (Như Thanh), các dãy núi
đá vôi kéo dài ở cac huyện Ngọc Lặc, Cẩm Thủy, Thường Xuân…và các hang
động đá vôi kỳ thú với những địa danh nổi tiếng như: hang Ngọc, hang Lò Cao
(Như Thanh), hang cá thần Cẩm Lương - Cẩm Thủy.
Với sự tưởng tượng của con người cộng với sự bài trí tuyệt vời của tự
nhiên các núi non, hang động của miền núi và trung du Thanh Hóa cứ sừng sững
hiện diện như món quà tuyệt diệu mà thiên nhiên đã ban tặng cho con người nơi
đây.
1.2. Cảnh quan rừng nguyên sinh.
Thanh Hóa có 2/3 diện tích tự nhiên là rừng và đất rừng lại nằm trong khu
vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, phân hóa thành mùa khô và mùa mưa (trùng với
mùa đông và mùa hè ở miền Bắc Việt Nam). Lượng mưa trung bình năm rất lớn
từ 1600 – 1800 mm, mùa mưa kéo dài từ 6 đến 8 tháng chiếm trên 70% lượng
mưa cả năm. Những điều kiện về mặt khí hậu đã tạo nên sự phong phú và đa
dạng của các kiểu rừng và sản phẩm của rừng. Các hệ sinh thái rừng chủ yếu của
khu vực gồm:
Rừng rậm thường xanh nhiệt đới mưa mùa cây lá rộng với mùa đông hơi
khô và hơi lạnh trên các loại đất khác nhau (trừ đất do đá vôi phong hóa). Cấu
trúc rừng điển hình gồm 5 tầng, trong đó có 3 tầng cây gỗ (tầng nhô, tầng ưu thế
sinh thái và tầng cây gỗ nhỏ), tầng cây bụi và tầng cỏ cùng với nhiều dây leo gỗ
và cây bì sinh.
Rừng rậm thường xanh nhiệt đới mưa mùa cây lá rộng với mùa đông hơi
khô và hơi lạnh trên núi đá vôi. Ở đây cây sống hàng trăm năm.cũng chui cao
20-30m. Rừng có kết cấu đơn giản, độ một - hai tầng cây gỗ, tán cây không liên
tục cây cao chừng 15- 20m. Đặc trưng cho rừng đá vôi là các laọi nghiến
(Pentace tonlinesis), trai (Garcinia, Fragraoidest)…trong rừung núi đá vôi cũng
Địa lý địa phương: Tiềm năng du lịch miền núi và trung du tỉnh Thanh Hóa.
10
sinh động.
* Khu bảo tồn thiên nhiên Pu Luông được thành lập năm 1999 với tổng
diện tích là 17.662 ha trên địa phận của 2 huyện Quan Hoá và Bá Thước của tỉnh
Thanh Hóa.
Rừng nguyên sinh tại khu BTTN Pù Luông là loại rừng kín nhiệt đới
thường xanh theo mùa gồm 5 loại kiểu phụ rừng chính: Rừng lá rộng đất thấp
trên núi đá vôi (60-700 m); Rừng lá rộng đất thấp trên các phiến thạch, sa thạch
Địa lý địa phương: Tiềm năng du lịch miền núi và trung du tỉnh Thanh Hóa.
11
và đất sét (60-1.000 m); Rừng lá rộng chân núi đá vôi (700-950 m); Rừng lá kim
chân núi đá vôi (700-850 m) và Rừng lá rộng chân núi Bazan (1.000-1.650 m).
Ngoài ra còn tồn tại các thảm rừng thứ sinh như rừng tre nứa, cây bụi và đất
nông nghiệp.
Khu BTTN Pu Luông đang lưu giữ trong mình những giá trị cảnh quan
thiên nhiên phong phú với sự đa dạng về các loài động - thực vật sinh sống trong
rừng. Về số lượng và chủng loại thực vật ở đây hiện có 1109 loài trong đó có rất
nhiều loài quý hiếm và đặc hữu. Về đa dạng số lượng loài động vật tại Pù Luông
được đánh giá là ngang với những khu rừng đặc dụng khác ở miền Bắc-Việt
nam. Theo kết quả điều tra cho biết đã xác định được 31 bộ, 130 họ, 598 loài.
