BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
VŨ THỊ THƯƠNG
NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG BỀN VỮNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
HÀ NỘI, 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
VŨ THỊ THƯƠNG
NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG BỀN VỮNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
MÃ SỐ: 62 85 01 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. CAO VIỆT HÀ
PGS. TS. VŨ NĂNG DŨNG
HÀ NỘI, 2015
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả
nghiên cứu trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng dùng bảo
vệ để lấy bất kỳ học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được
cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận án này đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2015
Tác giả luận án
Vũ Thị Thương
ii
LỜI CẢM ƠN
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3
3 Ý nghĩa của đề tài 3
4 Những đóng góp mới của luận án 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở lý luận về sử dụng bền vững đất nông nghiệp 4
1.1.1 Một số khái niệm liên quan về đất và sử dụng đất nông nghiệp 4
1.1.2 Sử dụng bền vững đất nông nghiệp 11
1.2 Những nghiên cứu và ứng dụng về sử dụng bền vững đất nông nghiệp 25
1.2.1 Những nghiên cứu và ứng dụng về sử dụng bền vững đất nông nghiệp
trên thế giới 25
1.2.2 Những nghiên cứu và ứng dụng về sử dụng bền vững đất nông nghiệp
ở Việt Nam 28
1.2.3 Định hướng nghiên cứu cho huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang trong
vấn đề sử dụng bền vững đất nông nghiệp 44
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 47
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 47
2.2 Nội dung nghiên cứu 47
2.2.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội liên quan đến sử dụng đất
nông nghiệp huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang 47
2.2.2 Đánh giá thực trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Lục Ngạn, tỉnh
Bắc Giang 47
iv
2.2.3 Đánh giá tính bền vững trong sử dụng đất nông nghiệp huyện Lục
Ngạn, tỉnh Bắc Giang 48
2.2.4 Đánh giá, phân hạng thích hợp đất đai phục vụ sản xuất nông nghiệp
huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang 48
2.2.5 Xây dựng và đánh giá một số mô hình sản xuất nông nghiệp huyện
Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang 48
2.2.6 Định hướng sử dụng bền vững đất nông nghiệp huyện Lục Ngạn, tỉnh
Bắc Giang 48
3.4 Đánh giá, phân hạng thích hợp đất đai huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang 95
3.4.1 Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 95
3.4.2 Phân hạng thích hợp đất đai cho các loại sử dụng đất nông nghiệp
huyện Lục Ngạn 112
3.5 Kết quả theo dõi một số mô hình sử dụng bền vững đất nông nghiệp
huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang 116
3.5.1 Mô hình trồng cây vải thiều kết hợp cây che phủ là cúc Thái Lan 116
3.5.2 Mô hình 2 lúa - màu 118
3.5.3 Mô hình rừng sản xuất 121
3.5.4 Mô hình trồng chuyên lúa 122
3.6 Định hướng sử dụng bền vững đất nông nghiệp huyện Lục Ngạn, tỉnh
Bắc Giang 124
3.6.1 Các căn cứ 124
3.6.2 Quan điểm sử dụng bền vững đất nông nghiệp huyện Lục Ngạn 129
3.6.3 Định hướng sử dụng bền vững đất nông nghiệp huyện Lục Ngạn đến 2020 130
3.6.4 Một số giải pháp nâng cao tính bền vững sử dụng đất nông nghiệp
huyện Lục Ngạn 134
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 141
