BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP HÀ NỘI
TRẦN VĂN HẢI
NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC ĐƯỢC ĐỒNG BÀO DÂN
TỘC H’MÔNG SỬ DỤNG TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN HOÀNG
LIÊN – VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
HÀ NỘI - 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP HÀ NỘI
TRẦN VĂN HẢI
NGHIÊN CỨU NGUỒN TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC ĐƯỢC ĐỒNG BÀO
DÂN TỘC H’MÔNG SỬ DỤNG TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN
HOÀNG LIÊN – VĂN BÀN, TỈNH SƠN LA
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN RỪNG
MÃ SỐ: 60.62.68
càng ô nhiễm, thiên tai xảy ra liên tiếp cùng với nó là sự xuất hiện của nhiều loại
bệnh tật mới mà thuốc tây vẫn chưa có thuốc đặc trị. Vì vậy, ngày nay tất cả các
nước trên thế giới đang hết sức quan tâm tới việc sử dụng hiệu quả nguồn tài
nguyên cây thuốc.
Cũng như nhiều Khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn quốc gia khác trong nước,
Khu bảo tồn thiên thiên Hoàng Liên – Văn Bàn, tỉnh Lào Cai có hệ thực vật nói
chung, tài nguyên cây thuốc nói riêng đang bị suy giảm cả về số lượng cũng như
chất lượng [41]. Tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên – Văn Bàn cho đến nay
các công trình nghiên cứu về cây thuốc vẫn chưa được quan tâm và chú ý nhiều.
Xuất phát từ vấn đề trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu tài nguyên
cây thuốc của đồng bào dân tộc H’Mông ở khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng LiênVăn Bàn, tỉnh Lào Cai làm cơ sở cho công tác bảo tồn” để hoàn thiện nghiên cứu
khóa luận tốt nghiệp của mình.
2
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở một số nước trên thế giới
Ngay từ khi loài người xuất hiện, con người đã biết sử dụng các loài thực vật
để phục vụ cuộc sống của mình như cây làm thức ăn, nhà ở, cây làm thuốc, đầu độc
chim, thú…Từ những kinh nghiệm đó, dần dần hình thành một khoa học gọi là
Thực vật dân tộc học. Khoa học này nghiên cứu các mối quan hệ giữa các dân tộc
khác nhau với các loài cây cỏ phục vụ cho cuộc sống của họ. Mỗi quốc gia đều có
những nền y học cổ truyền riêng, đặc biệt trong đó có những kinh nghiệm tìm kiếm
và sử dụng những cây thuốc để phòng và trị bệnh ở người, vật nuôi. Những ghi
chép đầu tiên về cây thuốc được tìm thấy cách đây hơn 5 ngàn năm, đó là những nét
khắc trên đất sét của người Sumeria, thuộc Mesopotamia cổ xưa (là Irắc ngày nay),
đề cập đến sử dụng cây carum và cây húng tây. Cũng thời gian này, kinh nghiệm sử
dụng cây thuốc cũng bắt đầu hình thành và phát triển ở Trung Quốc và Ấn Độ. Tuy
nghiên cứu tác dụng hóa học của các chất tới cơ thể con người. Hiện nay, chính phủ
khuyến khích sử dụng công nghệ cao trong trồng cây thuốc. Hầu hết các viện
nghiên cứu dược của Ấn Độ đã tham gia vào nghiên cứu chuyển hóa các loại thuốc
và hợp chất có hoạt tính từ thực vật.
Những hiểu biết về thảo mộc của người Hy Lạp và Roma gắn liền với nền văn
minh phát triển từ rất sớm của họ. Người Hy Lạp cổ xưa chịu ảnh hưởng của người
Babylon, Ai Cập, Ấn Độ. Hippocrat (460 – 377 TCN) là thầy thuốc nổi tiếng người
Hy Lạp được mệnh danh là cha đẻ của y học hiện đại khi ông là người đưa ra quan
niệm “Hãy để thức ăn của bạn là thuốc và thuốc chính là thức ăn của bạn”.