Đặc biệt tại đây hiện là nơi cư trú của hàng chục đàn Voọc quần đùi trắng - Một
loài linh trưởng quý hiếm với số lượng lên đến hàng trăm cá thể. Không chỉ có
vậy, hệ thống đá Kast của hệ sinh thái núi đá vôi còn lưu giữ nhiều hang động
với dáng vẻ huyền bí của tự nhiên.
Với những giá trị về tự nhiên sinh thái mang tính đặc thù khoa học cùng
với cảnh quan tự nhiên hung vĩ đã tạo nên những tiềm năng du lịch nơi đây, và
phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học.
2.2. Tài nguyên du lịch nhân văn.
Thanh Hóa là đất “địa linh nhân kiệt” (Đất thiêng người tài), nơi phát tích
của “Tam vương nhi chúa”- quê hương của 3 dòng họ nhà tiền Lê, hậu Lê và
nhà Hồ. Hai dòng chúa Trịnh - Nguyễn lừng danh. Cũng nơi đây đã sản sinh cho
Vị trí: Thành Lam kinh thuộc xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh
Hóa, cách thành phố Thanh Hóa 51km về phía tây.
Đặc điểm: Được xây xựng bởi vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi), thành Lam Kinh
còn có tên là Tây Kinh.
Nơi đây có lăng Lê Thái Tổ và bia Vĩnh Lăng mô tả ngắn gọn, cô đọng
toàn bộ sự nghiệp của vua Lê Thái Tổ do Nguyễn Trãi biên soạn; Hựu lăng -
Lăng vua Lê Thái Tông; Lăng Khôn Nguyên - Lăng Hoàng Thái Hậu Ngô Thị
Ngọc Giao (mẹ Vua Lê Thánh Tông); Chiêu Lăng - Lăng vua Lê Thánh Tông;
Dụ Lăng - Lăng vua Lê Hiến Tông; Kính Lăng - Lăng vua Lê Túc Tông.
* Đền thờ Lê Lai thuộc địa phận làng Tép, xã Kiên Thọ, Ngọc Lặc Thanh
Hóa, cách khu di tích Lam Kinh 5 km về phía Tây.
Lê Lai là một tướng giỏi của nghĩa quân Lam Sơn. Trong một lần bị quân
thù vây hãm không còn lối thoát, Lê Lai đóng giả Lê Lợi “Liều mình cứu chúa”
và hy sinh anh dũng để bảo toàn lực lượng cho nghĩa quân. Ghi nhớ công ơn của
ông, Lê Lợi cho lập đền thờ ông ở làng Tép ( Quê hương Lê Lai) và lệnh cho
quân thần sau này làm giỗ Lê Lai trước ngày giỗ của mình một ngày.
Ngày nay, sau nhiều lần trùng tu đền Lê Lai ngày càng trở nên khang
trang đẹp đẽ Ngoài ngày giỗ theo ý Lê Lợi 21/8 âm lịch, chính hội thờ Lê Lai
vào ngày mùng 8 tháng giêng âm lịch. Đây là một ngày hội lớn của nhân dân địa
phương, thu hút hàng ngàn du khách đến dâng hương, tế lễ.
Về Lam Kinh du khách sẽ được thưởng thức hương vị cay cay ngọt ngọt
của chè lam Phủ Quảng, một loại bánh làm bằng bột gạo nếp, mật mía, trộn lẫn
lạc và gừng và được nếm cái dẻo quạnh, đen nhanh nhánh của bánh gai Tứ Trụ,
Địa lý địa phương: Tiềm năng du lịch miền núi và trung du tỉnh Thanh Hóa.
13
cái béo ngậy, giòn thơm của cá rô Ðầm Sét rán vàng; những sản phẩm nổi tiếng
của Lam Kinh.
Nơi đây còn có sức hấp dẫn đặc biệt với truyền thống lịch sử đầy chiến
công và bản sắc dân tộc như chiến khu Ngọc Trạo. Bên cạnh đó còn nhiều đền
chùa, nhà thờ miếu mạo, bia đài chứng tích ghi công trạng thờ phụng các anh
Phả, dân ca Đông Anh, dân ca sông Mã, thi đấu vật, đấu võ dân tộc, hội trại các
Địa lý địa phương: Tiềm năng du lịch miền núi và trung du tỉnh Thanh Hóa.
