ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRIỆU HUY CHUNG
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG
SỬ DỤNG BỀN VỮNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN
Ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 60.85.01.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Người hướng dẫn khoa học: TS. Lê Văn Thơ
Thái Nguyên, năm 2014
ii
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luân văn này, tôi đã nhận
được sự quan tâm giúp đỡ tận tình của các tập thể và cá nhân. Nhân dịp này tôi xin bày
tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến:
Tôi xin trân trọng cảm ơn TS. Lê Văn Thơ đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong
suốt thời gian thực hiện đề tài, cũng như trong quá trình hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Trường Đại học nông lâm Thái
nguyên; Phòng đào tạo sau đại học, Khoa quản lý tài nguyên, phòng Tài nguyên và
Môi trường, phòng Thống kê, phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Chợ
Đồn, tỉnh Bắc Kạn. Trân trọng cảm ơn các cán bộ, nhân dân địa phương nơi tôi tiến
hành điều tra nghiên cứu đã tận tình giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn. Trân thành
cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp đã khích lệ tôi thực hiện đề tài.
1.2.1.2. Hiệu quả xã hội .............................................................................................11
1.2.1.3. Hiệu quả môi trường .....................................................................................11
1.2.2. Đặc điểm, phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp................12
1.2.2.1. Đặc điểm đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp.................................12
1.2.2.2. Nguyên tắc lựa chọn chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp......13
1.2.2.3. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp .................13
1.3. Sử dụng đất nông nghiệp theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững..........15
1.3.1. Sự cần thiết phải xây dựng nền nông nghiệp bền vững .....................................15
1.3.2. Định hướng sử dụng đất nông nghiệp...............................................................17
iv
1.4. Những nghiên cứu liên quan đến nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
và sản xuất nông nghiệp bền vững .............................................................................20
1.4.1. Các nghiên cứu trên thế giới.............................................................................20
1.4.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam.........................................................................21
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU .........................................................................................................25
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .......................................................................25
2.2. Nội dung nghiên cứu...........................................................................................25
2.2.1. Điều tra, đánh giá về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội. ....................................25
2.2.2. Thực trạng phát triển nông nghiệp huyện Chợ Đồn ..........................................25
2.2.3. Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp .....................................................25
2.2.4. Định hướng và các giải pháp chủ yếu sử dụng bền vững đất nông nghiệp trên địa
bàn huyện ..................................................................................................................26
2.3. Phương pháp nghiên cứu.....................................................................................26
2.3.1. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu.................................................................26
2.3.2. Phương pháp điều tra số liệu thứ cấp................................................................27
2.3.3. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp ................................................................27
2.3.4. Phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường ........................28
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ......................................................................................75
1. Kết luận .................................................................................................................75
2. Đề nghị ..................................................................................................................76
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................................77
I. Tài liệu tiếng Việt...................................................................................................77
II. Tài liệu tiếng Anh .................................................................................................80
1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất là tài nguyên vô cùng quý giá, là nơi phát triển xây dựng các cơ sở kinh
tế - văn hoá - xã hội. Đặc biệt đất là tư liệu không có gì thay thế được trong sản xuất
nông - lâm - ngư nghiệp. Hầu hết các nước trên thế giới đều xây dựng một nền kinh
tế trên cơ sở phát triển nông nghiệp dựa vào khai thác tiềm năng của đất, lấy đó làm
cơ sở cho sự phát triển của các ngành khác. Do đó, việc tổ chức sử dụng nguồn tài
nguyên đất đầy đủ hợp lý, đem lại hiệu quả cao và phát triển bền vững đang trở
thành vấn đề cấp thiết.
Trong mấy thập kỷ gần đây, do sự gia tăng của dân số quá nhanh cùng với sự
phát triển của Khoa học kỹ thuật đã làm cho nhu cầu sử dụng đất ngày càng cao.
