Đánh giá hiệu quả và định hướng sử dụng đất nông nghiệp huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh - Pdf 16

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN VĂN CƯỜNG
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ VÀ ĐỊNH HƯỚNG
SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
HUYỆN CẨM XUYÊN, TỈNH HÀ TĨNH
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Mã số ngành: 60.85.01.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. ĐỖ THỊ LAN
THÁI NGUYÊN - 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng chúng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ
một học vị nào.
Tôi cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ
nguồn gốc.
Thái Nguyên, ngày 03 tháng 12 năm 2013
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Văn Cường
i
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ,
những ý kiến đóng góp, chỉ bảo quý báu của các thầy cô giáo của trường Đại học
Thái Nguyên và Khoa Tài nguyên và Môi trường, Phòng quản lý đào tạo sau đại
học và các khoa có liên quan đến nội dung đào tạo của trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên. Sự quan tâm tạo điều kiện của lãnh đạo Trung tâm Kỹ thuật Địa
chính và Công nghệ thông tin - Sở tài nguyên và Môi trường Hà Tĩnh.
Để có được kết quả nghiên cứu này, ngoài sự cố gắng và nỗ lực của bản thân,
tôi còn nhận được sự hướng dẫn chu đáo, giúp đỡ tận tình của PGS.TS Đỗ Thị Lan -

FC : Chi phí cố định
GM : Lãi thô
GO : Giá trị sản xuất
IE : Chi phí trung gian
KHKT : Khoa học kỹ thuật
LUT : Loại hình sử dụng đất
MTQG : Mục tiêu quốc gia
NI : Lãi ròng
NVA : Thu nhập hỗn hợp
T : Chi phí sản xuất
USDA
: United States Department of
Agriculture - Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ
VA : Giá trị gia tăng
VC : Chi phí khả biến
iv
DANH MỤC CÁC BẢNG
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CAM ĐOAN i
1.1.2. Vai trò đất nông nghiệp 5
1.1.2. Vai trò đất nông nghiệp 5
1.1.3. Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp 6
1.1.3. Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp 6
1.1.4. Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững 6
1.1.4. Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững 6
1.4.2. Đánh giá đất đai theo FAO 17
1.4.2. Đánh giá đất đai theo FAO 17
v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
LỜI CAM ĐOAN i

hóa, đô thị hóa cùng với sự gia tăng không ngừng dân số, sự phát triển mở rộng về
quy mô của tất cả các ngành đã khiến cho nhu cầu về sử dụng đất ngày càng tăng
lên, trong khi đó quỹ đất thì không hề tăng nên việc bố trí quỹ đất cho các ngành
một cách phù hợp để đảm bảo tối ưu trong việc sử dụng đất đai đem lại hiệu quả
kinh tế cao nhất là vấn đề cần được quan tâm hiện nay. Trước những yêu cầu của
thực tế, Đảng và nhà nước ta đã nhiều lần thay đổi bổ sung các chính sách pháp luật
về đất đai. Từ luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật đất đai năm 1993 năm 1998
năm 2001 và luật đất đai năm 2003 cùng các thông tư, Nghị định, các văn bản
hướng dẫn thi hành luật đất đai đã và đang từng bước đi sâu vào thực tiễn đảm bảo
công tác quản lý nhà nước về đất đai ngày càng chặt chẽ và khoa học hơn.
Trong sản xuất nông, lâm nghiệp, đất đai không chỉ là đối tượng lao động mà
còn là tư liệu sản xuất không thể thay thế được. Việc sử dụng đất sản xuất nông lâm
nghiệp không chỉ còn đơn thuần là ngành kinh tế sinh học, tạo ra lương thực, thực
phẩm mà ngày nay được coi là nền kinh tế sinh thái, gắn liền phát triển kinh tế với
bảo vệ môi trường.
Mặt khác để đáp ứng nhu cầu cho tất cả các ngành sản xuất xã hội phù hợp
với chiến lược phát triển kinh tế thì diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp.
Trong quá trình sử dụng, đất đai chịu sự tác động của nhiều yếu tố kinh tế, tự nhiên
và con người. Trong đó, yếu tố con người là quan trọng nhất. Việc sử dụng đất đai
hiệu quả là một vấn đề rất quan trọng của chiến lược phát triển kinh tế nông nghiệp
sinh thái và bền vững của các quốc gia.
1
Việt Nam có khoảng 80% dân số sống nhờ chủ yếu vào sản xuất nông, lâm
nghiệp. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến sự phát
triển nông - lâm nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, lấy phát triển nông
nghiệp làm tiền đề để phát triển các ngành kinh tế quốc dân khác. Vấn đề quản lý,
sử dụng đất nông nghiệp đang được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, trong
thời gian gần đây Quốc hội đang có dự thảo về nhiều chính sách bảo vệ nghiêm
ngặt đất nông nghiệp.
Cẩm Xuyên là huyện thuộc vùng Bắc Trung bộ, nằm về phía Đông Nam của