14
làng văn hóa… cùng nhiều hoạt động khác như biểu diễn chèo, chương trình ca
nhạc tân cổ giao duyên…
* Lê hội đền Sòng - Phố Cát:
Diễn ra tại Phố Cát - Thạch Thành. Đây là nơi thờ Liễu Hạnh Công chúa,
một vị thành trong Tứ bất tử. Lễ hội đền Sòng có nét khác biệt so với những lễ
hội khác ở Thanh Hóa cũng như trong cả nước, sau những ngày tế lễ, diễn trò,
mọi người khắp nơi đổ về dự ngày kết của lễ hội, bởi ngày ấy cá thần xuất hiện.
Từ hồ Bích Ngọc cá hiện lên hàng đàn tới cả ngà con bơi theo dòng nước hình
vòng tròn trước đền từ sáng cho tới chiều tối rồi tự nhiên biến mất. Ngoài những
nét đặc sắc trong phần lễ, phần hội thì sự xuất hiện của “cá thần” là một điều đặc
sắc thu hút du khách thập phương.
* Các lễ hội văn hóa của các đồng bào dân tộc thiểu số.
- Lễ hội Sắc bùa hay là Xéc bùa của đồng bào dân tộc Mường. Đây là một
hình thức hát chúc mừng năm mới, diễn ra phổ biến trong các bản của người dân
tộc mường ở Thanh Hóa. Vào dịp tết Nguyên Đán, đoàn hát xéc bùa tay xáh
cồng chiêng đến các nhà chúc mừng. Nội dung chủ yếu của hát xác bùa là chúc
mừng gia chủ giầu sang, sung túc, sức khỏe, chúc mừng được mùa, hoa trái tốt
tươi, gia súc đầy đàn… Ngoài ra còn ca ngợi cảnh đẹp, cảnh chợ búa tấp nập, và
những phong tục tốt lành của địa phương và dân tộc.
Hiện nay tục hát Xéc bùa không chỉ dành cho những ngày xuân, ngày tết
mà còn diễn ra trong những ngày hội vui. Đến với lễ hội hát Xéc bùa du khách
không những được hòa mình trong những điệu nhạc dân tộc lôi cuốn mà qua đó
còn được hiểu hơn về những nét văn hóa đặc sắc của người Mường xứ Thanh.
- Lễ hội Pồn Poông hay là Hội chơi hoa:
Hằng năm, vào rằm tháng riêng và rằm tháng bảy âm lịch, bà con dân tộc
Mường ở miền núi Thanh Hóa có tục mở Lễ hội Pồn Poông - Hội Chơi hoa.
Để có 1 cây hoa đẹp cho ngày hội, những nghệ nhân phải chuẩn bị công
Cắt ngang là các tuyến quốc lộ 45, 47 và quốc lộ 217 nối các huyện miền tây với
trung tâm Tp.Thanh Hóa. Các tuyến đường này chủ yếu là đường nhựa, đường
bê tông với chất lượng tốt, đảm bảo nhu cầu đi lại và phát triển kinh tế trong khu
vực. Ngoài ra còn có hàng trăm tuyến đường giao thông liên huyện, liên xã với
chất lượng nhất định tạo điều kiện thuận lợi hơn cho phát triền kinh tế và du
lịch.
* Về vận tải: Đã và đang có những đổi mới như bổ sung các phương tiện
giao thông mới, tuện nghi hơn, đội ngũ hướng dẫn viên giỏi… nhằm đáp ứng tốt
hơn yêu cầu của sự phát triển kinh tế nói chung và du lịch nói riêng.
Giao thông vận tải khu vực miền núi và trung du Thanh Hóa nói chung
còn nhiều hạn chế, chất lượng đường thấp. Vì vậy cần phải đầu tư sửa chửa,
nâng cấp, làm mới hệ thống đường giao thông, phương tiện vận tải nhằm khai
thác tốt hơn những tiềm năng kinh tế của miền tây Thanh Hóa.
