Số hóa bởi trung tâm học liệu
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
–––––––––––––––––
TẠ VIỆT DUYÊN
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ VÀ ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG
ĐẤT NÔNG NGHIỆP ĐẾN NĂM 2020 CỦA THỊ XÃ
SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Mã số : 62.85.01.03
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP Thái Nguyên, năm 2013
2
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp
đỡ, những ý kiến đóng góp, chỉ bảo quý báu của thầy giáo, cô giáo khoa Tài
nguyên và Môi trường, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
Để có được kết quả nghiên cứu này, ngoài sự cố gắng và nỗ lực của bản
thân, tôi còn nhận được sự hướng dẫn chu đáo, tận tình của TS. Phan Đình Binh
là người hướng dẫn trực tiếp tôi trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài và viết
luận văn.
Tôi cũng nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện của UBND thị xã Sông Công,
phòng Kinh tế, phòng Thống kê, phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã, các
phòng ban và nhân dân các xã, phường của thị xã, các anh chị em và bạn bè
đồng nghiệp, sự động viên, tạo mọi điều kiện về vật chất, tinh thần của gia đình
và người thân.
Với tấm lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn mọi sự giúp đỡ
quý báu đó!
Tác giả luận văn
1
1.2
Mục đích nghiên cứu
2
1.3
Yêu cầu
3
Chƣơng 1: Tổng quan tài liệu
4
1.1
Đất nông nghiệp và vấn đề sử dụng đất nông nghiệp
4
1.1.1
Khái niệm về đất và đất nông nghiệp
4
1.1.2
Sự cần thiết phải đánh giá hiện trạng sử dụng đất
5
1.2
Đặc điểm đất nông nghiệp
6
1.3
Vai trò của đất nông nghiệp
7
1.4
Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam
9
1.4.1
Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới
2.1
Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
28
2.2
Nội dung nghiên cứu
28
Số hóa bởi trung tâm học liệu
4
2.3
Phương pháp nghiên cứu
28
Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
31
3.1
Điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội của thị xã Sông Công
31
3.1.1
Điều kiện tự nhiên
31
3.1.2
Tình hình kinh tế - xã hội
35
3.1.3
Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
41
3.2
Đánh giá hiện trạng sử dụng đất và tình hình quản lý đất đai của
59
3.4
Định hướng tổng quát cho việc sử dụng đất sản xuất nông
nghiệp trên địa bàn thị xã Sông Công đến năm 2020
64
Kết luận và đề nghị
70
1
Kết luận
70
2
Đề nghị
71
Tài liệu tham khảo
73 Số hóa bởi trung tâm học liệu
5
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT
DẠNG VIẾT TẮT
DẠNG ĐẦY ĐỦ
1
CNH - HĐH
Công nghiệp hóa và hiện đại hóa
2
12
HQMT
Hiệu quả môi trường
13
TDMN
Trung du miền núi
14
NS
Năng suất
15
SP
Sản phẩm
55
3.7
Diện tích, năng suất trung bình, sản lượng một số cây trồng
năm 2012
56
3.8
Hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất tính trên 1ha
57
3.9
Giá trị công lao động tính trên 1ha
58
3.10
Phân cấp các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội và môi trường
của các LUT trên địa bàn thị xã Sông Công
60
3.11
Hiệu quả xã hội và môi trường của các loại hình sử dụng đất
61
Số hóa bởi trung tâm học liệu
8
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Ngay từ những lời đầu của Luật Đất đai 1993 đã khẳng định: “ Đất đai
là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá….” [20]. Đất đai quyết định
cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, được cố định về diện tích,
không gian, vị trí địa lý. Vì vậy vai trò của đất đai đối với con người là không
thể phủ nhận được.
Đất đai, đặc biệt là đất nông nghiệp có hạn về diện tích, có nguy cơ bị
suy thoái dưới tác động của thiên nhiên và sự thiếu hiểu biết của con người
trong quá trình hoạt động sản xuất. Khi xã hội phát triển, dân số tăng nhanh,
cao, cơ sở hạ tầng ngày càng phát triển. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế
- xã hội của thị xã Sông Công đã nêu rõ mục tiêu, quan điểm và phương
hướng phát triển. Trong đó xác định rõ hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc
biệt là phát triển nền nông nghiệp bền vững dựa trên tiềm năng của đất nông
nghiệp và việc ứng dụng khoa học kỹ thuật mới trong sản xuất.
