Đánh giá hiện trạng và định hướng sử dụng đất nông nghiệp huyện võ nhai, tỉnh thái nguyên đến năm 2020 - Pdf 14

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
TT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
1. BMP Quy trình quản lý tốt
2. BVTV Bảo vệ thực vật
3. CNH - HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
4. CCNNN Cây công nghiệp ngắn ngày
5. CPTG Chi phí trung gian
6. FAO Tổ chức nông lương thế giới
7. GAP Quy trình nông nghiệp tốt hay hoàn hảo
8. GDP Tổng sản phẩm quốc nội
9. GTGT Giá tri gia tăng
10. GTSX Giá trị sản xuất
11. HQĐV Hiệu quả đồng vốn đầu tư
12. IPM Quy trình phòng trừ sâu bệnh tổng hợp
13. LĐ Lao động
14. LUT Loại hình sử dụng đất
15. LX - LM Lúa xuân - Lúa mùa
16. NN & PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
17. NNBV Nông nghiệp bền vững
18. NTTS Nuôi trồng thuỷ sản
19. PTBV Phát triển bền vững
20. SARD Phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững
21. UNEP Chương trình môi trường liên hợp quốc
22. VSV Vi sinh vật
i
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT Tên bảng Trang
2. Mục đích nghiên cứu 2
3. Yêu cầu nghiên cứu 2
1.1. Một số vấn đề lý luận về sử dụng đất và phát triển bền vững 3
1.2. Những vấn đề về hiệu quả sử dụng đất và đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 20

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn lực quan trọng của bất cứ một nền sản xuất nào. Với sản
xuất nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất không thể thay thế được, không có
đất thì không có sản xuất nông nghiệp. Vì vậy sử dụng đất là một hợp phần quan
trọng của chiến lược nông nghiệp sinh thái phát triển bền vững. Việt Nam là
nước có diện tích đất bình quân thấp cho nên sự phát triển của Việt Nam phụ
thuộc rất nhiều vào hiệu quả của việc sử dụng đất. Việc sử dụng thích hợp đất
nông nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh
tế đất nước.
Nông nghiệp Việt Nam đã đạt được không ít những thành tựu sau hơn 20
năm đổi mới. Thắng lợi rõ rệt nhất của nông nghiệp là tạo ra và duy trì quá trình
tăng trưởng sản xuất với tốc độ nhanh trong thời gian dài. Từ năm 1986 - 2005,
giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân 5,5%/năm. Thắng lợi lớn thứ hai là
đã cơ bản đảm bảo an ninh lương thực. Năm 1989 ở miền Bắc, khoảng 39,7% số
hộ nông nghiệp của 21 tỉnh thành bị đói. Chính sách đổi mới đã tạo nên sự thần
kỳ: sản lượng lương thực bình quân đầu người tăng liên tục, giải quyết được vấn
đề an ninh lương thực. Nông nghiệp đã tạo nhiều việc làm, xoá đói giảm nghèo
(tỷ lệ hộ đói nghèo giảm 2%/năm). Trước đổi mới, số người sống dưới mức đói
nghèo là 60%, năm 2003 giảm xuống còn 29% và năm 2006 còn 19%. Mức giảm
đói nghèo ấn tượng này chủ yếu là nhờ thành tựu to lớn trong lĩnh vực nông
nghiệp, phát triển nông thôn. Trong khi công nghiệp và dịch vụ còn đang lấy đà
thì nông nghiệp và kinh tế nông thôn vẫn là nơi tạo việc làm chính cho dân cư
nông thôn.
Cùng với việc tạo ra động lực thúc đẩy sản xuất phát triển nông nghiệp Việt
1
Nam đang đối đầu với nhiều khó khăn của sự phát triển kinh tế như: qui mô sản
xuất nhỏ lẻ, công nghệ lạc hậu, năng suất, độ đồng đều, chất lượng sản phẩm còn
thấp, khả năng hợp tác liên kết của nông dân Việt Nam nói chung còn rất yếu .
Võ Nhai là một huyện nông nghiệp, chính vì vậy nông nghiệp là một nguồn