1 Kết luận 141
2 Kiến nghị 143
Danh mục các công trình đã công bố có liên quan đến luận án 144
Tài liệu tham khảo 145
Phụ lục 153
vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt
Viết đầy đủ
ACIAR
Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp quốc tế Australian
(Australian Centre for International Agricultural Research)
LM
LX
NN&PTNT
Lúa mùa
Lúa xuân
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
NS
Năng suất
NTTS
Nuôi trồng thuỷ sản
PTNT
Phát triển Nông thôn
PTBV
Phát triển bền vững
TBKHKT
Tiến bộ khoa học kỹ thuật
vii
TDMNPB
Trung du miền núi phía Bắc
TV1
Tiểu vùng 1
TV2
Tiểu vùng 2
UNCCD
Công ước Chống sa mạc hóa của Liên hợp quốc
(United Nations Convention to Combat Desertification)
UNEP
Chương trình Môi trường Liên hợp quốc
(United Nations Environment Programme)
UNESCO
3.4 Giá trị sản xuất của ngành Nông - Lâm - Thuỷ sản 66
3.5 Biến động dân số của huyện Lục Ngạn giai đoạn 2000 - 2013 67
3.6 Hiện trạng sử dụng đất năm 2013 huyện Lục Ngạn 72
3.7 Biến động sử dụng đất nông nghiệp của huyện Lục Ngạn giai đoạn
2000 - 2013 73
3.8 Diễn biến diện tích, năng suất một số cây trồng chủ yếu của huyện
Lục Ngạn giai đoạn 2000 -2013 75
3.9 Diện tích các loại sử dụng đất của huyện 77
3.10 Hiệu quả kinh tế của các kiểu sử dụng đất tiểu vùng 1 80
ix
3.11 Hiệu quả kinh tế của các kiểu sử dụng đất tiểu vùng 2 81
3.12 Đánh giá hiệu quả xã hội của các kiểu sử dụng đất tiểu vùng 1 huyện
Lục Ngạn 83
3.13 Đánh giá hiệu quả xã hội của các kiểu sử dụng đất ở tiểu vùng 2 huyện
Lục Ngạn 84
3.14 Kết quả phân cấp hiệu quả môi trường của các kiểu sử dụng đất của
huyện Lục Ngạn 86
3.15 Đánh giá tính bền vững của các LUT tiểu vùng 1 90
3.16 Đánh giá tính bền vững của các LUT tiểu vùng 2 92
3.17 Phân tích thuận lợi và khó khăn trong phát triển một số loại hình sử
dụng đất nông nghiệp huyện Lục Ngạn 93
3.18 Tổng hợp các yếu tố, chỉ tiêu và ngưỡng phân cấp phục vụ xây dựng
bản đồ đơn vị đất đai 96
3.19 Các loại đất huyện Lục Ngạn 98
3.20 Một số tính chất hóa học của của phẫu diện đất phù sa không được bồi
chua huyện Lục Ngạn 99
3.21 Một số tính chất hóa học của phẫu diện đất phù sa glây huyện Lục Ngạn 100
3.22 Một số tính chất hóa học của phẫu diện đất phù sa ngòi suối huyện
Lục Ngạn 101
3.23 Một số tính chất hóa học của phẫu diện đất đỏ vàng trên đá sét huyện
DANH MỤC CÁC HÌNH
TT
Tên hình
Trang
3.1 Vị trí địa lý của huyện Lục Ngạn 59
3.2 Sơ đồ địa hình của huyện Lục Ngạn 60
3.3 Diễn biến cơ cấu kinh tế huyện Lục Ngạn giai đoạn 2000 - 2013 65
3.4 Diễn biến cơ cấu GTSX nông - lâm - thủy sản giai đoạn 2000 - 2013 66
3.5 Tỷ lệ diện tích các loại hình sử dụng đất huyện Lục Ngạn năm 2013 78
3.6 Sơ đồ đơn vị đất đai huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang 109
3.7 Sơ đồ đề xuất sử dụng bền vững đất nông nghiệp huyện Lục Ngạn,
tỉnh Bắc Giang 133
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sản xuất nông nghiệp có vai trò rất quan trọng, không những cung cấp
lương thực, thực phẩm cho con người, đảm bảo nguồn nguyên liệu cho các ngành
công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và công nghiệp chế biến lương thực, thực
phẩm mà còn tạo ra những mặt hàng có giá trị xuất khẩu, tăng thêm nguồn thu
ngoại tệ. Hiện nay, với trên 70% dân số và lao động xã hội đang sống ở vùng
nông thôn, ngành nông nghiệp có vị trí, vai trò đặc biệt trong nền kinh tế nước ta
vì vậy việc sử dụng đất nông nghiệp hợp lý có ý nghĩa quan trọng.