Xuất phát từ thực tiễn đó, thị xã Sông Công cần tiến hành nghiên cứu
tiềm năng đất dành cho nông nghiệp, định hướng cho người dân khai thác và
sử dụng hợp ký, có hiệu quả đất nông nghiệp. Bên cạnh đó, cần đánh giá hiệu
quả sử dụng đất nông nghiệp nhằm đề xuất hướng sử dụng đất và loại hình sử
dụng đất thích hợp nhằm phát huy tối đa nguồn tài nguyên đất nông nghiệp
sẵn có, tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội cho thị xã. Trên cơ sở đó, tôi
tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá hiệu quả và định hướng sử dụng đất sản xuất nông
nghiệp đến năm 2020 của thị xã Sông Công - tỉnh Thái Nguyên”
1.2 Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá hiện trạng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn thị
xã Sông Công.
- Đánh giá hiệu quả và định hướng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp
trên địa bàn thị xã.
Số hóa bởi trung tâm học liệu
10
- Giúp công tác quản lý Nhà nước về đất đai ở địa phương tốt hơn.
1.3 Yêu cầu
- Số liệu điều tra phải khách quan, trung thực đánh giá đầy đủ và
chính xác.
- Xác định và lựa chọn được các loại hình sử dụng đất sản xuất nông
nghiệp thích hợp trên địa bàn nghiên cứu, đồng thời đưa ra các định hướng sử
dụng phù hợp.
Đất đai là tài sản quý báu của con người, là tư liệu sản xuất đặc biệt
không thể thay thế được trong sản xuất nông nghiệp. Trên quan điểm sinh thái
đất được định nghĩa: Đất là vật mang của hệ sinh thái tự nhiên và hệ sinh thái
nông nghiệp [2]. Theo quan điểm của đánh giá đất thì đất đai được định nghĩa
là một vùng đất mà đặc tính của nó được xem như bao gồm các đặc trưng tự
nhiên quyết định đến khả năng khai thác được hay không mà ở mức độ nào
của vùng đất đó. Thuộc tính của đất bao gồm khí hậu, thổ nhưỡng, lớp địa
chất bên dưới, thuỷ văn, động vật, thực vật và những tác động trong quá khứ
cũng như hiện tại của con người [FAO]. Theo Docutraiep (1879) thì đất được
định nghĩa như sau: “Đất là vật thể thiên nhiên, cấu tạo độc lập, lâu đời do kết
quả của quá trình hoạt động tổng hợp của 5 yếu tố hình thành đất gồm: đá,
sinh vật, khí hậu, địa hình và thời gian. Về sau nhiều nhà nghiên cứu về đất
cho rằng đối với đất nông nghiệp cần phải bổ sung thêm một số yếu tố khác
và đặc biệt quan trọng là vai trò của con người. Chính con người khi tác động
vào đất đã làm thay đổi khá nhiều tính chất đất và có thể tạo ra hẳn một loại
đất mới chưa hề có trong tự nhiên. Nếu biểu thị định nghĩa về đất dưới dạng
công thức toán học thì ta có thể coi đất là một hàm của một số yếu tố hình
thành đất theo thời gian [14].
Đ = f (Đa, Sv, K, Đh, Nc, Ng)t
Trong đó: Đ: đất; Đa: đá; Sv: sinh vật; K: khí hậu; Đh: địa hình; Nc:
nước của đất và nước ngầm; Ng: tác động của con người; t: thời gian;
Đất nông nghiệp là đất được xác định để sử dụng vào sản xuất nông
nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối hoặc dùng nghiên cứu thí nghiệm về
Số hóa bởi trung tâm học liệu
12
nông nghiệp. Theo Luật Đất đai năm 2003 [20], đất nông nghiệp bao gồm:
- Đất sản xuất nông nghiệp: Đất trồng cây hàng năm; Đất trồng cây lâu
năm.
thể hiện trạng sử dụng đất giúp cho các nhà lãnh đạo, các nhà chuyên môn
đưa ra các quyết định chính xác, phù hợp với việc sử dụng đất hiện tại và
hướng sử dụng đất trong tương lai.
1.2. Đặc điểm đất nông nghiệp
Đất nông nghiệp đóng vai trò vô cùng quan trọng, nó vừa là tư liệu sản
xuất đặc biệt vừa là tư liệu lao động. Đất nông nghiệp thuộc loại đất người ta
chủ yếu sử dụng vào mục đích nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi
trồng thuỷ sản. Ngoài ra còn có loại đất thuộc nhóm đất nông nghiệp nhưng
thực tế không thuộc đất sản xuất trong nông nghiệp mà nó phục vụ cho các
ngành khác. Vì vậy chỉ có loại đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp mới
được coi là đất nông nghiệp.