trên trái đất.
Đất đai là tư liệu sản xuất không thể thay thế trong sản xuất nông nghiệp
nếu biết sử dụng hợp lý thì sức sản xuất của đất đai sẽ ngày càng tăng lên [4].
Sản xuất nông nghiệp cung cấp lương thực, thực phẩm cho con người, đảm bảo
nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và công
nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm. Hiện tại cũng như trong tương lai, nông
nghiệp vẫn đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội loài người,
không ngành nào có thể thay thế được. Các Mác đã từng nói “Đất là mẹ, sức lao
động là cha sản sinh ra của cải vật chất”.
Luật đất đai năm 2003, đất nông nghiệp được chia ra làm các nhóm đất
chính sau: đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất
làm muối và đất nông nghiệp khác .
1.1.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng đất nông nghiệp và phát triển nông nghiệp bền
vững.
1.1.2.1 Nhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên
Các yếu tố tự nhiên là tiền đề cơ bản nhất, là nền móng để phát triển và
phân bố nông nghiệp. Mỗi một loại cây trồng, vật nuôi chỉ có thể sinh trưởng và
phát triển trong những điều kiện tự nhiên nhất định nào đó, ngoài điều kiện đó
3
cây trồng và vật nuôi sẽ không thể tồn tại hoặc kém phát triển. Các điều kiện tự
nhiên quan trọng nhất là đất, nước và khí hậu. Chúng quyết định khả năng nuôi
trồng các loại cây trồng, vật nuôi cụ thể trên từng điều kiện đất, nước và khí hậu
khác nhau, cũng như việc áp dụng các quy trình sản xuất nông nghiệp trong các
điều kiện tự nhiên khác nhau, đồng thời có ảnh hưởng lớn đền năng suất cây
trồng, vật nuôi.
Điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu, thời tiết ) là các yếu tố đầu vào
có ý nghĩa quyết định, tác động trực tiếp đến quá trình sản xuất nông nghiệp và
ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng, khả năng đầu tư trong
quá trình sản xuất nông nghiệp cũng phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên.
Một trong những yếu tố hạn chế năng suất cây trồng chính là điều kiện về

cần phải thực hiện đa dạng hoá các hình thức hợp tác trong nông nghiệp, xác lập
một hệ thống tổ chức sản xuất, kinh doanh phù hợp và giải quyết tốt mối quan hệ
giữa sản xuất, dịch vụ và tiêu thụ nông sản hàng hoá. Tổ chức có tác động lớn
đến hàng hoá của hộ nông dân là: Tổ chức dịch vụ đầu vào và đầu ra.
+ Dịch vụ kỹ thuật: Sản xuất hàng hoá của hộ nông dân không thể tách rời
những tiến bộ kỹ thuật và việc ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản
xuất. Vì sản xuất nông nghiệp hàng hoá phát triển đòi hỏi phải không ngừng
nâng cao chất lượng nông sản và hạ giá thành nông sản phẩm [17].
1.1.2.4. Nhóm các yếu tố kinh tế - xã hội
Các nhân tố kinh tế - xã hội có ảnh hưởng quan trọng tới phát triển và
5
phân bố nông nghiệp:
+ Thị trường tiêu thụ có tác động mạnh mẽ đến sản xuất nông nghiệp và
giá cả nông sản. Cung, cầu trên thị trường có tác dụng điều tiết đối với sự hình
thành và phát triển đối với các hàng hoá nông nghiệp. Theo Nguyễn Duy Tính
(1995) [20], ba yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
là năng suất cây trồng, hệ số quay vòng đất và thị trường cung ứng đầu vào và
tiêu thụ đầu ra. Trong cơ chế thị trường, các nông hộ hoàn toàn tự do lựa chọn
hàng hoá họ có khả năng sản xuất, đồng thời họ có xu hướng hợp tác, liên doanh,
liên kết để sản xuất ra những nông sản hàng hoá mà nhu cầu thị trường cần với
chất lượng cao đáp ứng nhu cầu thị hiếu của khách hàng. Muốn mở rộng thị
trường phải phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng, hệ thống thông tin, dự báo, mở
rộng các dịch vụ tư vấn Đồng thời, quy hoạch các vùng trọng điểm sản xuất
hàng hoá để người sản xuất biết nên sản xuất cái gì? bán ở đâu? mua tư liệu sản
xuất và áp dụng khoa học công nghệ gì? Sản phẩm hàng hoá của Việt Nam đa
dạng, phong phú về chủng loại, chất lượng, giá rẻ và đang được lưu thông trên
thị trường là điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất
hàng hoá có hiệu quả [5].
+ Hệ thống chính sách, pháp luật về phát triển nông nghiệp, đất đai, có
vai trò quan trọng trong phát triển nông nghiệp và sản xuất nông nghiệp. Hệ