- Phân tích điểm mạnh và những tồn tại của sử dụng đất nông nghiệp.
- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp huyện Cẩm Xuyên.
- Đề xuất các loại hình sử dụng đất có hiệu quả và định hướng sử dụng đất
nông nghiệp.
3. Yêu cầu của đề tài
- Nghiên cứu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tác động đến hiệu quả sử
dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Cẩm Xuyên.
- Đánh giá thực trạng sản xuất và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trong
điều kiện cụ thể của huyện Cẩm Xuyên, đề xuất giải pháp và định hướng sử dụng
đất nông nghiệp.
4. Ý nghĩa của đề tài
4.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài góp phần xây dựng cơ sở lý luận, đưa ra các loại hình sử dụng đất phù
hợp, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng với một mức chi phí hợp lý.
4.2. Ý nghĩa thực tiễn
Từ kết quả nghiên cứu, đề xuất các loại hình sử dụng đất phù hợp, chuyển
đổi cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa, đưa lại hiệu quả sử dụng đất
cao nhất trên một đơn vị diện tích, đáp ứng được yêu cầu trong công tác xây dựng
nông thôn mới của huyện.
3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Một số vấn đề lý luận về sử dụng đất nông nghiệp
1.1.1. Đất nông nghiệp
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho
nhân loại, con người sinh ra trên đất, sống và lớn lên nhờ vào sản phẩm của đất.
Tuy vậy, không phải ai cũng hiểu đất là gì? Đất sinh ra từ đâu? Tại sao lại phải giữ
gìn bảo vệ nguồn tài nguyên này. Học giả người Nga, Docutraiep cho rằng “Đất là
vật thể thiên nhiên cấu tạo độc lập, lâu đời do kết quả của quá trình hoạt động tổng
hợp của các yếu tố hình thành bao gồm: đá, thực vật, động vật, khí hậu, địa hình,

với những đặc điểm:
- Đất đai được coi là tư liệu sản xuất chủ yếu trong sản xuất nông lâm nghiệp.
- Đất đai là loại tư liệu sản xuất không thể thay thế.
- Đất đai là tài nguyên bị hạn chế bởi ranh giới đất liền và bề mặt địa cầu[18].
- Đất đai có vị trí cố định và chất lượng không đồng đều giữa các vùng, các
miền[32]. Mỗi vùng đất luôn gắn với các điều kiện tự nhiên (thổ nhưỡng, thời tiết,
khí hậu, nước,…) điều kiện kinh tế - xã hội (dân số, lao động, giao thông, thị
trường,…) và có chất lượng đất khác nhau. Do vậy, việc sử dụng đất đai phải gắn
liền với việc xác định cơ cấu cây trồng, vật nuôi cho phù hợp để nhằm đem lại hiệu
quả kinh tế cao trên cơ sở nắm chắc điều kiện của từng vùng lãnh thổ.
- Đất đai được coi là một loại tài sản, người chủ sử dụng có quyền nhất
định do pháp luật của mỗi nước qui định, tạo thuận lợi cho việc tập trung, tích tụ
và chuyển hướng sử dụng đất từ đó phát huy được hiệu quả nếu biết sử dụng đầy
đủ và hợp lý.
Như vậy, đất đai là yếu tố hết sức quan trọng và tích cực của quá trình sản
xuất nông nghiệp. Thực tế cho thấy thông qua quá trình phát triển của xã hội loài
người, sự hình thành và phát triển của mọi nền văn minh vật chất - văn minh tinh
thần, các thành tựu vật chất, văn hoá khoa học đều được xây dựng trên nền tảng cơ
5
bản đó là đất và sử dụng đất, đặc biệt là đất nông lâm nghiệp. Vì vậy, sử dụng đất
hợp lý, có hiệu quả là một trong những điều kiện quan trọng nhất cho nền kinh tế
phát triển nhanh và bền vững.
1.1.3. Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp
- Đất nông nghiệp phải được sử dụng đầy đủ, hợp lý.
- Đất nông nghiệp phải được sử dụng đạt hiệu quả cao.
- Đất nông nghiệp cần phải được quản lý và sử dụng một cách bền vững.
Như vậy, để sử dụng đất triệt để và có hiệu quả, đảm bảo cho quá trình sản
xuất được liên tục thì việc tuân thủ những nguyên tắc trên là việc làm cần thiết và
hết sức quan trọng với mỗi quốc gia.
1.1.4. Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững

1.2. Cơ sở khoa học
1.2.1. Yêu cầu chung khi lựa chọn hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế sử
dụng đất
Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế nói chung, hiệu quả sử dụng đất
nói riêng phải đáp ứng yêu cầu sau:
- Đảm bảo tính thống nhất về mặt nội dung với hệ thống chỉ tiêu kinh tế của
nền kinh tế quốc dân.
- Đảm bảo tính toàn diện và hệ thống - tức là có cả chỉ tiêu tổng quát và chỉ
tiêu bộ phận, chỉ tiêu chủ yếu và chỉ tiêu phụ.
- Đảm bảo tính đơn giản và khả thi.
- Phải phù hợp vói đặc điểm và trình độ phát triển của nước ta, đồng thời có
khả năng so sánh quốc tế trong quan hệ kinh tế đối ngoại, nhất là những sản phẩm
có khả năng xuát khẩu.
Hệ thống chỉ tiêu kinh tế được bắt nguồn từ bản chất của hiệu quả, đó là mối
quan hệ giữa yếu tố đầu vào và đầu ra. Hay nói cách khác giữa chi phí và các kết
quả thu được từ chi phí đó. Tùy theo các hệ thống tính toán mà các chỉ tiêu về kết
quả và hiệu quả sẽ khác nhau.
7
1.2.2. Công thức tổng quát về hiệu quả kinh tế
Tất cả các hệ thống chỉ tiêu đều bắt nguồn từ mối quan hệ giữa đầu ra, đầu
vào của quá trình sản xuất. Vì vậy công thức tổng quát về hiệu quả là:
Kết quả thu được Q
Hiệu quả = hoặc H =
Chi phí bỏ ra K
Chỉ tiêu tổng quát của hiệu quả được thể hiện trên cơ sở định lượng như sau:
Q
H = Max
K
Từ dạng tổng quát trên có thể xem xét nhiều khía cạnh khác nhau của hiệu
quả như: Hiệu số Q - K Max là trị số tuyệt đối của hiệu quả.