Trong những năm qua, nền nông nghiệp Việt Nam đã đạt được những
thành tựu to lớn, tạo ra và duy trì quá trình tăng trưởng sản xuất, đảm bảo an ninh
lương thực, xóa đói giảm nghèo. Nông nghiệp đã và đang chuyển sang hướng sản
xuất hàng hoá. Theo công bố của Tổng Cục thống kê, năm 2014, khu vực nông,
lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 18,12% trong tổng GDP của cả nước. Sản
xuất nông nghiệp không những đảm bảo an toàn lương thực quốc gia mà còn
mang lại nguồn thu cho nền kinh tế với việc tăng hàng hóa nông sản xuất khẩu.
Kim ngạch xuất khẩu hàng nông lâm thủy sản năm 2014 đã tăng mạnh so với
Ngạn có vùng cây ăn quả tập trung nhưng phần diện tích này còn phát triển
mang tính tự phát. Việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng chưa thành các vùng quy
mô đủ lớn nên kém bền vững, nhất là tiềm ẩn những rủi ro về thị trường. Những
lợi thế từ nông nghiệp để phát triển du lịch, dịch vụ chưa được khai thác. Phát
triển sản xuất nông nghiệp tuy đã mang lại hiệu quả về mặt kinh tế nhưng cũng
có những tác động không nhỏ đến môi trường sinh thái nói chung và môi
trường đất nói riêng. Là huyện có địa hình chủ yếu là đồi núi, vấn đề xói mòn,
rửa trôi cũng là trở ngại trong sử dụng đất nông nghiệp của Lục Ngạn. Vì vậy,
để giải quyết những tồn tại trên, việc định hướng sử dụng bền vững đất nông
nghiệp có ý nghĩa quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội của
huyện Lục Ngạn.
3
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá thực trạng sử dụng và tiềm năng đất nông nghiệp của huyện
Lục Ngạn.
- Đề xuất sử dụng bền vững đất nông nghiệp huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc
Giang nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất và bảo vệ môi trường sinh thái.
3. Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa khoa học
Góp phần hệ thống hóa và bổ sung thêm những lý luận về đánh giá sử
dụng bền vững đất nông nghiệp vùng trung du và miền núi phía Bắc Việt Nam.
- Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu làm rõ đặc tính và tính chất đất đai đồng thời đề xuất
được hướng sử dụng bền vững đất nông nghiệp huyện Lục Ngạn. Kết quả
nghiên cứu của luận án sẽ giúp các nhà quản lý và sử dụng đất của huyện Lục
Ngạn có hướng sử dụng đất nông nghiệp một cách hệ thống, tiết kiệm, hiệu quả
và bền vững, nâng cao thu nhập cho hộ nông dân.
4. Những đóng góp mới của luận án
- Xác định được tính bền vững của các kiểu sử dụng đất trên địa bàn
huyện Lục Ngạn trên cơ sở phân tích, tổng hợp theo 5 tiêu chí sử dụng đất bền
hình, mặt nước (hồ, sông, suối, đầm lầy), các lớp trầm tích sát bề mặt, cùng với
nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật và động vật, trạng
thái định cư của con nguời, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện
5
tại để lại (san nền, hồ chứa nước, hay hệ thống thoát nước, đường xá, nhà cửa )
(FAO, 1993).
Theo Luật đất đai Việt Nam năm 1993 “Đất là tài sản quốc gia, là tư liệu
sản xuất chủ yếu, là đối tượng lao động đồng thời cũng là sản phẩm lao động.