Ở Châu Âu, vào thời Trung cổ, các kiến thức về cây thuốc chủ yếu được các
thầy tu sưu tầm và nghiên cứu. Họ trồng cây thuốc và dịch các tài liệu về thảo mộc
bằng tiếng Ả rập. Vào năm 1649, Nicolas Culpeper đã viết cuốn sách “A Physical
Directory”, sau đó vài năm, ông lại xuất bản cuốn “The English Physician”. Đây là
cuốn dược điển có giá trị và là một trong những cuốn sách hướng dẫn đầu tiên dành
cho nhiều đối tượng sử dụng, người không chuyên có thể sử dụng để làm cẩm nang
chăm sóc sức khỏe. Cho đến nay, cuốn sách này vẫn được tham khảo và trích dẫn
rộng rãi.
Thầy lang và những bài thuốc cổ truyền từ thực vật đóng vai trò quan trọng
đối với sức khỏe của hàng triệu người. Tỷ lệ người làm nghề thuốc cổ truyền và các
bác sĩ được đào tạo ở các trường Đại học có liên quan tới toàn bộ dân số của các
4
nước châu Phi. Ước tính số lượng thầy lang ở Tanzanmia có khoảng 30.000 –
40.000 người, trong đó, bác sĩ làm nghề y chỉ có khoảng 600 người. Tương tự ở
Malawi có khoảng gần 20.000 người làm nghề thuốc cổ truyền nhưng số lượng bác
sĩ rất ít. Nền y học cổ truyền ở các quốc gia Châu Phi có ảnh hưởng lớn đến sức
khỏe cộng đồng.
Cùng với phương thức chữa bệnh theo kinh nghiệm dân gian, các nhà khoa
chất khoáng, vitamin, tinh dầum glycosid và nhiều chất khác đóng vai trò quan
trọng trong việc tăng cường hoặc hỗ trợ các đặc tính chữa bệnh của cây thuốc, bảo
vệ cơ thể của các tác nhân gây độc. Trong khi đó, các hợ chất được phân lập và tổng
hợn có khả năng chữa bệnh hiệu quả nhưng vì thiếu đi các hợp chất tự nhiên khác
nên chúng có khả năng gây độc đối với cơ thể. Trước đây, việc sử dụng thảo dược
để chữa bệnh thường bị hiểu lầm với phép thuật và mê tín dị đoan. Ngày nay, khoa
học hiện đại đã chứng minh được khả năng chữa bệnh của thảo mộc. Vì vậy, thế
giới ngày càng quan tâm tới cây thuốc cũng như phương pháp chữa bệnh bằng y
học cổ truyền.
Theo thống kê của tổ chức Y tế thế giới (WHO), có trên 20.000 loài thực vật
bậc cao có mạch và ngành thực vật bậc thấp được sử dụng trực tiếp làm thuốc hoặc
cung cấp các hoạt chất tự nhiên để làm thuốc. Trong đó, vùng nhiệt đới Châu Mỹ có
hơn 1.900 loài, vùng nhiệt đới Châu Á có khoảng 6.500 loài thực vật có hoa được
dùng làm thuốc. Mức độ sử dụng thuốc thảo dược ngày càng cao.
Khoảng 80% dân số ở các quốc gia đang phát triển sử dụng các phương pháp y
học cổ truyền để chăm sóc sức khỏe, trong đó chủ yếu là cây cỏ. Trung Quốc là
nước đông dân nhất thế giới, có nền y học dân tộc phát triển nên trong số cây thuốc
đã biết hiện nay có tới 80% số loài (khoảng trên 4.000 loài) là được sử dụng theo
kinh nghiệm cổ truyền của các dân tộc ở đất nước này. Ở Ghana, Mali, Nigeria và
Zambia, 60% trẻ em có triệu chứng sốt rét ban đầu được điều trị tại chỗ bằng thảo
dược. Tỷ lệ dân số tin tưởng vào hiệu quả sử dụng thảo dược và các biện pháp chữa
bệnh bằng y học cổ truyền cũng đang tăng nhanh ở các quốc gia phát triển. Ở Châu
Âu, Bắc Mỹ, và một số nước khác, ít nhất 50% dân số sử dụng thực phẩm bổ sung
hay thuốc thay thế từ thảo mộc. Ở Đức, 90% dân số sử dụng các phương thuốc có
nguồn gốc thiên nhiên để chăm sóc sức khỏe. Ở Anh, chi phí hàng năm cho các loại
thuốc thay thế từ thảo mộc là 230 triệu đôla.