Đất không những dành cho nông - lâm - ngư nghiệp mà còn tham gia vào mục đích
khác như công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ, giao thông,… Việc sử dụng đất vào
nhiều mục đích đã làm ảnh hưởng tới đất theo nhiều hướng khác nhau. Trên thế giới
nói chung và ở Việt Nam nói riêng, đất được quan tâm với nội dung phát triển bền
vững, trong đó việc sử dụng đất bền vững là một lí do để FAO đề ra “Hiến chương
đất đai” hợp lý vì sự an toàn lương thực và sự tồn tại của loài người trên thế giới.
Vấn đề cấp thiết có tính toàn cầu là cần có kế hoạch, biện pháp bảo vệ và xây
dựng đầy đủ, hợp lý tài nguyên đất - nguồn tài nguyên đang trở nên khan hiếm để
phát triển nông nghiệp bền vững. Đặc biệt, ở Việt Nam là một nước nằm trong khu
hướng sử dụng bền vững đất nông nghiệp huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn”
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng sử dụng đất nông nghiệp góp phần giúp người dân lựa
chọn loại hình sử dụng đất phù hợp với điều kiện cụ thể của huyện.
- Định hướng và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất
nông nghiệp trên địa bàn huyện.
1.3. Yêu cầu của đề tài
- Điều tra, đánh giá các loại hình sử dụng đất hiện tại và lựa chọn các loại
hình sử dụng đất thích hợp trong tương lai.
- Đề xuất định hướng và những giải pháp phù hợp nhằm khai thác, phát huy
tiềm năng và sử dụng hợp lý đất nông nghiệp đảm bảo hiệu quả, bền vững.
3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lý luận về sử dụng đất nông nghiệp
1.1.1. Đất nông nghiệp và tình hình sử dụng đất nông nghiệp
Theo Luật đất đai năm 2003, đất nông nghiệp được chia ra làm các nhóm đất
chính sau: đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất
làm muối và đất nông nghiệp khác [16]. Sự phân chia cụ thể này sẽ giúp cho việc
khai thác tiềm năng và nâng cao hiệu quả sử dụng của từng loại đất.
Cùng với việc phát triển mạnh mẽ kinh tế - xã hội, công nghệ, khoa học và
kỹ thuật, công năng của đất được mở rộng và có vai trò quan trọng đối với cuộc
sống của con người. Nhân loại đã có những bước tiến kỳ diệu làm thay đổi bộ mặt
trái đất và mức sống hằng ngày. Tuy nhiên, do chạy theo lợi nhuận tối đa cục bộ
không có một chiến lược phát triển chung nên đã gây ra những hậu quả tiêu cực
như: ô nhiễm môi trường, thoái hoá đất… Hàng năm gần 12 triệu ha rừng nhiệt đới
nay nhằm thoả mãn nhu cầu của xã hội về nông sản đang trở thành một trong các
mối quan tâm lớn nhất của người quản lý và sử dụng đất.
Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới (WB), tổng sản lượng lương thực sản
xuất ra chỉ đáp ứng nhu cầu cho khoảng 6 tỉ người trên thế giới, tuy nhiên có sự phân
bổ không đồng đều giữa các vùng. Nông nghiệp sẽ phải gánh chịu sức ép từ nhu cầu
lương thực thực phẩm ngày càng tăng của con người.
Hiện nay trên thế giới có khoảng 3,3 tỉ ha đất nông nghiệp, trong đó đã khai
thác được 1,5 tỉ ha; còn lại phần đa là đất xấu, sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó
khăn. Qui mô đất nông nghiệp được phân bố như sau: châu Mỹ chiếm 35%, châu Á
chiếm 26%, châu Âu chiếm 13%, châu Phi chiếm 20%, châu Đại Dương chiếm 6%.