Đất còn là vật mang của các hệ sinh thái tự nhiên và các hệ sinh thái canh tác, đất
là mặt bằng để phát triển nền kinh tế quốc dân” (Quốc hội nước Cộng hoà XHCN
Việt Nam, 1993).
Về mặt thổ nhưỡng, đất có những tính chất hoá học, lý học và các tính
chất khác Trong thành phần hoá học của đất, tuỳ mục đích sử dụng mà các nhà
chuyên môn quan tâm đến những chỉ tiêu khác nhau. Trong sử dụng đất nông
nghiệp những yếu tố liên quan đến cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng được quan
tâm (các yếu tố đa lượng đạm, lân, ka li, hàm lượng mùn, các yếu tố trung và vi
lượng; độ chua…; tính chất lý học như thành phần cơ giới, cấu tượng, keo đất,
dung tích hấp thu (Cao Liêm và cs., 1975).
Tuỳ theo tính chất của đất mà các nhà chuyên môn phân biệt các loại đất
với những tên gọi khác nhau. Việc đặt tên cho đất và sắp xếp theo thứ bậc của hệ
thống phân vị. Việc đặt tên đất được dựa trên cơ sở các kết quả nghiên cứu về
tiêu chuẩn phân loại có liên quan đến nguồn gốc phát sinh, đặc điểm hình thành,
hình thái phẫu diện và đặc điểm lý hóa học đất.
Phân loại đất cho một vùng lãnh thổ cần thực hiện 4 bước: Lựa chọn hệ
thống phân loại và xác định cấp phân vị cần áp dụng; thu thập và nghiên cứu
thông tin về điều kiện hình thành; khảo sát thực địa; phân tích đất (Bộ Khoa học
và Công nghệ, 2012).
* Các chức năng của đất đai: Theo FAO (1993), chức năng của đất đai
được thể hiện qua các mặt sau: sản xuất, điều chỉnh khí hậu, cân bằng sinh thái,
tồn trữ và cung cấp nguồn nước, dự trữ (nguyên liệu khoáng sản trong lòng đất);
của con người trong cả không gian lẫn thời gian. Nhu cầu tăng trưởng kinh tế -
xã hội phát triển mạnh, cùng với sự bùng nổ dân số đã làm cho mối quan hệ giữa
con người và đất ngày càng căng thẳng, những sai lầm liên tục của con người
trong quá trình sử dụng đất (có ý thức hoặc vô ý thức) dẫn đến hủy hoại môi
trường đất, một số chức năng nào đó của đất bị yếu đi. Sự suy thoái đất đai có thể
được kiểm soát, cải thiện tốt lên nếu như các chức năng phải được chú ý, các
7
mong ước điều lợi trước mắt ngắn hạn được thay bằng các mong ước lợi ích lâu
dài và bền vững ở các cấp từ toàn cầu cho đến các quốc gia và địa phương.
Trong sử dụng đất nông nghiệp các nhà chuyên môn đưa ra những khái
niệm cơ bản liên quan như:
- Hệ thống sử dụng đất: Hệ thống sử dụng đất là một loại sử dụng đất cụ
thể thực hiện trên một đơn vị đất đai và liên quan đến đầu tư, thu nhập và khả
năng cải tạo (FAO, 1983). Sử dụng đất trong sản xuất nông nghiệp phản ánh các
hoạt động khác nhau như các hệ thống (Land Use System - LUS). Những hệ
thống sử dụng đất như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, lâm nghiệp…
có mối quan hệ chặt chẽ với các yếu tố liên quan đến sản xuất như kỹ thuật công
nghệ, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tổ chức sản xuất, thị trường (Tôn
Thất Chiểu và Đỗ Đình Thuận, 1998).