6
7
(FAO) của Liên hợp quốc, trong vòng 40 năm (1940 – 1980), diện tích của các loại
rừng kể trên đã bị thu hẹp tới 44%, ước tình khoảng 75.000 hecta rừng bị phá hủy.
Tiềm năng chữa bệnh của nhiều loài thảo dược đang ngày càng được khám
phá, vì thế vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học nói chung và bảo tồn cây thuốc nói
riêng đang là mối quan tâm hàng đầu của nhiều quốc gia nhằm phục vụ cho mục
đích chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của con người.
1.2. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở Việt Nam
Nền y học cổ truyền của Việt Nam đã có từ rất lâu đời, nhiều phương thuốc
bào chế từ cây thuốc được áp dụng chữa bệnh trong dân gian. Những kinh nghiệm
này đã được ghi chép thành những cuốn sách có giá trị và lưu truyền rộng rãi trong
nhân dân. Với lợi thế về khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng và ẩm, Việt Nam có nguồn
tài nguyên thực vật phong phú. Ước tính, nước ta có khoảng 12.000 loài thực vật
bậc cao có mạch, 800 loài rêu, 600 loài nấm và hơn 2.000 loài tảo [9], [15], [16]. Có
khoảng trên 3.000 loài thực vật bậc cao dùng làm thuốc.
Trong cuốn sách “Nam Dược Thần Hiệu” và “Hông Nghĩa Giác Tư Y Thư”
của Tuệ Tĩnh đã mô tả hơn 630 vị thuốc, 50 đơn thuốc chữa các loại bệnh trong đó
37 đơn thuốc chữa bệnh thương hàn. Hai cuốn sách này được xem là những cuốn
sách xuất hiện sớm nhất về cây thuốc Việt Nam. Đến thế kỷ 18, Hải Thượng Lãn
Ông Lê Hữu Trác đã xuất bản bộ sách lớn “Y Tông Tâm Tĩnh” gồm 28 tập, 66
quyển đã mô tả khá chi tiết vệ thực vật, các đặc tính chữa bệnh [57].
Thời kỳ Pháp thuộc (1884 – 1945), nền y học cổ truyền của Việt Nam chịu
nhiều ảnh hưởng của dược học phương Tây. Các phương thức chữa bệnh mới được
mang đến qua quá trình khai thác thuộc địa, họ đã gián tiếp thúc đẩy quá trình
nghiên cứu thực vật của Việt Nam nói chung và nghiên cứu cây thuốc nói riêng.
Đặc biệt bộ sách “Thực vật chí đại cương Đông Dương” của Lecomte xuất bản cuối
thể kỷ XVIII đầu thể kỷ XIX đã mô tả và phân loại hơn 7.000 loài thực vật [48].
Đến năm 1952 tác giả tái bản lại cuốn sách, bổ sung và đặt tên mới là “Những cây
Việt Nam” của tác giả Lã Đình Mỡi và cộng sự (2001 – 2002) các tác giả đã trình
bày giá trị sử dụng làm thuốc của nhiều loài thực vật có tinh dầu của Việt Nam [22].
Năm 2005, Lã Đình Mỡi và cộng sự giới thiệu tiếp công trình “Những cây chứa các
hợp chất có hoạt tính sinh học” đây được coi là những ghi chép đầu tiên, có hệ
thống và tương đối hoàn chỉnh về nguồn tài nguyên thực vật có chứa các chất có
hoạt tính sinh học được sử dụng làm thuốc ở nước ta [23].