Bình quân đất nông nghiệp trên đầu người trên toàn thế giới là 12.000m2. Trong đó ở
Mỹ 2.000m2, ở Bungari 7.000m2, ở Nhật Bản 650m2. Theo báo cáo của UNDP năm
1995 ở khu vực Đông Nam Á bình quân đất canh tác trên đầu người của các nước
như sau: Indonesia 0,12ha; Malaysia 0,27ha; Philipin 0,13ha; Thái Lan 0,42ha; Việt
Nam 0,1ha [17].
1.1.2. Nông nghiệp vùng khí hậu nhiệt đới
Diện tích vùng nhiệt đới chiếm khoảng 1/3 diện tích lục địa với diện tích đất
nông nghiệp có ích khoảng 1,4 tỷ ha. Điều kiện khí hậu - đất đai và kinh tế xã hội
đã tạo cho nông nghiệp nhiệt đới có những nét riêng biểu hiện trên các hệ thống cây
5
trồng, vật nuôi. Vùng nhiệt đới ẩm với đặc điểm mưa nhiều, tập trung gây dòng
chảy và xói mòn nghiêm trọng. Đất đai phần lớn là màu mỡ nhưng so với vùng ôn
đới thì không tốt bằng vì ít chất mùn, các xác vi sinh vật mau bị khoáng hoá. Khí
hậu và đất vùng nhiệt đới phần lớn thích hợp cho việc trồng cây lâu năm, cà phê,
chè, ca cao và các lọai cây ăn quả nhiệt đới. Đối với những vùng đất trũng, đất phù
sa, đất giàu chất hữu cơ… rất thích hợp cho việc gieo trồng các giống cây ngắn
ngày, cây lương thực. Hiện nay, ở các vùng nhiệt đới, đất nông nghiệp được sử
thâm canh tăng vụ trong nông nghiệp đã làm phá huỷ cấu trúc đất, xói mòn và suy
kiệt dinh dưỡng.
Dự án điều tra, đánh giá tốc độ thoái hoá đất ở một số nước vùng nhiệt đới
Châu Á cho phát triển nông nghiệp bền vững trong chương trình môi trường của
Trung tâm Đông Tây và khối các trường đại học Đông Nam Châu Á [40] đã tập
trung nghiên cứu những thay đổi dinh dưỡng trong hệ sinh thái nông nghiệp. Kết
quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng các yếu tố dinh dưỡng N, P, K của hầu hết các hệ sinh
thái đều bị suy giảm. Nghiên cứu cũng chỉ ra nguyên nhân của sự thất thoát dinh
dưỡng trong đất do thâm canh thiếu phân bón và đưa các sản phẩm của cây trồng,
vật nuôi ra khỏi hệ thống.
Ở Việt Nam, các kết quả nghiên cứu đều cho thấy đất ở vùng trung du miền
núi đều nghèo các chất dinh dưỡng P, K, Ca và Mg. Để đảm bảo đủ dinh dưỡng, đất
không bị thoái hoá thì N, P là hai yếu tố cần phải được bổ sung thường xuyên. Trong
quá trình sử dụng đất, do chưa tìm được các loại hình sử dụng đất hợp lý hoặc chưa
có công thức luân canh hợp lý cũng gây ra hiện tượng thoái hoá đất như vùng đất dốc
mà trồng cây lương thực, đất có dinh dưỡng kém lại không luân canh với cây họ đậu.
Trong điều kiện nền kinh tế kém phát triển, người dân đã tập trung chủ yếu vào trồng
cây lương thực đã gây ra hiện tượng xói mòn, suy thoái đất. Điều kiện kinh tế và sự
hiểu biết của con người không đầy đủ sẽ dẫn tới việc sử dụng phân bón còn nhiều hạn
chế và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật quá nhiều, ảnh hưởng tới môi trường. Tadon
H.L.S [42] chỉ ra rằng “sự suy kiệt đất và các chất dự trữ trong đất cũng là biểu hiện
thoái hoá về môi trường, do vậy việc cải tạo độ phì của đất là đóng góp cho cải thiện
cơ sở tài nguyên thiên nhiên và còn hơn nữa cho chính môi trường”.