Những diện tích đất đai phải qua quá trình cải tạo mới đưa vào hoạt
động sản xuất nông nghiệp được thì gọi là đất có khả năng nông nghiệp. Nhà
nước xác định mục đích sử dụng chủ yếu của đất nông nghiệp là sử dụng vào
mục đích nông nghiệp, song do đặc điểm tình hình từng loại đất hiện nay có
sự khác nhau dẫn đến mục đích sử dụng cụ thể khác nhau. Vì vậy, người ta
chia đất nông nghiệp thành 4 loại:
+ Đất nông nghiệp hàng năm:
Bao gồm phần diện tích đất nông nghiệp dành để trồng cây các loại cây
ngắn ngày bao gồm: diện tích đất trồng lúa, diện tích đất trồng lúa cộng với
trồng màu, diện tích đất gieo mạ, diện tích đất nương rẫy, diện tích đất trồng
cây hàng năm khác.
+ Đất trồng cỏ dùng cho chăn nuôi:
Là loại đất dùng chủ yếu phục vụ mục đích chăn nuôi: đó là diện tích
đất chuyên trồng cỏ cho chăn nuôi, đất đồng cỏ tự nhiên đã được quy hoạch,
cải tạo và chăm sóc nhằm mục đích nuôi gia súc.
+ Đất mặt nước nuôi trồng thuỷ sản:
Số hóa bởi trung tâm học liệu
14
Số hóa bởi trung tâm học liệu
15
màu và chỉ trồng trên đất nông nghiệp thì mới đạt hiệu quả cao, đảm bảo cho
sự tồn tại, duy trì và phát triển của các loại cây lương thực, hoa màu này. Phát
triển kinh tế nông nghiệp chủ yếu do quỹ đất nông nghiệp và tính chất đất đó
là yếu tố cơ sở, nền tảng và làm tiền đề cho sự phát triển này.
Đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng có vai trò quan trọng
đối với việc phát triển của nền kinh tế quốc dân. Nông nghiệp có nhiệm vụ
bảo đảm lương thực, thực phẩm cho toàn dân, cung cấp nguyên liệu cho công
nghiệp, đẩy mạnh xuất khẩu, xây dựng cơ sở vật chất, tạo thêm việc làm,
nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, mở rộng thị trường, ổn
định xã hội và bảo vệ an ninh quốc gia, tạo cơ sở vững chắc cho sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Để đảm bảo được các vấn đề nêu trên thì đất nông nghiệp phải đảm bảo
trú trọng hàng đầu cả về số lượng và chất lượng. Bởi vì quỹ đất đai tự nhiên là
không thay đổi song do nhu cầu phát triển của xă hội đã làm cho đất nông
nghiệp bị thu hẹp lại, do đó cần phải có các chính sách đảm bảo quỹ đất nông
nghiệp luôn luôn đủ để đáp ứng cho quá trình sản xuất nông nghiệp đảm bảo
lương thực, thực phẩm cho toàn xã hội và kích thích các ngành nghề khác
cùng phát triển.
Nước ta gần 80% dân số là làm trong nông nghiệp, do đó nông nghiệp
là môi trường việc làm cho đa số đông dân số tăng thu nhập, nâng cao đời
sống cho nhân dân, đây là điều kiện giữ vững sự ổn định trong nhân dân tạo
nền móng vững chắc về chính trị.
Đất nông nghiệp nước ta đang ngày càng phát triển, ngoài trồng trọt ra,
đất nông nghiệp còn sử dụng vào lĩnh vực chăn nuôi, đặc biệt là mặt nước
nuôi trồng thuỷ sản đang ngày càng phát triển, có chiến lược mạnh trong việc
xuất khẩu như: tôm, cua, cá,
Đất nông nghiệp có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nông
có 0,4ha đất canh tác.