9
Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (2003, 2005) đã công bố bộ sách “Cẩm nang tra
cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam” [4]. Cuốn sách đã trình bày
đầy đủ các thông tin về tên khoa học, tên thường gọi, nhận dạng, phân bố, dạng
sống – sinh thái và công dụng. Bộ sách này rất có ý nghĩa cho việc tra cứu danh
pháp các loài thực vật.
Trong những năm qua, nhà nước Việt Nam đã có nhiều chính sách đầu tư cho
công tác điều tra, nghiên cứu về cây thuốc và kế thừa nền y học cổ truyền, phục vụ
cho nhu cầu chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe của nhân dân. Các ngành Y tế, Lâm
nghiệp và Sinh học đã tiến hành nhiều đợt điều tra cơ bản, đặc biệt là chương trình
điều tra nghiên cứu cây thuốc của Viện Dược liệu – Bộ Y tế đã tiến hành trên phạm
vi toàn quốc. Đến nay ở nước ta có khoảng 3.948 loài cây thuốc được ghi nhận,
thuộc 307 họ của 9 ngành thực vật bậc cao và bậc thấp, bao gồm cả nấm.
1.3. Tình hình nghiên cứu tri thức và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của các
dân tộc thiểu số ở Việt Nam.
Các dân tộc thiểu số nói chung, do đời sống gắn liền với khai thác sử dụng
thực vật nên có nhiều kinh nghiệm và tri thức quý trong quá trình chế biến, sử dụng
thực vật; đặc biệt là các kinh nghiệm sử dụng cây thuốc. Tuy nhiên, các tri thức và
kinh nghiệm dân tộc thường được sử dụng và lưu truyền trong một phạm vi hẹp
(dân tộc, dòng họ, gia đình), vì vậy không được phát huy để phục vụ cho xã hội và
có nguy cơ thất thoát rất cao. Nhận thức được tầm quan trọng này, trong khoảng 10
quả của các nghiên cứu trên cho thấy các dân tộc nước ta có nhiều tri thức quý giá
và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc độc đáo để phòng và chữa bệnh.
Nhiều bài thuốc dân tộc có hiệu quả chữa trị cao đã được thu thập và đưa vào
nghiên cứu thực nghiệm. Đồng thời, đã phát hiện nhiều loài cây thuốc mới; đặc biệt
là các công dụng mới của nhiều loài cây thuốc. Như vậy, nghiên cứu cây thuốc
truyền thống của các dân tộc thiểu số đã góp phần sử dụng hiệu quả hơn nguồn tài
nguyên cây thuốc ở nước ta.
Cùng với việc điều tra thành phần loài, kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của các
cộng đồng thiểu số; nghiên cứu sàng lọc các bài thuốc dân tộc sử dụng rộng rãi góp
phần chăm sóc sức khỏe cộng đồng và phát triển kinh tế xã hội được chú trọng
nghiên cứu trong những năm gần đây. Từ kinh nghiệm truyền thống của các dân tộc
đã có những nghiên cứu và sản xuất thành công các loại thuốc chữa bệnh cho người
dân. Có thể nhận thấy, nghiên cứu cây thuốc dân tộc không chỉ góp phần sử dụng
bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc của đất nước, mà còn là cơ sở để sản xuất các
11
loại dược phẩm mới để điều trị các bệnh hiểm nghèo. Đây thực sự là hướng nghiên
cứu có triển vọng lớn trong tương lai.
1.4. Tình hình nghiên cứu tri thức và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc ở Khu
bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên – Văn Bàn tỉnh Lào Cai.
Tại khu BTTN HL – VB, tỉnh Lào Cai đời sống của nhiều người dân nơi đây
còn gặp rất nhiều khó khăn. Cuộc sống nơi đây vẫn mang tính tự cung tự cấp, trong
những năm trở lại đây do chính sách của đảng và nhà nước có sự điều chỉnh và quan
tâm nhiều đến bà con vùng cao nên đời sống của họ đã phần nào bớt đi được những
khó khăn. Cuộc sống nơi những vùng núi cao cũng đã bắt buộc họ phải sống phụ
thuộc nhiều vào tự nhiên, trong cuộc sống mỗi khi ốm đau người dân nơi đây vẫn
vào rừng tìm kiếm những loài cây trong rừng về làm thuốc. Trải qua bao thế hệ,
những kinh nghiệm đó đã ngày càng được người dân nơi đây tích lũy. Sự hiểu biết
2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Các loài thực vật bậc cao có mạch được đồng bào dân tộc H’Mông ở khu
BTTN HL-VB, tỉnh Lao Cai sử dụng làm thuốc.