tới xuất khẩu. Sử dụng đất nông nghiệp trong sản xuất trên cơ sở cân nhắc các
mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, tận dụng tối đa lợi thế so sánh về điều kiện
7
sinh thái và không làm ảnh hưởng xấu đến môi trường là những nguyên tắc cơ
bản và cần thiết để đảm bảo cho khai thác sử dụng bền vững tài nguyên đất đai.
Do đó, đất nông nghiệp cần được sử dụng theo nguyên tắc “đầy đủ, hợp lý và
hiệu quả”, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh cụ thể của từng vùng [17].
1.1.3.2 Quan điểm phát triển nông nghiệp bền vững
Mục đích của nông nghiệp bền vững là kiến tạo một hệ thống bền vững về
sinh thái, có tiềm lực về kinh tế, có khả năng thoả mãn những nhu cầu của con
người mà không huỷ diệt đất đai, không làm ô nhiễm môi trường. Hội nghị
thượng đỉnh về PTBV năm 2002 tại Johannesburg đã khẳng định phát triển Nông
nghiệp và Nông thôn Bền vững (SARD) là quá trình đa chiều bao gồm: (i) tính
bền vững của chuỗi lương thực (từ người sản xuất đến tiêu thụ, liên quan trực
tiếp đến cung cấp đầu vào, chế biến và thị trường); (ii) tính bền vững trong sử
dụng tài nguyên đất và nước về không gian và thời gian; (iii) khả năng tương tác
thương mại trong tiến trình phát triển nông nghiệp và nông thôn để đảm bảo
cuộc sống đủ, an ninh lương thực trong vùng và giữa các vùng [2].
Hệ thống nông nghiệp bền vững là hệ thống quản lý thành công các nguồn
lợi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, để thỏa mãn những nhu cầu của con
người, trong khi duy trì và nâng cao chất lượng môi trường và bảo vệ các nguồn
lợi thiên nhiên. Hệ thống đó phải bao gồm sự quản lý, bảo vệ các nguồn lợi thiên
nhiên một cách hợp lý nhất và phải có phương hướng thay đổi công nghệ và thể
chế để đảm bảo duy trì và thỏa mãn liên tục những nhu cầu của con người ở hiện
tại và trong tương lai. Sự phát triển như vậy phải gắn liền với việc bảo vệ đất,
nước, các nguồn gen cây trồng vật nuôi và bảo đảm lợi ích kinh tế và sự chấp
nhận xã hội [19].
Một nhà khoa học đã từng nói "sự bền vững là để lại cho các thế hệ tương
8
lai ít nhất là những cơ hội mà chúng ta đang có”. Đây là quan điểm rất thực tiễn,

chung. Tuy nhiên, các biện pháp thâm canh hữu cơ cũng không thể đảm bảo
chắc chắn rằng sản phẩm hoàn toàn không còn có dư lượng, song những phương
pháp đã sử dụng sẽ giảm thiểu sự ô nhiễm không khí, đất và nước. Mục tiêu cơ
bản của nông nghiệp hữu cơ là tối ưu hoá sức khoẻ, sức sản xuất của các cộng
đồng sống phụ thuộc lẫn nhau trong đất, cây trồng, động vật và con người. Hiện
nay, theo quan điểm của nhiều nhà khoa học, nông nghiệp hữu cơ là một hệ
thống gắn liền với sự phát triển nông nghiệp bền vững. Phương thức sản xuất mà
nông dân nông nghiệp hữu cơ lựa chọn phụ thuộc không chỉ vào các điều kiện
môi trường nông nghiệp mà còn phụ thuộc vào hoàn cảnh kinh tế xã hội như: lao
động, khả năng đầu tư và thị trường mục tiêu. Nông dân nông nghiệp hữu cơ cố
gắng tìm kiếm sự phát triển phù hợp, thích ứng với điều kiện trang trại, khảo sát
và xâm nhập thị trường, nhằm tạo nên một hệ thống bền vững trong chuỗi cung
cấp nông sản. Mục đích tổng thể là cây trồng, vật nuôi cho năng suất cao nhất,
mà vẫn bảo vệ tốt không khí, đất và nguồn nước [2; 24].
1.1.4.2 Nền nông nghiệp đầu vào thấp [2]
Hệ thống canh tác đầu vào thấp là ‘tìm kiếm sự tối ưu hoá việc sử dụng
đầu vào từ bên trong (nghĩa là tài nguyên của đồng ruộng) và giảm tối thiểu sử
dụng đầu vào (các nguồn không phải từ trang trại) như phân hoá học, thuốc trừ
sâu vào bất cứ thời điểm nào ở đâu có thể thực hiện được nhằm hạ thấp chi phí
10
sản xuất, giảm dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong sản phẩm và giảm rủi ro
chung cho nông dân, tăng lợi nhuận trong trại cả ngắn và dài hạn.
1.1.4.3 Canh tác sinh học/canh tác sinh thái [2]
Canh tác sinh học và sinh thái là khái niệm phổ biến được sử dụng ở
châu Âu và các nước phát triển. Canh tác sinh học là hệ thống trồng trọt mà
người sản xuất cố gắng giảm tối thiểu việc sử dụng hoá chất trừ sâu để bảo vệ
cây trồng. Khái niệm canh tác sinh học và sinh thái được hiểu theo nghĩa rộng
hơn, bao hàm các kỹ thuật và quy trình canh tác đặc biệt hơn đối với tính bền
vững của hệ canh tác, chẳng hạn như canh tác hữu cơ, chức năng sinh học,
chính thống và tự nhiên…