Hiện nay những vấn đề môi trường đã trở nên mang tính toàn cầu và được
phân thành 2 loại chính: một loại gây ra bởi công nghiệp hoá và các kỹ thuật hiện đại,
loại khác gây ra bởi lối canh tác tự nhiên. Hệ sinh thái nhiệt đới vốn cân bằng một
cách mỏng manh rất dễ bị đảo lộn bởi các phương thức canh tác phản tự nhiên, buộc
7
học - kỹ thuật, đất đai, lao động qua liên kết trao đổi để phát triển cây trồng, vật
nuôi có tỉ xuất hàng hoá cao, tăng sức cạnh tranh và hướng tới xuất khẩu.
8
- Trên quan điểm phát triển hệ thống nông nghiệp, thực hiện sử dụng đất nông
nghiệp theo hướng tập trung chuyên môn hoá, sản xuất hàng hóa theo hướng ngành
hàng, nhóm sản phẩm, thực hiện thâm canh toàn diện và liên tục. Thâm canh cây trồng
vật nuôi vừa để đảm bảo nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp vừa để
đảm bảo phát triển một nền nông nghiệp ổn định.
- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên cơ sở thực hiện “đa dạng
hoá” hình thức sở hữu, tổ chức sử dụng đất nông nghiệp, đa dạng hoá cây trồng vật
nuôi, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp với sinh thái và bảo vệ môi trường.
- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp gắn liền với chuyển dịch cơ
cấu sử dụng đất nông nghiệp và quá trình tập trung ruộng đất nhằm giải phóng bớt
lao động sang các hoạt động phi nông nghiệp khác.
- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của huyện phải phù hợp và gắn
liền với định hướng phát triển kinh tế - xã hội chung trong khai thác sử dụng đất
vùng đồng bằng sông Hồng. Các quan điểm sử dụng đất nông nghiệp cụ thể là:
+ Quan điểm khai thác triệt để, hợp lý có hiệu quả quỹ đất nông nghiệp
+ Quan điểm chuyển mục đích sử dụng phù hợp.
+ Quan điểm duy trì và bảo vệ đất nông nghiệp.
+ Quan điểm tiết kiệm, làm giàu đất nông nghiệp.
+ Quan điểm bảo vệ môi trường đất để sử dụng lâu dài.
1.2. Hiệu quả sử dụng đất và đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.2.1. Khái quát về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất
Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả. Nói một cách tổng chung nhất
thì hiệu quả chính là kết quả như yêu cầu của việc làm mang lại [26].
Hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ đợi
sản xuất trong nước với thị trường quốc tế [1].
Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây
trồng vật nuôi là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước
trên thế giới. Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà
hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là mong muốn của
nông dân - những người trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp [37].
Hiện nay, các nhà khoa học đều cho rằng, vấn đề đánh giá hiệu quả sử dụng
đất không chỉ xem xét đơn thuần ở một mặt hay một khía cạnh nào đó mà phải xem
xét trên tổng thể các mặt bao gồm: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả
môi trường.
10
1.2.1.1. Hiệu quả kinh tế
Theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là
quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối có kế hoạch thời gian lao động theo các
ngành sản xuất khác nhau. Theo nhà kinh tế Samuel - Nordhuas thì “Hiệu quả là
không lãng phí”. Theo các nhà khoa học Đức (Stienier, Hanau, Rusteruyer,
Simmerman) hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một
đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất
trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích cho xã hội [26].