Một số ông lang, bà mế có kinh nghiệm sử dụng các bài thuốc của đồng bào
dân tộc H’Mông ở khu BTTN HL-VB đang được lưu truyền và sử dụng.
Thời gian thực hiện: Từ tháng 12 năm 2010 đến tháng 8 năm 2011.
2.3. Nội dung nghiên cứu
2.3.1. Đa dạng loài: Thu thập và xử lý mẫu vật, xác định tên, xây dựng danh lục và
phân tích đánh giá đa dạng các loài thực vật được đồng bào dân tộc H’Mông ở khu
BTTN HL - VB, tỉnh Lào Cai sử dụng làm thuốc.
2.3.2. Sự phân bố các loài cây thuốc theo môi trường sống.
2.3.3. Xây dựng bản đồ phân bố các loài cây thuốc có giá trị cần được bảo vệ.
13
2.3.4. Vấn đề sử dụng cây thuốc: Đa dạng về công dụng chữa trị của các loài cây
thuốc, bộ phận của cây được sử dụng làm thuốc. Một số bài thuốc chữa bệnh của
các ông lang, bà mế.
2.4. Phưng pháp nghiên cứu
2.4.1. Điều tra thực địa theo tuyến:
Điều tra khảo sát sơ bộ sau đó ta tiến hành chọn tuyến điều tra. Tuyến được
chọn phải đảm bảo yêu cầu phải chạy qua các sinh cảnh đặc trưng cho khu bảo tồn.
Trên mỗi tuyến cắt ngang chọn các ô tiêu chuẩn là những điểm chốt đặc trưng nhất
để nghiên cứu đa dạng tài nguyên cây thuốc (Theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997).
Trên mỗi tuyến, tiến hành điều tra các loài cây thuốc của đồng bào dân tộc
H’Mông sử dụng trong phạm vi 10 m mỗi bên. Mỗi loài lấy 5 - 6 tiêu bản.
- Các tuyến điều tra thực địa:
+ Xã Liêm Phú: Tuyến đi đỉnh Bách Tán Đài Loan.
+ Xã Nậm Xây: Tuyến đi Nậm Giòi Pèng; tuyến đi Thủy điện Nọi 2 - hầm thủy
khâu trên giấy bìa cứng kích thứoc 28 cm x 42 cm.
- Xác định tên khoa học, kiểm tra, chỉnh lý tên theo các tài liệu chính là các tập
Thực vật chí Việt Nam, Danh lục các loài thực vật ở Việt Nam.
- Xây dựng danh lục: Điều chỉnh khối lượng họ, chi theo hệ thống của bộ Sách
“Danh lục các loài thực vật ở Việt Nam”. Danh lục được xây dựng theo nguyên tắc
sự phát triển của các ngành thực vật từ Lá thông đến thực vật Mộc lan. Trong mỗi
ngành các họ, chi loài được xếp theo vần ABC. Riêng ngành Mộc lan do khối lượng
lớn nên chia thành 2 lớp Mộc lan và lớp Hành. Sau đó cũng xếp tương tự như trên.
Trên cơ sở danh lục thực vật, căn cứ vào Sách đỏ Việt Nam, 2007; Danh lục các
loài thực vật quý hiếm của IUCN, 2009; Nghị định số 32 của chính phủ về các loài
động thực vật quý hiếm để lập danh sách các loài quí hiếm ở khu BTTN HL - VB.
Danh lục ngoài tên khoa học, tên Việt Nam của các loài còn có các thông tin khác
như dạng sống, công dụng, môi trường sống, bộ phận sử dụng làm thuốc theo mẫu.