nhiều tranh cãi về tính bền vững vì phải đầu tư kinh phí lớn và yêu cầu sử dụng
kỹ thuật tiến bộ. Xu hướng này hiện đang rất phổ biến trong phát triển nông
nghiệp ở Nhật Bản [2].
1.1.5. Xây dựng nền nông nghiệp phát triển bền vững
1.1.5.1 Sự cần thiết sử dụng đất tiết kiệm, có hiệu quả và bền vững
Ngày nay, sử dụng đất bền vững, tiết kiệm và có hiệu quả đã trở thành
chiến lược quan trọng có tính toàn cầu, bởi 5 lý do:
Một là, tài nguyên đất vô cùng quý giá. Bất kỳ nước nào, đất đều là tư liệu
sản xuất nông - lâm nghiệp chủ yếu, cơ sở lãnh thổ để phân bố các ngành kinh tế
quốc dân. UNEP khẳng định “Mặc cho những tiến bộ khoa học - kỹ thuật vĩ đại,
con người hiện đại vẫn phải sống dựa vào đất”.
Hai là, tài nguyên đất có hạn, đất có khả năng canh tác càng ít ỏi. Toàn lục
12
địa trừ diện tích đóng băng vĩnh cửu (1.360 triệu héc-ta) chỉ có 13.340 triệu héc-
ta. Diện tích đất có khả năng canh tác của lục địa chỉ có 3.030 triệu héc-ta. Hiện
nhân loại mới khai thác được 1.500 triệu héc-ta đất canh tác.
Ba là, diện tích tự nhiên và đất canh tác trên đầu người ngày càng giảm do
áp lực tăng dân số, sự phát triển đô thị hóa, công nghiệp hóa và các hạ tầng kỹ
thuât. Bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người của thế giới hiện nay chỉ
còn 0,23 ha, ở Việt Nam chỉ còn 0,11 ha. Theo tính toán của Tổ chức Lương
thực thế giới (FAO), với trình độ sản xuất trung bình hiện nay trên thế giới, để có
đủ lương thực, thực phẩm, mỗi người cần có 0,4 ha đất canh tác.
Bốn là, do điều kiện tự nhiên, hoạt động tiêu cực của con người nên diện
tích đáng kể của lục địa đã, đang và sẽ còn bị thoái hóa, hoặc ô nhiễm dẫn tới
tình trạng giảm, mất khả năng sản xuất và nhiều hậu quả nghiêm trọng khác.
Trên thế giới hiện có 2.000 triệu héc-ta đất đã và đang bị thoái hóa, trong đó
1.260 triệu héc-ta tập trung ở châu á, Thái Bình Dương. ở Việt Nam hiện có 16,7
triệu héc-ta bị xói mòn, rửa trôi mạnh, chua nhiều, 9 triệu héc-ta đất có tầng
mỏng và độ phì thấp, 3 triệu héc-ta đất thường bị khô hạn và sa mạc hóa, 1,9
triệu héc-ta đất bị phèn hóa, mặn hóa mạnh. Ngoài ra tình trạng ô nhiễm do phân