Ngoài các điều khoản đã được quy định tại Luật đất đai thì việc sử dụng đất
nông nghiệp còn được hỗ trợ bởi các chính sách. Hiện nay ở nước ta đó là kết quả
của quá trình xây dựng trên quan điểm đổi mới trong một thời gian dài. Khởi điểm
của quá trình đổi mới đó là Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị năm 1988 về giao quyền
tự chủ cho hộ nông dân, Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung
ương (khóa VI) tháng 11-1988 về giao đất cho hộ nông dân.
Cụ thể hóa các chủ trương của Đảng, Nhà nước đã xây dựng và ban hành
nhiều văn bản pháp lý xác định chế độ, chính sách đối với đất nông nghiệp, trong đó
nổi bật là Luật Đất đai ban hành năm 1993 (được liên tục sửa đổi vào các năm sau
này, nhất là Luật Đất đai sửa đổi năm 2003), Luật Thuế chuyển quyền sử dụng đất
(năm 1999), Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp (năm 2000, thay cho thuế nông
nghiệp). Nội dung cơ bản của chính sách đất nông nghiệp của Nhà nước Việt Nam
hiện nay thể hiện qua chế độ sở hữu đất nông nghiệp, chính sách giá đất của Nhà
nước, chính sách tích tụ và tập trung đất nông nghiệp, chính sách thuế đất nông
nghiệp và chính sách bồi thường khi thu hồi đất nông nghiệp.
a - Chế độ sở hữu đất nông nghiệp
Chế độ sở hữu đất nông nghiệp ở Việt Nam được phân chia thành hai quyền:
quyền sở hữu và quyền sử dụng. Hai quyền ấy được phân cho hai chủ thể khác nhau là
Nhà nước (đại diện cho chủ sở hữu toàn dân) và người sử dụng, chủ yếu là nông dân.
9
Nhà nước vừa đóng vai trò cơ quan quản lý hành chính công đối với đất đai,
vừa đóng vai trò chủ sở hữu đất, có quyền quyết định thu hồi quyền sử dụng đất của
nông dân, chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp và giao đất nông nghiệp đã
được chuyển mục đích sử dụng cho tổ chức và cá nhân không phải là nông dân, quy
định giá thu hồi đất nông nghiệp.
b - Chính sách giá đất nông nghiệp
Chính sách giá đất nông nghiệp được quy định tại Điều 12 Luật Đất đai năm
1993, năm 2003 và mới nhất là Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16-11-2004 của
Chính phủ. Theo đó, có hai phương pháp xác định giá đất: Theo giá thị trường và theo
thu nhập từ đất. Quyền xác định giá đất được phân cấp rộng rãi cho chính quyền cấp

nông dân nhiều vùng giảm nhanh.
e - Chính sách thuế đất nông nghiệp
Nhà nước thu từ nông dân sử dụng đất nông nghiệp các khoản: tiền thuê đất,
thuế sử dụng đất và một số lệ phí quản lý đất đai. Nhìn chung, tổng thuế sử dụng đất
nông nghiệp không lớn. Từ năm 2003 đến năm 2010, Chính phủ đã quyết định miễn
thuế sử dụng đất nông nghiệp trong hạn điền cho tất cả hộ nông dân và miễn hoàn toàn
thuế sử dụng đất cho hộ nông dân nghèo, giảm 50% cho diện tích vượt hạn điền.
Tiền thuê đất chỉ áp dụng đối với diện tích đất vượt hạn điền hoặc đất đấu
thầu. Các khoản lệ phí về đất không lớn, thường là phí cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, phí trích lục bản đồ, phí đăng ký đất…
Xét tổng thể, chính sách thuế đất nông nghiệp của Việt Nam được giảm nhẹ
ở nhiều khâu, kể cả việc Nhà nước không thu thuế chuyển nhượng đất nông nghiệp
giữa những người nông dân với nhau nhằm khuyến khích tập trung đất và chưa thu
thuế giá trị gia tăng từ đất.
Các chính sách đất đai đã tác động không ít đến đời sống của nông dân hiện
nay kể cả về mặt tích cực và mặt tiêu cực. Cụ thể như sau:
Tác động tích cực:
- Chính sách đất đai đã tạo điều kiện cho nông dân chủ động lao động, sản
xuất, kinh doanh nhằm tăng hiệu quả sử dụng đất và tăng thu nhập.
11
- Chính sách đất nông nghiệp tạo điều kiện để nông dân chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
- Chính sách đất nông nghiệp hỗ trợ nông dân tiếp cận tín dụng ngân hàng.
- Chính sách đất nông nghiệp đã bước đầu khuyến khích nông dân tích tụ,
tập trung đất để kinh doanh hiệu quả hơn.
- Chính sách đất nông nghiệp kích hoạt thị trường bất động sản ở nông thôn,
tạo điều kiện phân bổ đất nông nghiệp hiệu quả, hình thành nhiều ngành nghề mới
ở nông thôn.
Tác động tiêu cực:
- Nông dân chưa được lợi nhiều từ quyền sử dụng đất nông nghiệp.