15
Bảng danh lục các loài thực vật làm thuốc (mẫu)
TT
Tên
Tên
Công
Bộ phận Cách
Dạng
Sách đỏ Việt Nam, 2007;
-
Danh lục các loài thực vật quý hiếm của IUCN, 2004;
-
Nghị định số 32 của chính phủ về các loài động thực vật quý hiếm để.
- Đánh giá tính đa dạng của các loài cây thuốc, về dạng sống của các loài cây thuốc,
mô trường sống của các loài cây thuốc, về tần số sử dụng các bộ phận, về số lượng
các bộ phận sử dụng làm thuốc (theo Viện Dược liệu).
- Các nhóm bệnh được phân chia theo tài liệu của Lê Trần Đức (1995) “Cây thuốc
Việt Nam trồng hái chế biến và trị bệnh ban đầu”. Chi tiết như sau:
- Nhóm 1: Bệnh ngoại cảm (gồm Cảm mạo phát sốt ớn lạnh, nghẹt mũi, Cảm cúm
hơi sốt sợ lạnh, đau mỏi, Cảm gió lạnh, rét run, Cảm nóng rét nắng mưa thời khí
hỗn tạp, Cảm về mùa hè nôn đầy, Cảm cúm mùa hè sốt dai đau mình, Cảm nắng
16
hay sốt nóng đơn thuần, Nóng rét qua lại, Sốt rét cơn, Sốt dị ứng, phát ngứa sưng
phù, Bệnh ôn nhiệt sốt hè thu, Trúng gió méo mồm lệch mắt, Trúng phong thấp hôn
mê co cứng, Trùng phong hàn hôn mê quyết lạnh).
- Nhóm 2: Bệnh về hô hấp (Ngạt mũi, sổ mũi, hắt hơi, Viêm mũi dị ứng, Ho, viêm
họng, Ho đờm, Ho khan, viêm phế quản, Viêm phổi, sưng phổi, Hen phế quản, Hen
suyễn, Suyễn thở, Ho lao).
- Nhóm 3: Bệnh về huyết mạch (gồm Các loại chảy máu, Huyết áp cao, Huyếp áp
thấp, Hạ đường huyết, Mạch máu xơ cứng (tắc mạch, giãn mạch), Đau tim).
- Nhóm 11: Bệnh ngoại thương (gồm Bị thương, bị ngã, Bị thương chảy máu, Bị
bỏng, Rắn cắn).
- Nhóm 12: Bệnh phụ nữ (gồm Kinh không đều, thấy sớm kỳ, Kinh thấy chậm kỳ,
Kinh loạn kỳ, Kinh nguyệt gián đoạn thất thường, Kinh bế, Rong kinh, Băng huyết
nhẹ do cơ năng; Khí hư, bạch đới, Viêm phần phụ, Viêm âm hộ, âm đạo sưng đau,
Sa sinh dục (sa dạ con), U xơ tử cung, Mót đái do viêm các cơ quan sinh dục, Vô
kinh do giảm chức năng buồng trứng, Tắc tia sữa, Viêm tuyến vú, U xơ tuyến vú,
Áp xe vú, Nhọt vú, Vú bị lở, đứt cổ gà, Nôn nghén, Động thai, Phòng sẩy thai, Sau
khi đẻ say máu; Sau khi đẻ cảm sốt, Sau khi đẻ phù nề).
- Nhóm 13: Bệnh trẻ em (gồm Ợ, nấc cụt, trớ sữa; Ói sữa; Trẻ ỉa chảy phọt toé ra
nước; Ỉa chảy phân loãng, Ỉa phân sống; Cam tích; Cam tướt; cam lỵ; còi xương;
Suy dinh dưỡng; Cam thũng; Quai bị; Ho gà; Sởi; Thủy đậu, Sốt bại liệt, Viêm
màng não B và di chứng, Sổ xuất huyết do muỗi, Sưng amidan, Viêm tai, Thấp tim,
Đái dầm, Thoát vị thừng tinh, Lở chàm, Chốc đầu – mô đầu, Rôm rảy, tưa lưỡi, Lở
mồm).