trì độ phì chính dựa vào Quy trình quản lý tốt nhất (Best Management Practice -
BMP). Quy trình này bao hàm cả quy trình quản lý đất và các kỹ thuật canh tác
khác nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và sử dụng, tránh thoái hoá đất bao gồm:
Bảo vệ cấu trúc và hàm lượng chất hữu cơ trong đất; Quản lý dinh dưỡng; Dùng
14
cây phủ đất ; Duy trì độ phì nhiêu của đất; Sử dụng những phương thức canh tác
tiến bộ; Sử dụng các phương pháp trồng trọt thích hợp; Ngăn chặn hoang mạc
hoá và hạn hán; Quản lý đất dốc và phát triển bền vững miền núi [2].
+ Quản lý sâu bệnh bền vững:
Quản lý sâu bệnh bền vững và nông nghiệp bền vững cùng chung mục tiêu
là phát triển hệ thống nông nghiệp hoàn thiện về sinh thái và kinh tế. Quy trình
phòng trừ sâu bệnh tổng hợp (IPM) có thể coi như cấu thành chủ đạo trong hệ
thống phát triển nông nghiệp bền vững. Nguyên lý chung là bảo đảm tài nguyên
đất tốt và tính đa dạng được kiểm soát.
Quy trình phòng trừ dịch hại tổng hợp (IPM) là phương pháp dựa trên cơ
sở sinh thái về mối quan hệ cây trồng/dịch hại để kiểm soát côn trùng, cỏ dại;
xây dựng ngưỡng chấp nhận kinh tế về quần thể gây hại và hệ thống quan trắc ổn
định để phát hiện dự báo dịch hại. Chương trình này gồm nhiều kỹ thuật như: sử
dụng các giống kháng/chống chịu; luân canh; các kỹ thuật trồng trọt; tối ưu việc
sử dụng phòng trừ sinh học; sử dụng hạt giống công nhận; xử lý hạt giống; sử
dụng hạt giống/vật liệu nhân giống sạch bệnh; điều chỉnh thời vụ gieo trồng; hợp
lý về thời gian sử dụng thuốc bảo vệ thực vật; làm vệ sinh đồng ruộng khi bị
nhiễm sâu bệnh
Bước đầu tiên trong việc phòng trừ dịch hại bền vững cần phải xem xét hệ
sinh thái nông nghiệp, những điều kiện để áp dụng phương thức quản lý phù hợp
để phòng trừ sâu bệnh hiệu quả nhất, bảo vệ thiên địch, những động vật ký sinh.
Phương thức Biointensive IPM (tạm gọi là IPM tăng cường sinh học - IPM-B) là
xu hướng kết hợp cả các yếu tố sinh thái và kinh tế vào hệ nông nghiệp, chú
trọng vào những quan tâm chung về chất lượng môi trường và an toàn thực
phẩm. Lợi ích của việc sử dụng IPM-B có thể giảm chi phí cho các chất hoá học

- Sử dụng phương pháp che phủ tránh cỏ dại, côn trùng và một số bệnh
hại. Phương pháp này còn giúp giảm thiểu sự lan truyền nguồn bệnh nhất là các
bệnh từ đất
- Sử dụng cây trồng tạo từ phương pháp công nghệ sinh học, những kết
quả thu được từ một số công ty với giống cây kháng côn trùng, bệnh và thuốc
trừ cỏ
- Phòng trừ sinh học: Đây là phương pháp sử dụng sinh vật sống (các loại
sinh vật ký sinh, các loại ăn thịt hoặc các nguồn bệnh để duy trì quần thể côn
trùng dưới mức thiệt hại về kinh tế.
Phòng trừ sinh học tự nhiên: duy trì hệ thiên địch tự nhiên để khống chế
quần thể sâu hại dưới ngưỡng thiệt hại kinh tế.
- Phòng trừ bằng phương pháp cơ học và vật lý: xử lý nhiệt (nóng hoặc
lạnh), điều chỉnh ẩm độ, sử dụng một số biện pháp cơ học.
Mấu chốt của bất kỳ biện pháp IPM nào cũng là việc xác định rõ tác nhân
gây hại với những khía cạnh (i) loại cây chủ và không ký chủ của loại côn trùng
này; (ii)thời điểm côn trùng xuất hiện; (iii) chu kỳ sinh học của chúng và liệu
điều khiển cây trồng thế nào để làm cho sự sống của chúng hết sức bất lợi và như
vậy sẽ dễ dàng áp dụng các biện pháp tự nhiên.
- Sử dụng thuốc trừ sâu thường là giải pháp cuối cùng trong các chương
trình IPM vì những tác hại tiềm năng đến môi trường, đây cũng là biện pháp hỗ
trợ khi các phương pháp như phòng trừ sinh học, sử dụng hệ thống cây trồng…
không khống chế nổi quần thể sâu hại dưới ngưỡng thiệt hại về kinh tế.
- Sử dụng các thuốc trừ sâu thảo dược, ít gây hại môi trường và nhiễm độc
17
sản phẩm [2].
+ Hệ thống phòng trừ cỏ tổng hợp:
Phòng trừ cỏ dại là một trong cấu thành quan trọng của hệ canh tác bền
vững. Một số nguyên tắc chính bao gồm:
- Ngăn chặn sự phát triển, sinh tồn, ngăn chặn sự lan truyền hạt cỏ vào
nguồn nước, phân bón…