Hiện nay, thoái hóa đất và hoang mạc là một trong những vấn đề môi
trường và tài nguyên thiên nhiên mà nhiều quốc gia đang phải đối mặt và giải
Số hóa bởi trung tâm học liệu
17
quyết nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực, đất
bị thoái hóa có ở khắp nơi trên thế giới, châu Á chiếm 38%, châu Phi 25,2%,
châu Mỹ 20,5%, châu Âu 11,1%, châu Đại Dương 5,2%. Tình trạng thoái hóa
đất gia tăng đã khiến năng suất cây trồng giảm và có thể đe dọa tới tình hình
an ninh lương thực đối với khoảng 1/4 dân số thế giới sống phụ thuộc trực
tiếp vào đất. Việc con người khai thác và sử dụng bừa bãi không có khoa học
làm cho đất nông nghiệp giảm cả về số lượng và chất lượng. Nhiều vùng đất
trên thế giới đã trở thành sa mạc không thể canh tác được, vấn đề sử dụng đất
nông nghiệp trên thế giới đang là một vấn đề hết sức phức tạp ở tất cả các
quốc gia. Tiềm năng đất nông nghiệp chưa được khai thác một cách triệt để,
bên cạnh đó vấn đề suy thoái đất nông nghiệp và mất đất nông nghiệp cho
những nhu cầu của xã hội vẫn luôn luôn diễn ra, do vậy để đảm bảo được sự
an toàn về lương thực, thực phẩm cho những nhu cầu hiện tại và không làm
ảnh hưởng tới nhu cầu trong tương lai thì đòi hỏi các quốc gia phải luôn có
sách lược sử dụng đất nông nghiệp hợp lý, đạt hiệu quả cao.
1.4.2. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam
Tổng diện tích tự nhiên nước ta là 330957,6 Km
2
(theo số liệu của
Tổng cục thống kê năm 2011), dân số là 87.840 nghìn người, mật độ dân số là
265 người/km
2
. Bình quân diện tích đất tự nhiên 3.767,7m
Đất trồng cỏ
44.400
0,44
Đất trồng lúa
4.120.200
40,68
Đất trồng cây hàng năm khác
2.273.000
22,44
(Nguồn: Niên giám thống kê 2011 - Tổng cục Thống kê Việt Nam)
Thực tế trong khoảng 10 năm gần đây, cùng với quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp,
đặc biệt là diện tích đất trồng lúa do chuyển sang xây dựng đô thị và các khu
công nghiệp. Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường trong 10 năm
(2000 - 2010), bình quân diện tích đất nông nghiệp giảm 50m
2
/người. Đáng
báo động hơn là tình trạng suy giảm chất lượng đất nông nghiệp do rửa trôi,
xói mòn, khô hạn, sa mạc hóa, mặn hóa, phèn hóa, chua hóa, thoái hóa các
tính chất lý hóa học đất, ô nhiễm đất suy thoái chất lượng đất dẫn đến giảm
khả năng sản xuất, giảm đa dạng sinh học. Ở Việt Nam hiện có 15,7 triệu ha
đất bị xói mòn, rửa trôi mạnh, chua, 9 triệu ha đất có tầng mỏng và độ phì
thấp, 3 triệu ha đất thường bị khô hạn và sa mạc hóa, 1,9 triệu ha đất bị phèn
hóa, mặn hóa. Ngoài ra còn tình trạng ô nhiễm do phân bón, hóa chất bảo vệ
thực vật, chất thải, nước thải đô thị, khu công nghiệp, làng nghề, sản xuất dịch
vụ, chất độc hóa học để lại sau chiến tranh Đây thực sự là những vấn đề
đáng lo ngại và thách thức lớn với một nước nông nghiệp như nước ta.
Số hóa bởi trung tâm học liệu
19
Số hóa bởi trung tâm học liệu
20
nghiệp phải dựa vào trí tuệ, dựa vào kiến thức khoa học kỹ thuật và đó cũng
chính là sản xuất nông nghiệp theo quan điểm sinh thái và phát triển bền
vững.
- Nền nông nghiệp sinh thái học là một nền nông nghiệp không loại trừ
phân bón hoá học, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc kích thích sinh trưởng mà sử
dụng chúng một cách hợp lý hơn, có hiệu quả hơn, tránh ô nhiễm môi trường.
Hay một nền nông nghiệp sinh thái học phải là một nền nông nghiệp có sự kết
hợp hài hoà những cái tích cực, đúng đắn, hợp lý của hai nền nông nghiệp -
công nghiệp hoá và sinh học nông nghiệp. Phải biết chắt lọc, phát huy thế
mạnh, tính ưu việt của từng nền nông nghiệp và kiên quyết loại bỏ những tồn
tại của chúng. Nền nông nghiệp sinh thái phải tuân thủ theo các nguyên tắc
chủ yếu sau: Không phá hoại môi trường, đảm bảo năng suất ổn định, đảm
bảo khả năng thực thi, không phụ thuộc vào bên ngoài, ít phụ thuộc vào hàng
nhập ngoại [8].