2. Thông tin liên lạc và bưu chính viễn thông:
Hệ thống thông tin liên lạc – bưu chính viển thông nhìn chung có sự phát
triển mạnh đáp ứng nhu cầu thông tin của nhân dân. Đến năm 2007 mạng lưới
điện thoại đã có mặt tại hầu hết các trung tâm văn hóa các xã miền núi. Các xã
đã có bưu diện văn hóa, có đặt các post điện thoại thẻ. Các mạng điện thoại di
Địa lý địa phương: Tiềm năng du lịch miền núi và trung du tỉnh Thanh Hóa.
16
động được phủ song rộng khắp. Bên cạnh đó mạng Internet cúng phát triển đến
các xã miền núi.
3. Lưới điện:
Thanh Hoá có trạm biến áp 220 KV cung cấp điện cho toàn tỉnh và phía
Bắc Nghệ An, có nhà máy điện Bàn Thạch (Thọ Xuân), các đập lớn: đập Bái
Thượng (Thọ Xuân), hồ thủy điện Cửa Đặt - Thường Xuân (đang xây dựng), 4
trạm biến áp 110 KV với hệ thống lưới điện được mở rộng. Các trung tâm
huyện, các xã miền núi đã có điện lưới quốc gia, một số vùng núi xa xôi hẻo
lánh được xây đựng trạm thủy điện nhỏ.
B. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH MIỀN NÚI VÀ TRUNG DU
nhiên, tài nguyên nhân văn. Thời gian lưu lại của khách du lịch tương đối ngắn.
Điểm du lịch phải có cơ sở hạ tầng cơ bản, phải có những cơ sở vật chất
kỹ thuật phục vụ du lịch như nhà hàng khách sạn, các hoạt động dịch vụ.
Các điểm du lịch nhỏ ở gần nhau có thể kết hợp thành các cụm điểm du
lịch hay một quần thể du lịch. Các điểm du lịch được gắn kết lại với nhau bằng
tuyến du lịch. Trong trường hợp cụ thể, các tuyến du lịch có thể là liên vùng hay
nội vùng.
2.2. Định hướng xây dựng các tuyến du lịch khu vực miền núi và trung du
Thanh Hóa.
2.2.1. Các tuyến du lịch nội tỉnh.
Các tuyến du lịch được hình thành và khai thác trên cơ sở của các loại
hình du lịch cụ thể. Có thể khai thác các tuyến nội vùng, trong tỉnh và liên tỉnh.
2.2.2.1. Tuyến Sầm Sơn – Tp.Thanh Hóa – VQG Bến En.
* Thị xã Sầm Sơn: Cách Tp Thanh Hóa 16km về phía đông, Sầm Sơn được
biết đến là bãi biển thoải rộng, cát vàng mịn, sóng biển êm ả, nước trong xanh,
độ mặn thích hợp. Dọc theo bờ biển là các bãi tắm A, bãi tắm B, bãi tắm C và D
phù hợp cho du khách lựa chọn; bãi A, B sẽ phù hợp với những du khách muốn
chinh phục những con sóng lớn, bãi tắm C, D sóng trở nên hiền hòa hơn. Liền
kề với các bãi tắm là các địa danh nổi tiếng như dãy Trường Lệ, đền Độc Cước,
chùa Cô Tiên, hòn Trống Mái. Sầm Sơn còn nổi tiếng với khu du lịch sinh thái
Vạn Chài Quảng Cư. Sầm Sơn là nơi để du khách thập phương đến thả mình vào
thiên nhiên, hòa quện với thiên nhiên và sống với thiên nhiên.
* VQG Bến En: Từ Tp Thanh Hóa theo quốc lộ 45 về phía tây nam
khoảng 40 km, đến địa phận huyện Như Thanh. Từ xa du khách có thể nghe
thấy tiếng gầm réo của dòng nước từ đập thượng xuông đập hạ. Đến với VQG
Bến En du khách được thả mình trong làn nước xanh, trong cảnh núi rừng
nguyên sinh. Bến En có hồ nước rộng gần 400ha. Trên hồ có 21 đảo lớn nhỏ và
nhiều bán đảo. Với các đảo rừng xen lẫn những mỏn đá với nhiều hình thù kỳ vĩ
tạo nên bức tranh thiên nhiên sơn thủy hữu tình rất ngoạn mục, cho ta cảm giác
như 1 vịnh Hạ Long thu nhỏ. Với các đảo, rừng cây, chim thú, hoa là nhiều màu
- Bia Vĩnh Lăng: được dựng cách lăng 300m đường chim bay ở Tây Nam
thành điện Lam Kinh. Bia làm bằng đá trầm tích biển nguyên khối cao 2,97m;
rộng,94m; dày 0,27m; đặt trên lưng một con rùa lớn cũng được tạc từ đá trầm
tích biển nguyên khối có chiều dài 3 ,46m; rộng 94m; cao 0,94m kể cả đế.