- Loại sử dụng đất đai chính: Đất đai là nguồn tài nguyên cơ bản cho
nhiều phương thức sử dụng (Đào Châu Thu và Nguyễn Khang, 2002): Sử dụng
trên cơ sở sản xuất trực tiếp (làm đất canh tác để trồng trọt, làm đồng cỏ, trồng
rừng lấy gỗ ); Sử dụng trên cơ sở sản xuất gián tiếp (như làm bãi chăn thả,
chuồng trại chăn nuôi); Sử dụng vì mục đích bảo vệ (chống suy thoái đất, bảo tồn
đa dạng sinh học, bảo vệ các loài quý hiếm). Các hình thức sử dụng đất vừa nêu
được coi như là loại hình sử dụng đất chính. Ở thời kỳ bình minh của nhân loại
khi con người mới chỉ tạo ra sản phẩm nông nghiệp bằng hình thức tra lỗ bỏ hạt
hay thả rông gia súc trên đồng cỏ tự nhiên, đó là các hình thức của loại sử dụng
đất chính được gọi là "canh tác nhờ nước mưa”. Sau này khi thuỷ lợi được áp
dụng, con người biết đưa nước từ sông hồ vào đồng ruộng để canh tác lúa và hoa
: là những vùng đất cho là đáp ứng khá những yêu cầu
của mục đích sử dụng đất; Ít thích hợp - ký hiệu S
3
: là những vùng đất cho là
kém đáp ứng những yêu cầu của mục đích sử dụng đất.
* Hạng không thích hợp - ký hiệu N: là những vùng đất cho là không đáp
ứng những yêu cầu của mục đích sử dụng đất.
Quá trình đánh giá mức độ thích hợp, các điều kiện ưu tiên cho từng lĩnh
vực cần lưu ý như:
* Tính chất thổ nhưỡng (đặc tính lý hóa, dinh dưỡng đất) ưu tiên cho đánh
giá phân hạng trong trồng trọt.
* Khả năng cung cấp nước (điều kiện thủy lợi) ảnh hưởng nhiều đến
không chỉ trồng trọt mà cả chăn nuôi và NTTS.
* Những yếu tố khí tượng thủy văn đặc biệt ảnh hưởng đến trồng trọt,
NTTS, chăn nuôi cũng như lâm nghiệp.
9
* Điều kiện về vị trí đất đai, cơ sở hạ tầng giao thông là những căn cứ
quan trọng để bố trí vùng sản xuất tập trung gắn với các cơ sở chế biến, dịch vụ
bao tiêu sản phẩm.
Đánh giá đất đai cung cấp những thông tin quan trọng làm cơ sở để ra
quyết định trong quản lý sử dụng đất. Tổ chức FAO (1976) đã đưa ra phương
pháp đánh giá đất đai tự nhiên có xem xét thêm về yếu tố kinh tế. Đến năm 1993,
trên cơ sở kế thừa phương pháp cũ, FAO phát triển phương pháp đánh giá đất đai
cho quản lý sử dụng đất bền vững (đi sâu nghiên cứu đánh giá tổng hợp cả điều
kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường) (FAO, 1976, 1993b).
Bên cạnh đó, FAO cũng đã ấn hành một số hướng dẫn khác về đánh giá
khả năng thích hợp đất đai cho từng đối tượng: Đánh giá đất đai cho nông nghiệp
nhờ mưa (FAO, 1983); đánh giá đất đai cho nông nghiệp có tưới (FAO, 1985);
đánh giá đất cho đồng cỏ quảng canh (FAO, 1989); đánh giá đất đai và phân tích
hệ thống canh tác phục vụ quy hoạch sử dụng đất (FAO, 1993), khung đánh giá
- Về phương diện xã hội, hiệu quả sử dụng đất chính là tác động tích cực
về mặt xã hội, phản ánh mức độ giải quyết vấn đề xã hội như xóa đói giảm
nghèo, giải quyết việc làm, nâng cao dân trí Hiệu quả xã hội sử dụng đất nông
nghiệp còn mang ý nghĩa tiết kiệm đất trong điều kiện đất nông nghiệp ngày càng
bị thu hẹp.