18
CHƯƠNG 3
ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ VÀ XÃ HỘI
KHU BTTN HL – VB, TỈNH LÀO CAI
3.1. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
3.1.1. Vị trí địa lý, ranh giới, diện tích
3.1.1.1. Vị trí địa lý
Xã Nậm Xé; Nậm Xây và một phần xã Liêm Phú thuộc vùng trung tâm của
dãy Hoàng Liên Sơn về phía Nam tỉnh Lào Cai, Tây Bắc Việt Nam (nằm trong tọa
độ khoảng 21024’ vĩ độ Bắc và 103057’ đến 1040 kinh độ đông).
3.1.1.2. Ranh giới khu bảo tồn Hoàng Liên – Văn Bàn
Phía Đông giáp các xã Nậm Chày, Dần Thàng, Minh Lương, Thẩm Dương,
trước đến tháng 3 năm sau, đây là đặc trưng của khí hậu Bắc Việt Nam, mùa hè bị
ảnh hưởng của gió Tây Nam nên khô và nóng, mùa đông (từ tháng 12 – 3) có gió
Đông Bắc lạnh và ẩm. Theo trạm khí tượng Sapa cho biết lượng mưa ở đây khoảng
1.764,4 mm/năm, lượng mưa cao nhất vào các tháng mùa hè (7,8 và 9 trung bình
450mm). Vào thời điểm lạnh nhất trong mùa Đông có khi có tuyết hay mưa đá trên
núi. Vì các triền núi của khu BTTN HL – VB thường hướng về phía Bắc dày đặc,
khiến điều kiện ở đây luôn ẩm ướt. Nhiệt độ bình quân năm 22,90C, cao nhất tháng
7 (27,70C), thấp nhất vào tháng 1 (160C). Độ ẩm không khí trung bình 86%, cũng có
khi nhiệt độ bất thường lên đến 410C.
Trong khu BTTN HL – VB không có sông lớn. Đáng chú ý có hai hệ thống
các suối đón nước từ dãy Hoàng Liên kéo dài ở ranh giới phía Tây đổ về ngòi Nậm
Chăn rồi chảy ra sông Hồng.
- Hệ thống các suối Nậm chặn lớn, Nậm Chăn nhỏ, Nậm Xi Tan, Nậm Mu đón
nước từ địa phận xã Nậm Xé chảy xuôi theo hướng Đông Nam hợp lưu với suối
Nậm Xây Luông đổ ra Ngòi Chăn.
- Suối Nậm Xây Nọi đón nước với giáp danh địa phận hai xã Nậm Xé và Nậm
Xây chảy theo hướng Đông, hợp với suối Nậm Xây Luông.
- Suối Nậm Xây Luông đón nước ở phía Nam xã Nậm Xây chảy theo hướng
Tây Bắc chảy vào Ngòi Chăn rồi đổ ra sông Hồng ở phía khu vực khu BTTN HL –
VB.
- Các suối chính kể trên thường có lưu lượng nước nhiều, chảy mạnh về mùa
hè còn mùa đông rất cạn nước. Ngoài những con suối chính đã nêu, trong khu
BTTN HL – VB có một số con suối nhỏ chỉ có nước trong những ngày mưa to. Khi
20
nước suối dâng cao trong những ngày mưa lớn thường gây sạt lở đất vì các suối có
độ dốc cao. Hiện tượng Kastơ dọc suối không có. Đặc biệt, trên địa bàn có nhiều
khe suối nhỏ, lưu lượng nước biến đổi theo mùa. Tuy lượng nước ngầm khá nhưng
Nậ m
%
Xây(ha)
10.837
100,0
9.726,6
89,75
9.726,6
98,75
100,0
93,03
91,94
1,09
3,4
16
2,25 777,4
1,29 317
0,14
7,17
2,92
Liêm
Phú(ha)
670,5
570,5
570,5
100,0
21
- Do gần rừng cho nên nguồn nước sử dụng tốt hơn cho canh tác và sinh hoạt.
- Phong tục tập quán và kiến thức bản địa được bảo lưu.