Hiệu quả kinh tế là phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới nền sản
xuất hàng hoá với tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác nhau. Vì thế, hiệu
quả kinh tế phải đáp ứng được 3 vấn đề:
- Một là mọi hoạt động của con người đều phải quan tâm và tuân theo quy
luật “tiết kiệm thời gian”, nó là động lực phát triển của lực lượng sản xuất, là điều
kiện quyết định phát triển văn minh xã hội và nâng cao đời sống con người qua mọi
thời đại;
- Hai là hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm của lý thuyết hệ
Hiệu quả vật lý môi trường được thể hiện thông qua việc lợi dụng tốt nhất tài
nguyên khí hậu như ánh sáng, nhiệt độ, nước mưa của các kiểu sử dụng đất để đạt
được sản lượng cao và tiết kiệm chi phí đầu vào.
1.2.2. Đặc điểm, phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.2.2.1. Đặc điểm đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp
Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là rất cần thiết, có thể xem xét ở
các mặt [26];
- Quá trình sản xuất trên đất nông nghiệp phải sử dụng nhiều yếu tố đầu vào
kinh tế. Vì thế, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trước tiên phải được
xác định bằng kết quả thu được trên một đơn vị diện tích cụ thể (thường là 1 ha),
tính trên 1 đồng chi phí, trên 1 công lao động.
- Trên đất nông nghiệp có thể bố trí các cây trồng, các hệ thống luân canh, do đó
cần phải đánh giá hiệu quả từng loại cây trồng, từng công thức luân canh.
- Thâm canh là biện pháp sử dụng đất nông nghiệp theo chiều sâu, tác động
đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trước mắt và lâu dài. Vì thế, cần phải nghiên
cứu hậu quả của việc sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu, nghiên cứu ảnh hưởng của
việc tăng đầu tư thâm canh đến quá trình sử dụng đất.
- Phát triển nông nghiệp chỉ có thể thích hợp được khi con người biết làm
cho môi trường cùng phát triển [5]. Do đó, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp cần quan tâm đến những ảnh hưởng của sản xuất nông nghiệp đến môi
trường xung quanh.
- Hoạt động sản xuất nông nghiệp mang tính xã hội rất sâu sắc [5]. Vì vậy,
khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần quan tâm đến những tác động
13
của sản xuất nông nghiệp đến các vấn đề xã hội khác như: giải quyết việc làm, tăng
thu nhập, nâng cao trình độ dân trí nông thôn…
1.2.2.2. Nguyên tắc lựa chọn chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
* Hiệu quả kinh tế
+ Hiệu quả kinh tế tính trên 1 ha đất nông nghiệp
- Giá trị sản xuất (GO): Là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ được
tạo ra trong 1 kỳ nhất định (thường là một năm).
- Chi phí trung gian (IC): Là toàn bộ các khoản chi phí vật chất thường
xuyên bằng tiền mà chủ thể bỏ ra để thuê và mua các yếu tố đầu vào và dịch vụ sử
dụng trong quá trình sản xuất.
- Giá trị gia tăng (VA): là hiệu số giữa giá trị sản xuất và chi phí trung gian,
là giá trị sản phẩm xã hội tạo ra thêm trong thời kỳ sản xuất đó.
VA = GO - IC
+ Hiệu quả kinh tế tính trên 1 đồng chi phí trung gian (GO/IC, VA/IC): Đây
là chỉ tiêu tương đối của hiệu quả, nó chỉ ra hiệu quả sử dụng các chi phí biến đổi và
thu dịch vụ.
+ Hiệu quả kinh tế trên ngày công lao động quy đổi, gồm có (GO/LĐ,
VA/LĐ). Thực chất là đánh giá kết quả đầu tư lao động sống cho từng kiểu sử dụng
đất và từng cây trồng làm cơ sở để so sánh với chi phí cơ hội của người lao động.
* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội được phân tích bởi các chỉ tiêu về mức thu hút lao động,
mức độ sử dụng lao động, tạo việc làm, tăng thu nhập [31].
+ Đáp ứng mục tiêu chiến lược phát triển của vùng;
+ Thu hút nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm cho nông dân;
+ Góp phần định canh định cư, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật.