khỏi địa bàn hoạt động. Khai thác tài nguyên khoáng sản theo cách ít gây ra sự
phá huỷ về môi trường [2].
+ Phát triển nông thôn bền vững:
Thực tế là số dân nghèo trên thế giới hiện sống tập trung hầu hết ở vùng
nông thôn và phương kế sinh nhai của họ thường gắn với nông nghiệp. Thúc
đẩy sự phát triển nông thôn thông qua nông nghiêp được thể hiện qua chính sách
phát triển của nhiều quốc gia. Nhìn chung, những chính sách đều thể hiện yêu
cầu phải đảm bảo an ninh lương thực cho nông dân, tạo cơ hội cho họ vượt qua
đói nghèo và cân bằng giữa các mục tiêu môi trường, xã hội và kinh tế.
Như vậy phát triển nông thôn là lĩnh vực đa ngành, đặt trong mối quan hệ
phức tạp giữa xã hội - tài nguyên thiên nhiên - môi trường bền vững. Không giải
quyết được tận gốc vấn đề an ninh lương thực thì không thể bảo tồn được tài nguyên
đất, bảo vệ được rừng, không thể có những hệ canh tác bền vững vì đó là những kế
sinh nhai của người dân gắn với rừng, với đồng ruộng. Vì thế, phương thức thực hiện
trong phát triển nông thôn của Tổ chức Phát triển Canada (CIDA) đặt ra theo 2
hướng: bền vững về phương kế sinh sống và sự lành mạnh của hệ sinh thái [2].
19
1.2. Những vấn đề về hiệu quả sử dụng đất và đánh giá hiệu quả sử
dụng đất nông nghiệp
1.2.1. Khái quát về hiệu quả sử dụng đất
Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả. Trước đây, người ta thường
quan niệm kết quả chính là hiệu quả. Sau này, người ta nhận thấy rõ sự khác
nhau giữa hiệu quả và kết quả. Nói một cách chung nhất thì hiệu quả chính là kết
quả như yêu cầu của công việc mang lại [21].
Hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ đợi
hướng tới; nó có những nội dung khác nhau. Trong sản xuất, hiệu quả có nghĩa
là hiệu suất, là năng suất. Trong kinh doanh, hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận.
Trong lao động nói chung, hiệu quả là năng suất lao động được đánh giá bằng số
lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc bằng số lượng
sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian [30].

dụng đất không chỉ xem xét đơn thuần ở một mặt hay một khía cạnh nào đó mà
phải xem xét trên tổng thể các mặt bao gồm: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và
hiệu quả môi trường.
1.2.1.1 Hiệu quả kinh tế
Theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là
quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối có kế hoạch thời gian lao động theo các
ngành sản xuất khác nhau. Theo nhà kinh tế Samuel - Nordhuas thì “Hiệu quả là
không lãng phí”. Theo các nhà khoa học Đức (Stienier, Hanau, Rusteruyer,
21
Simmerman) hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong
một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất
vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích cho xã hội [16].
Hiệu quả kinh tế là phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới nền sản
xuất hàng hoá với tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác nhau. Vì thế,
hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được 3 vấn đề:
- Một là mọi hoạt động của con người đều phải quan tâm và tuân theo quy
luật “tiết kiệm thời gian”;
- Hai là hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm của lý thuyết
hệ thống;
- Ba là hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các
hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ các
lợi ích của con người.
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết
quảđạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Kết quả
đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là
phần giá trị của nguồn lực đầu vào. Mối tương quan đó cần xem xét cả về phần
so sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai
đại lượng đó.
Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng: Bản chất của phạm trù kinh tế
sử dụng đất là “với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status