dân số tập trung chủ yếu ở các nước đang phát triển. Chính vì vậy nền nông
nghiệp đang chịu một sức ép nặng nề. Mặc dù ta có thể nhận thấy rõ là nhờ kết
quả của quá trình thâm canh, quay vòng sử dụng đất mà chúng ta giải quyết được
đáng kể những nhu cầu cấp thiết của con người. Tuy nhiên quá trình sử dụng tài
nguyên một cách quá mức đã làm không ít diện tích canh tác bị thoái hóa suy
kiệt trên toàn cầu. Cùng với sự xói mòn đất ngày càng diễn ra mạnh mẽ là các
hội chứng thoái hóa đất đai như: suy giảm hàm lượng hữu cơ đất, sự thay đổi
tính chất hóa học của đất: hóa chua (do sử dụng phân bón hóa học trong nông
nghiệp); mặn hóa; thay đổi tính chất vật lý của đất; thay đổi tính chất sinh học;
sa mạc hóa; sự cạn kiệt nguồn nước, sự suy giảm các quần thể sinh vật sống
trong đất ngày càng nhiều. Hệ thống sử dụng đất cũng như phương thức quản lý
đất đai theo kiểu truyền thống đã bị thay đổi. Theo Julian Dumanski, 1998[31],
“đất canh tác phải chịu tác động của các quá trình thâm canh cao trong khi sử
dụng lại không còn giai đoạn bỏ hóa, do đó các hệ thống duy trì độ phì đất có
hiệu quả cùng với quá trình sử dụng đất theo kiểu tự nhiên trước đây không còn
áp dụng nữa”. Do đó cần phải tìm ra những giải pháp thích hợp nhằm bổ trợ cho
các hệ thống quản lý sử dụng để bảo vệ nguồn tài nguyên đất đai và hạn chế tới
mức thấp nhất những tác động xấu do quá trình sử dụng đất gây ra. Trong thực tế
13
việc sử dụng đất phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:
- Các nhu cầu và mục đích sử dụng.
- Đặc tính đất đai (thổ nhưỡng, khí hậu, chế độ nước )
- Yếu tố kinh tế và trở ngại về những điều kiện tự nhiên, xã hội
Vì vậy để đưa được ra các quyết định sử dụng đất một cách đúng đắn, rõ ràng
cần phải thu thập và xử lý được một cách đầy đủ các thông tin, không chỉ riêng về
điều kiện tự nhiên của đất đai mà cả các điều kiện kinh tế xã hội có liên quan đến
mục đích sử dụng, từ đó đưa được ra các lựa chọn trong việc sử dụng đất cho người
sử dụng, quá trình này được biết như là một quá trình đánh giá khả năng sử dụng
đất thích hợp. Việc đánh giá đất đai thực sự mới ra đời từ những thập niên 50 và nó
được nhìn nhận như là một sự nỗ lực quan trọng, đúng lúc của con người nhằm bảo