* Các chỉ tiêu về hiệu quả môi trường
Theo Đỗ Nguyên Hải [8], chỉ tiêu đánh giá chất lượng môi trường trong quản
lý sử dụng đất bền vững ở vùng nông nghiệp được tưới là:
+ Quản lý đối với đất đai rừng đầu nguồn;
+ Đánh giá các tài nguyên nước bền vững;
+ Đánh giá quản lý đất đai;
+ Đánh giá hệ thống cây trồng;
nhiên thì thiên nhiên cũng có những phản ứng chống trả lại không kém phần gay
gắt. Những phản ứng này của thiên nhiên trong nông nghiệp thể hiện ở sự huỷ hoại
nhiều hệ sinh thái, lũ lụt, hạn hán, sâu bệnh, dịch bệnh nhiều.
Đứng trước những tác động sâu sắc có tính huỷ hoại đến thiên nhiên và trước
những phản ứng ngày càng mạnh mẽ của thiên nhiên, trước nạn ô nhiễm môi trường,
phá huỷ tầng ôzôn khí quyển... thì một vấn đề hết sức cấp bách được đặt ra là phải từ
16
bỏ mọi các tác động mạnh mẽ đến thiên nhiên, có nghĩa là sản xuất nông nghiệp trong
thời đại hiện nay không thể dựa chủ yếu vào vật tư, công cụ máy móc, phân bón hóa
học, chế phẩm hoá học... mà sản xuất nông nghiệp phải dựa vào trí tuệ, dựa vào kiến
thức khoa học kỹ thuật và đó cũng chính là sản xuất nông nghiệp theo quan điểm sinh
thái và phát triển bền vững.
- Nền nông nghiệp sinh thái học là một nền nông nghiệp không loại trừ
phân bón hoá học, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc kích thích sinh trưởng... mà sử
dụng chúng một cách hợp lý hơn, có hiệu quả hơn, tránh ô nhiễm môi trường. Hay
một nền nông nghiệp sinh thái học phải là một nền nông nghiệp có sự kết hợp hài
hoà những cái tích cực, đúng đắn, hợp lý của hai nền nông nghiệp- công nghiệp
hoá và sinh học nông nghiệp: Phải biết chắt lọc, phát huy thế mạnh, tính ưu việt
của từng nền nông nghiệp và kiên quyết loại bỏ những tồn tại của chúng. Nền
nông nghiệp sinh thái phải tuân thủ theo các nguyên tắc: Không phá hoại môi
trường; Đảm bảo năng suất ổn định; Đảm bảo khả năng thực thi, không phụ thuộc
vào bên ngoài; ít phụ thuộc vào hàng nhập ngoại, [14].
- Nông nghiệp bền vững là một nền nông nghiệp xây dựng được một hệ
thống ổn định về mặt sinh thái, có tiềm lực về mặt kinh tế, thoả mãn các nhu cầu cả
ở hiện tại và trong tương lai. Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về nông nghiệp bền
vững tuỳ vào từng điều kiện cụ thể:
Theo Baier (1990): Hệ thống nông nghiệp bền vững là một hệ thống có hiệu
mọi người trực tiếp làm nông nghiệp.
+ Duy trì và tăng cường khả năng sản xuất của các cơ sở sử dụng tài nguyên
thiên nhiên và khả năng tái sản xuất của các nguồn tài nguyên tái tạo được mà
không phá vỡ chức năng của các chu trình sinh thái cơ sở và sự cân bằng tự nhiên.
Không phá vỡ bản sắc văn hoá xã hội của các cộng đồng sống ở nông thôn hoặc
không gây ra những sự nhiễm độc trong môi trường sống.
+ Giảm thiểu khả năng bị tổn thương trong nông nghiệp, củng cố lòng tin
trong nhân dân. [14].
1.3.2. Định hướng sử dụng đất nông nghiệp
Định hướng sử dụng đất nông nghiệp là xác định một cơ cấu sản xuất nông
nghiệp trong đó có cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện sinh thái của
vùng lãnh thổ. Hay nói cách khác định hướng sử dụng đất nông nghiệp là xác định
cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp phù hợp với cơ cấu cây trồng và vật nuôi.