3.2.1. Dân số và dân tộc bên trong khu bảo tồn.
Bên trong khu bảo tồn có 2 xã với 12 thôn bản, 391 hộ, 2.884 nhân khẩu có 2
dân tộc chung sinh sống là dân tộc Dao và Mông.
Bảng 3.2: Thống kê dân số các thôn bản trong Khu bảo tồn
Thôn bản
Xã
Số hộ
Số khẩu
8
Nậm Xây
273
1959
1. Nà Hằm
44
282
7. Mạc Sa Phìn
36
259
8. Phìn Hồ
32
313
4
Nậm Xé
118
925
1. Tu Hạ 2
34
287
2. Tà Náng
- Bản Nậm Vạn 204 người dân tộc Dao.
22
- Bản Bản Mới 113 người dân tộc Mông.
- Bản Giàn Dúa Chải 263 người dân tộc Mông.
- Bản Phù Lá Ngài 282 người Mông.
- Bản Mạc Sa Phìn 259 người dân tộc Mông.
- Bản Phìn Hồ co 313 người dân tộc Mông.
- Bản Tu Hạ 2 có 287 người dân tộc Mông.
- Bản Tà Nàng có 263 Người dân tộc Dao.
- Bản Tu Thượng 196 người dân tộc Dao và Mông.
- Bản Xi Tan 179 người dân tộc Dao và Mông.
3.2.2. Các hoạt động kinh tế chủ yếu
3.2.2.1. Sản xuất nông nghiệp
Trong các ngành sản xuất kinh tế của đồng bào dân tộc, sản xuất nông nghiệp
giữ vai trò chủ đạo. Giá trị sản xuất nông nghiệp, nhất là ngành trồng trọt đóng góp
chủ yếu cho tổng giá trị thu nhập kinh tế của huyện Văn Bàn. Tổng sản lượng các
loại cây lương thực có hạt (năm 2005) đạt 28.776 tấn. Trong đó riêng thóc hạt đạt
22.039 tấn. Năng suất cây lúa từ 44,3 tạ/năm 2003 lên 46,94 tạ/ha năm 2005. Chăn
nuôi gia súc và gia cầm chủ yếu quy mô nhỏ và gia đình. Bước đầu đã hình thành
các khu vực chăn nuôi đại gia súc như trâu bò ở các xã vùng trung và thượng huyện
như Minh Lương, Dương Quỳ, Nậm Chày, Nậm Mả… nhiều hộ gia đình có đàn
trâu đàn bò hàng chục con. Chăn nuôi gia súc, gia cầm như Dê, Lợn, Gà và thủy sản
như nuôi cá ở các xã vùng thấp của huyện đã và đang phát triển khá mạnh.
3.2.2.2. Sản xuất lâm nghiệp
Lâm nghiệp là thế mạnh trong phát triển kinh tế xã hội của huyện Văn Bàn. Là
huyện có diện tích rừng và có trữ lượng tài nguyên rừng lớn nhất tỉnh Lào Cai, toàn
huyện có trên 10,5 triệu m3 gỗ các loại trong đó có nhiều loại gỗ quý như Pơmu,
Đến nay, trên địa bàn huyện Văn Bàn quản lý có 364 cơ sở sản xuất công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, bao gồm 12 cơ sở khai thác mỏ; 60 cơ sở và hộ gia
đình chế biến thực phẩm; 123 cơ sở chế biến đồ gỗ và nông sản; 24 cơ sở sản xuất
may mặc; 24 cơ sở sản xuất gạch, vôi. Trong các năm qua, sản phẩm và giá trị của
các ngành công nghiệp và xây dựng đã có tăng trưởng khá, đóng góp đáng kể vào
nguồn thu trên địa bàn và góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương. Tuy
nhiên cũng còn những tồn tại như quy hoạch chưa đồng bộ nên việc khai thác
khoáng sản, phát triển thủy điện làm thay đổi chuyển dịch đất đai nhất là diện tích
tài nguyên rừng và ảnh hưởng theo chhiều hướng xấu về giao thông, môi trường.