- Nông nghiệp bền vững là một nền nông nghiệp xây dựng được một hệ
thống ổn định về mặt sinh thái, có tiềm lực về mặt kinh tế, thoả mãn các nhu
cầu cả ở hiện tại và trong tương lai. Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về nông
nghiệp bền vững tuỳ vào từng điều kiện cụ thể:
Theo Baier (1990): Hệ thống nông nghiệp bền vững là một hệ thống có
hiệu quả về mặt kinh tế, đáp ứng nhu cầu xã hội về an ninh lương thực, đồng
thời giữ gìn và cải thiện tài nguyên thiên nhiên và chất lượng của môi trường
sống cho muôn đời sau.
Theo FAO (1990): Nông nghiệp bền vững bao gồm việc sử dụng quản
lý có hiệu quả nguồn vốn tài nguyên của nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu
cuộc sống của con người đồng thời giữ gìn và cải thiện tài nguyên thiên
nhiên, môi trường.
Qua các định nghĩa về nông nghiệp bền vững nói trên cho thấy nội
+ Giảm thiểu khả năng bị tổn thương trong nông nghiệp, củng cố lòng
tin trong nhân dân [7].
Số hóa bởi trung tâm học liệu
22
1.6. Định hƣớng sử dụng đất nông nghiệp
1.6.1. Cơ sở khoa học và thực tiễn trong đề xuất sử dụng đất
- Truyền thống, kinh nghiệm và tập quán sử dụng đất lâu đời của
nhân dân Việt Nam.
- Những số liệu, tài liệu thống kê định kỳ về sử dụng đất (diện
tích, năng suất, sản lượng), sự biến động và xu hướng phát triển.
- Chiến lược phát triển của các ngành: Nông nghiệp, lâm nghiệp,
công nghiệp, xây dựng, giao thông Các dự án quy hoạch tổng thể kinh tế -
xã hội của các vùng và địa phương, kết quả nghiên cứu tiềm năng đất đai về
phân bố, sản lượng, chất lượng và khả năng sử dụng ở mức độ thích nghi của
đất đai, trình độ phát triển khoa học kỹ thuật phục vụ cho sản xuất đạt hiệu
quả kinh tế cao, tốc độ gia tăng dân số, dự báo dân số qua các thời kỳ.
1.6.2. Quan điểm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
- Sử dụng đất phải gắn liền với định hướng phát triển kinh tế - xã
hội của địa phương
- Khai thác sử dụng đất phải dựa trên cơ sở quy hoạch và lập kế
hoạch sử dụng đất, phải đạt hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường, tiến tới sự
ổn định bền vững lâu dài, phải gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH - HĐH.
- Khai thác sử dụng đất phải đảm bảo khai thác tối đa lợi thế so
sánh, tiềm năng của từng vùng trên cơ sở kết hợp giữa chuyên môn hóa và đa
dạng hóa sản phẩm và sản xuất hàng hóa, phải đảm bảo ưu tiên trước hết cho
mục tiêu đảm bảo an ninh lương thực của các hộ và địa phương, phù hợp với
trình độ dân trí, phong tục tập quán nhằm phát huy kiến thức bản địa và nội
+ Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp.
Hiện nay trên thế giới, việc định hướng sử dụng đất nông nghiệp đều
dựa trên cơ sở của quan điểm sinh thái và phát triển bền vững trong sử dụng
đất nông nghiệp. Định hướng sử dụng đất nông nghiệp đối với những vùng
đất mới khai hoang hoặc chuyển từ mục đích sử dụng đất khác sang sản xuất
nông nghiệp là sự áp dụng toàn mới của một hệ thống cây trồng, vật nuôi
Số hóa bởi trung tâm học liệu
24
nguyên vẹn. Còn đối với những vùng đất đã và đang tiến hành sản xuất nông
nghiệp thì đó là sự định hướng chuyển đổi hệ thống cây trồng hiện tại không
phù hợp, hiệu quả thấp sang một hệ thống cây trồng mới phù hợp hơn và đem
lại hiệu quả cao hơn. Sự chuyển đổi đó được tuân theo các quan điểm sau:
Hình 1: Sự phát triển nông nghiệp bền vững
+ Chuyển đổi hệ thống cây trồng trên quan điểm sản xuất hàng hoá và đạt
được hiệu quả cao: Để phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá phù
quốc gia
Cân
bằng giữa
các thế hệ