Muốn xác định được cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp thì đòi hỏi phải tiến hành
18
nghiên cứu về hệ thống cây trồng, hệ thống canh tác. Phải nghiên cứu về các mối
quan hệ giữa cây trồng với cây trồng, cây trồng với các điều kiện tự nhiên (khí hậu,
thuỷ văn, tính chất đất đai...), cây trồng với các điều kiện tự kinh tế - xã hội chi phối
(lao động, quản lý thị trường, tập quán, kinh nghiệm sản xuất ...) vì với những điều
kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khác nhau thì sẽ tồn tại những hệ thống khác nhau.
Trên cơ sở nghiên cứu hệ thống cây trồng và các mối quan hệ của chúng
với môi trường để định hướng sử dụng đất nông nghiệp phù hợp với điều kiện
của từng vùng.
Định hướng sử dụng đất nông nghiệp cũng chính là xác định loại hình sử
dụng đất phù hợp với mỗi đơn vị đất đai cụ thể. Định hướng sử dụng đất nông
nghiệp phải dựa trên các căn cứ sau:
+ Kết quả của công tác đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp hoặc
trách nhiệm về hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Do đó không thể áp đặt
cho họ một hệ thống cây trồng nào đó. Do vậy chỉ có thể vận động họ thông qua
con đường khuyến nông để nông dân chủ động nắm bắt những thành tựu khoa học
kỹ thuật, nhanh chóng áp dụng những mô hình tiến bộ vào sản xuất. Các chủ hộ
nông dân căn cứ vào khả năng của nông hộ để quyết định lựa chọn hệ thống cây
trồng thích hợp, [31].
+ Chuyển đổi hệ thống cây trồng đi đôi với việc bảo vệ môi trường sinh thái.
Xây dựng hệ thống nông nghiệp bền vững và an toàn về lương thực.
Hệ sinh thái nông nghiệp là hệ sinh thái nhân tạo do con người tạo ra. Cây
trồng và vật nuôi là thành phần sống quan trọng của hệ sinh thái nông nghiệp, nó
quan hệ chặt chẽ với các yếu tố của hệ sinh thái nhất là đối với yếu tố đất đai, bởi vì
cây trồng sống được phải nhờ đất. Đất là nơi cung cấp chất dinh dưỡng và nước cho
cây trồng sinh trưởng và phát triển. Mọi sự thay đổi về đất đai đều ảnh hưởng trực
tiếp đến cây trồng. Một hệ thống cây trồng chuyển đổi nếu thực sự có hiệu quả thì
phải bảo vệ được môi trường đất và phải làm tăng độ phì nhiêu của đất, [34].
Vấn đề an toàn lương thực là một vấn đề hết sức quan trọng của mỗi quốc gia.
An toàn lương thực có nghĩa là phải đáp ứng đủ nhu cầu về lương thực của tất cả mọi
người (cả người sản xuất nông nghiệp và người làm công việc phi nông nghiệp).
Nhưng không phải là sản xuất lương thực bằng mọi giá mà cần phải căn cứ vào điều
kiện cụ thể của từng vùng để bố trí hệ thống cây trồng cho hợp lý và hài hoà.
Đối với nước ta đất đai là nguồn tài nguyên hạn chế, đất chật người đông và
đang trên đà phát triển về mọi mặt do vậy nhu cầu về sử dụng đất đai của tất cả các
20
ngành kinh tế đều là rất lớn. Vì vậy, đất đai phải được sử dụng đúng mục đích, hợp
lý và tiết kiệm theo những quan điểm cơ bản sau đây:
+ Đất đai phải được sử dụng theo quy hoạch và kế hoạch, điều này vừa đảm
bảo được sự thống nhất của Nhà nước trong việc quản lý đất đai vừa phát huy được