- Đền thờ Lê Lai: thuộc địa phận làng Tép, xã Kiên Thọ, Ngọc Lặc Thanh
Hóa, cách khu di tích Lam Kinh 5 km về phía Tây. Ngày nay, sau nhiều lần
trùng tu đền Lê Lai ngày càng trở nên khang trang đẹp đẽ Ngoài ngày giỗ theo ý
Lê Lợi 21/8 âm lịch, chính hội thờ Lê Lai vào ngày mùng 8 tháng giêng âm lịch.
Đây là một ngày hội lớn của nhân dân địa phương, thu hút hàng ngàn du khách
đến dâng hương, tế lễ.
- Lăng các Vua và Hoàng Hậu khác trong khu sơn lăng của Triều Lê Sơ ở
Lam Kinh như: Hựu lăng (Lăng vua Lê Thái Tông). Lăng Khôn Nguyên (Lăng
Hoàng Thái Hậu Ngô Thị Ngọc Giao - mẹ Vua Lê Thánh Tông). Lăng này có
Địa lý địa phương: Tiềm năng du lịch miền núi và trung du tỉnh Thanh Hóa.
19
điểm đặc biệt là tượng quan hầu là nữ quan. Chiêu Lăng (Lăng vua Lê Thánh
Tông). Dụ Lăng (Lăng vua Lê Hiến Tông). Kính Lăng (Lăng vua Lê Túc Tông).
* Suối cá thần Cẩm Lương: Từ Tp Thanh Hóa theo quốc lộ 47 khoảng 80
km về phía tây, Suối cá "thần" Cẩm Lương là một suối tại làng Ngọc, xã Cẩm
Lương, huyện Cẩm Thuỷ. Là suối cá tự nhiên, có tới hàng ngàn con cá. Từ hang
cá theo những bậc đá chênh vênh khoảng 70m du khách sẽ đến thăm động Cây
Đăng tham quan rừng tự nhiên trên núi Trường Sinh. Đây là một địa điểm tham
quan nổi tiếng củaThanh Hóa.
Ngoài ra để đến suối cá thần, du khách có thể đi trên quốc lộ 217, nối từ Đò
Lèn, cạnh quốc lộ 1A về cầu treo Cẩm Lương; hoặc đi theo đường Hồ Chí
Minh, đến thị trấn Cẩm Thuỷ rồi rẽ lên quốc lộ 217. Những du khách yêu thích
sông nước thì sẽ có dịp đi đường thuỷ dọc sông Mã, từ cầu Hàm Rồng lịch sử
(TP Thanh Hoá) lên địa danh Cửa Hà - Cẩm Thuỷ nên thơ, hùng vĩ.
Hiện nay, cầu treo Cẩm Lương nối quốc lộ 217 với đường vào suối cá
thần vừa hoàn thành và đưa vào sử dụng, tạo điều kiện thuận lợi cho du khách
trung bình từ 5 -6 in, chỗ cao nhất là cổng tiền cao 10m.
Thành Nhà Hồ là một di tích văn hóa - lịch sử được nhà nước xếp hạng
cấp quốc gia. Đây là thành cổ duy nhất được xây dựng bằng đá. Ngày nay Thành
Nhà Hồ đã và đang được từng bước trùng tu, tôn tạo nhằm trước hết là khôi
phục và gìn giữ một công trình kiến trúc độc đáo đã có trên 600 năm và là điểm
đến hấp dẫn cho du khách trong và ngoài nước mỗi lần đến Thanh Hóa.
Khu BTTN Pu Luông cách TP Thanh Hoá khoảng 130 km về phía Tây
Bắc, nằm trên địa bàn hai huyện là Quan Hoá và Bá Thước. Đây là một địa danh
còn nhiều bí ẩn, hoang sơ đối với du khách trong và ngoài nước.