nước ngầm và thực vật. Phương pháp đánh giá được hình thành vào những năm 1950
và sau đó đã được phát triển, hoàn thiện vào năm 1986 để tiến hành đánh giá và
thống kê chất lượng tài nguyên đất đai nhằm phục vụ cho mục đích xây dựng chiến
lược quản lý và sử dụng cho các đơn vị hành chính và sản xuất trên lãnh thổ thuộc
liên bang Xô Viết. Nguyên tắc đánh giá mức độ sử dụng đất thích hợp là phân chia
khả năng sử dụng đất đai trên toàn lãnh thổ theo các nhóm và các lớp thích hợp.
Đánh giá đất đai theo Liên Xô gồm 3 bước:
+ Đánh giá lớp phủ thổ nhưỡng (so sánh các loại thổ nhưỡng theo tính chất
tự nhiên).
+ Đánh giá khả năng sản xuất của đất đai (yếu tố được xem xét kết hợp với
khí hậu, độ ẩm, địa hình).
+ Đánh giá kinh tế đất (chủ yếu đánh giá khả năng sản xuất hiện tại của đất đai).
Phương pháp này có một số hạn chế như quá đề cao khả năng tự nhiên của
đất mà chưa xem xét đầy đủ đến khía cạnh kinh tế - xã hội của việc sử dụng đất.
Mặt khác, phương pháp đánh giá đất đai cho điểm cụ thể chỉ đánh giá được đất đai
hiện trạng mà không đánh giá được đất đai trong tương lai. Phương pháp này có
tính linh động kém vì các chỉ tiêu đánh giá đất đai ở các vùng cây trồng khác nhau
do đó không thể chuyển đổi việc đánh giá đất đai giữa các vùng khác nhau[22].
b. Đánh giá đất ở Mỹ
Hệ thống đánh giá phân loại đất đai theo tiềm năng của Hoa Kỳ đã được
15
bộ nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) đề xuất vào năm 1961. Bên cạnh đó, khái niệm
về "khả năng đất đai" cũng được mở rộng trong công tác đánh giá đất đai ở Mỹ
do Klingebiel và Montgomery (Vụ Bảo tồn đất đai - Bộ Nông nghiệp Mỹ) đề
nghị năm 1964. Trong đó các đơn vị đất đai được nhóm lại dựa vào khả năng sản
xuất của một loại cây trồng hay thực vật tự nhiên nào đó, chỉ tiêu chính là các
hạn chế của lớp thổ nhưỡng đối với mục tiêu canh tác được đề nghị. Đây là một
dạng đánh giá đất đai sơ lược, gắn với hiện trạng sử dụng đất hay còn gọi là loại
hình sử dụng đất[14].
Phương pháp này được sử dụng thành công ở Mỹ và sau đó được vận dụng ở

Thấy rõ được tầm quan trọng của công tác đánh giá, phân hạng đất đai là cơ
sở cho việc quy hoạch sử dụng đất, tổ chức FAO đã tập hợp các nhà khoa học đất
và các chuyên gia đầu ngành về nông nghiệp để tổng hợp các kết quả và kinh
nghiệm đánh giá đất đai của các nước, xây dựng nên tài liệu “Đề cương đánh giá đất
đai” (FAO, 1976).
Đề cương cũng đưa ra những nguyên tắc đánh giá đất sau:
- Mức độ thích hợp của đất đai được đánh giá, phân hạng cho các loại sử
dụng đất cụ thể.
- Việc đánh giá yêu cầu có sự so sánh giữa lợi nhuận thu được và đầu tư cần
thiết trên các loại đất khác nhau.
- Yêu cầu phải có quan điểm tổng hợp.
- Việc đánh giá phải phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của vùng.
- Khả năng thích nghi phải đưa vào sử dụng phải dựa trên cơ sở bền vững.
- Đánh giá đất có liên quan tới so sánh với nhiều loại sử dụng đất.
Đề cương đã giới thiệu 3 mức độ so sánh: Sơ lược, bán chi tiết và chi tiết; hai
phương pháp đánh giá: Phương pháp hai bước và phương pháp song song để tùy
theo điều kiện tự nhiên mà vận dụng.
Với 6 nguyên tắc cơ bản nêu trên, đánh giá đất đai sẽ cung cấp cho việc quy
hoạch sử dụng đất những phương án về sử dụng tài nguyên đất đai, và trong mỗi
phương án là những thông tin về năng suất - mức đầu tư (chi phí, lợi nhuận) - cách
17
quản trị đất đai - nhu cầu về cải thiện cơ sở hạ tầng và ảnh hưởng của sử dụng đất
đối với môi trường (trong và ngoài nơi nghiên cứu). Nguyên tắc đánh giá đất theo
FAO là đánh giá đất phải gắn với loại sử dụng đất xác định, có sự so sánh giữa lợi
nhuận thu được và đầu tư cần thiết. Đánh giá đất liên quan chặt chẽ với các yếu tố
môi trường tự nhiên của đất với các điều kiện kinh tế - xã hội[25].
Phương pháp đánh giá đất của FAO chính là đánh giá độ thích hợp đất đai.
Thực chất của phương pháp là dựa trên sự so sánh, đối chiếu mức độ thích hợp giữa
yêu cầu của một loại hình sử dụng đất nào đó hay một cây trồng nhất định với đặc
tính vốn có của đơn vị bản đồ đất đai, gắn với việc phân tích các khía cạnh kinh tế,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status