- Về hiệu quả môi trường, trong sử dụng đất nông nghiệp, hiệu quả mang lại
chính là chất lượng đất không những không bị suy kiệt, mà còn được bồi bổ (tăng độ
phì, giảm xói mòn…). Việc đánh giá hiệu quả môi trường có thể thông qua một số
chỉ tiêu như tăng độ che phủ, tăng hàm lượng dinh dưỡng, tăng độ ẩm của đất
Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có thể nhìn nhận dưới góc độ thời gian
sử dụng đất, hay thời gian quay vòng đất để tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã
hội. Đó là lượng sản phẩm hay giá trị sản phẩm được làm ra trên đơn vị diện tích
đất nông nghiệp trong một chu kỳ sản xuất. Khi khoa học công nghệ phát triển
(như áp dụng các công nghệ tiên tiến, canh tác trong môi trường nhân tạo như
trên giá thể, trong nhà lưới, nhà kính, thuỷ canh…), người sản xuất có thể làm
chủ thời vụ, điều khiển một số yếu tố thời tiết khí hậu, cho phép nâng cao năng
suất chất lượng sản phẩm nông nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Từ thực
tiễn đó có thể nhắc lại quan điểm có tính kinh điển của Các Mác nhưng vẫn đúng
trong thời đại này, đó là quy luật tiết kiệm thời gian.
11
1.1.2. Sử dụng bền vững đất nông nghiệp
1.1.2.1. Khái niệm tổng quát về phát triển bền vững
Từ những năm 70 của Thế kỷ 20 trở về trước, Thế giới ít chú ý đến phát
triển bền vững nhất là về môi trường. Càng về sau này con người đã thấy, đi kèm
với tăng trưởng kinh tế là hàng loạt những hệ luỵ tới cuộc sống như tài nguyên
ngày càng cạn kiệt, thiên tai gia tăng, đất đai giảm độ phì, nghèo kiệt. Về phương
diện xã hội là tình trạng bất bình đẳng, môi trường sống xuống cấp như gia tăng
chất thải độc hại, nước sinh hoạt ô nhiễm, khí hậu biến đổi theo hướng nóng
lên… Năm 1984, Liên hợp quốc thành lập “Hội đồng thế giới về môi trường và
phát triển (WCED). Đến năm 1987, trong báo cáo của WCED đã đưa ra khái
là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc
làm) và bảo vệ môi trường (nhất là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải
thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp
lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao chất lượng
môi trường sống).
Phát triển bền vững không thể đạt được nếu không hiểu rõ các nguyên
nhân dẫn đến suy thoái tài nguyên và môi trường. Hầu hết các vấn đề môi trường
đều phát sinh từ chính những cấu trúc của hệ thống chính trị, kinh tế và xã hội
của mỗi quốc gia. Ở các nước đang phát triển, sự nghèo đói của người dân ở
nông thôn là gốc rễ của suy thoái môi trường (Nguyễn Văn Trương, 2006)
Ở Việt Nam, vấn đề phát triển bền vững ngày càng được coi trọng. Năm
1992 Việt Nam tham gia Hội nghị Môi trường và Phát triển tại Rio-de-Janero và sau
đó là Hội nghị thượng đỉnh về Phát triển bền vững ở Johanesburg (Nam Phi)… Đến
nay, Việt Nam đã phê chuẩn Chương trình nghị sự 21 và Thủ tướng Chính phủ đã
ký Quyết định số 1032/QĐ-TTg ngày 27 tháng 9 năm 2005 về việc thành lập Hội
đồng Phát triển bền vững quốc gia (Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp, 2008).
Năm 2001, tại Đại hội Đảng lần thứ IX (2001), Chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội 2001 - 2010 khẳng định quan điểm phát triển đất nước là “Phát triển
nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ, công bằng xã
hội và bảo vệ môi trường”. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (2006) đã nêu ra
những bài học kinh nghiệm “Phát triển nhanh và bền vững” trong đó đề cập đến
bảo vệ và cải thiện môi trường.