Khu BTTN Pù Luông có khu hệ thực vật đa dạng với ít nhất 1.109 loài thực
vật có mạch đã được xác định. Về khu hệ động vật có xương sống, đến nay đã
có tổng số 84 loài thú (gồm cả 24 loài dơi), 162 loài chim, 55 loài cá, 28 loài bò
sát và 13 loài ếch nhái.
Đến với Pu Luông, du khách sẽ được thả hồn trong những đợt mưa xuân lất
phất bay, được ngắm những vạt rừng màu tinh khôi của hoa đào, hoa mơ dịu
ngọt giữa trời xuân, được tham quan cảnh vật núi rừng, hang động của Khu bảo
tồn, được thưởng thức các món ăn đặc trưng của dân tộc Thái, và được "say"
cùng những bài hát, điệu múa, điệu Khặp Thái uyển chuyển, mê hồn.
* Từ những tài nguyên trên, sản phẩm du lịch của tuyến là:
Du lịch tham quan: tham quan khu di tích thành nhà Hồ, cảnh quan rừng
nguyên sinh khu BTTN Pu Luông, suối cá thần Cẩm Lương, tham quan các bản
làng của đồng bào dân tộc Thái, Mường.
Du lịch nghiên cứu: tham quan nghiên cứu các công trình trong khu di
tích thành nhà Hồ, nghiên cứu các điều kiện về địa chất, địa mạo, đa dạng sinh
học của khu BTTN Pu Luông, nghiên cứu hiện tượng của suối cá thần Cẩm
Lương.
Du lịch sinh thái: Các hoạt động du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng khu
BTTN Pu Luông. Bên cạnh những hoạt động tham quan các cảnh vật tự nhiên
và nhân văn, du khách còn được tham gia các lễ hội, thưởng thức các món ăn
đặc sản quê hương, các món ăn của đồng bào dân tộc.
thuế, đất đai, bảo hiểm… để có điều kiện thu hút đối tác nhanh chóng đầu tư vào
một số điểm du lịch quan trọng
- Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực đặc biệt quan tâm đến đội ngũ trực
tiếp kinh doanh du lịch.
- Giải pháp về quản lí (gồm quản lí Nhà nước và quản lí kinh doanh).
- Đẩy nhanh công tác quảng bá du lịch.
- Thực hiện một số biện pháp bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội, bảo
đảm môi trường.
3.2. Những kiến nghị và tổ chức thực hiện.
Địa lý địa phương: Tiềm năng du lịch miền núi và trung du tỉnh Thanh Hóa.
22
- Tăng cường sự lãnh đạo và chỉ đạo của Đảng và Nhà nước để không
ngừng nâng cao nhận thức đúng đắn và đổi mới phát triển du lịch hiện nay trong
các cấp, các ngành và trong các tầng lớp nhân dân.
- Củng cố, kiện toàn bộ máy quản lí Nhà nước về du lịch ở các huyện, các
xã có các điểm du lịch trọng điểm.
- Tăng cường hoạt động của các cơ quan tuyên truyền tại trung ương và
địa phương để chuyển tải các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về
phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch dựa vào cộng đồng dân cư.
- Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, giao thông vận tải, thông tin liên lạc,
nâng cao chất kượng cuộc sống, trình độ văn hoá nhằm xoá đói giảm nghèo,
phát triển kinh tế xã hội ở các xã vùng sâu, đặc biệt khó khăn.
- Phối hợp với Tổng cục du lịch, các sở, ban, ngành và các địa phương
liên quan để tiến hành triển khai thực hiện các dự án phát triển du lịch trọng
điểm trong chương trình phát triển các sản phẩm du lịch Thanh Hoá:
* Một số đề án, dự án đang được triển khai xây dựng như:
+ Lập hồ sơ khoa học đề nghị UNESCO công nhận di sản văn hóa thế
giới thành nhà Hồ và hang Con Moong (chủ trì: BCĐ tỉnh) đang trong giai đoạn
hoàn chỉnh;
+ Dự án: Bảo tồn làng cổ - làng Ngọc, xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thủy;