đại học thái nguyên
trờng đại học nông lâm
------------------
NGUYN èNH THNG
"IU TRA THNH PHN LOI V C IM SINH HC
MT NUễI NM (MT AMBROSIA) GY HI CC LOI CY
THUC H D (FAGACEAE) TI KHU BO TN THIấN NHIấN
HONG LIấN - VN BN, TNH LO CAI"
LUN VN THC S KHOA HC NễNG NGHIP
Chuyên ngành : Lâm nghiệp
Mã số
: 60 62 60
Ngời hớng dẫn khoa học : PGS.TS. Phạm Quang Thu
Viện Khoa học Lâm Nghiệp Việt Nam
Thái Nguyên, năm 2011
75
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận
văn này là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ cho
một học vị nào.
Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn này đã được cảm ơn.
các thầy cô giáo và đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2011
Học viên
Nguyễn Đình Thắng
iii
77
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ ................................................................................................... 1
Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ................................... 3
1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI ....................................... 3
1.1.1. Nghiên cứu về côn trùng nói chung ........................................................ 3
1.1.2. Nghiên cứu về côn trùng cánh cứng và các loài mọt .............................. 4
1.1.3. Những nghiên cứu về chất dẫn dụ côn trùng và bẫy côn trùng bằng
chất dẫn dụ ........................................................................................................ 6
1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC ........................................ 11
1.2.1.Về côn trùng nói chung .......................................................................... 11
1.2.2. Nghiên cứu về côn trùng Bộ cánh cứng và các loài Mọt ...................... 12
1.2.3. Nghiên cứu về chất dẫn dụ và bẫy côn trùng bằng chất dẫn dụ ........... 15
Chương 2: MỤC TIÊU, PHẠM VI NGHIÊN CỨU- NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................................................ 18
2.1. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU .................................................................... 18
2.2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ......................................... 18
2.2.1. Đối tượng nghiên cứu............................................................................ 18
2.2.2. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................... 18
2.3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU .................................................................... 19
3.2.3.2. Mạng lưới thủy lợi.............................................................................. 40
3.2.3.3. Y tế ...................................................................................................... 41
3.2.3.4. Văn hóa giáo dục ............................................................................... 42
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ........................................................ 44
4.1. THÀNH PHẦN LOÀI MỌT HẠI CÁC LOÀI CÂY HỌ DẺ TẠI KHU
BẢO TỒN HOÀNG LIÊN VĂN BÀN ................................................................ 44
4.2. MÔ TẢ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI CỦA CÁC LOÀI MỌT THU
ĐƯỢC ......................................................................................................... 48
4.2.1. Họ mọt gỗ chân dài (Platypodidae) ...................................................... 48
4.2.1.1. Mọt Platypus solidus Walker ............................................................. 48
79
v
4.2.1.2. Mọt Platypus secretus Sampson......................................................... 49
4.2.1.3. Mọt Platypus quercivorius Murayama .............................................. 50
4.2.2. Họ mọt hại vỏ, gỗ (Scolytidae) ............................................................. 52
4.2.2.1. Mọt Xyleborus morigerus Blandford ................................................. 52
4.2.3.2. Mọt Xyleborus indicus Eichhoff ......................................................... 52
4.2.2.3. Mọt Coccotrypes rhizophorae Wood & Bright .................................. 53
4.2.2.4. Mọt Xyleborus SP............................................................................... 54
4.2.3. Họ mọt dài (Bostrychidae) .................................................................... 55
4.2.3.1. Mọt Xylopsocus capucinus Fabricius ................................................ 55
4.2.3.2. Mọt Sinoxylon sp ................................................................................ 56
4.3. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ ĐẶC ĐIỂM GÂY HẠI CỦA
LOÀI MỌT PLATYPUS QUERCIVORIUS .................................................... 56
4.3.1. Đặc điểm sinh học của loài Mọt Platypus quercivorius Murayama ............. 56
4.3.2. Đặc điểm gây hại loài Mọt Platypus quercivorius ............................... 59
4.3.2.1. Đặc điểm gây hại theo loài cây chủ ................................................... 59
81vii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: Cách xác định tên các loài cây họ Dẻ ........................................ 20
Hình 2.2: Các cây bị xâm hại trong khu vực điều tra................................. 23
Hình 2.3: Cắt hạ các cây bị xâm hại để nghiên cứu ................................... 24
Hình 2.5: Một số thao thác thu thập thành phần loài Mọt sâm hại. .......... 25
Hình 4.1: Biểu đổ tỷ lệ các họ mọt gây hại tại khu vực nghiên cứu. ........ 46
Hình 4.2: Mọt Platypus solidus Walker ..................................................... 49
Hình 4.3: Mọt Platypus secretus Sampson ................................................ 50
Hình 4.4: Mọt Platypus quercivorius Marayama....................................... 51
Hình 4.5: Mọt Xyleborus morigerus Blandford ......................................... 52
Hình 4.6 Mọt Xyleborus indicus Eichhoff ................................................. 53
Hình 4.7: Mọt Coccotrypes rhizophorae Wood & Bright ......................... 54
Hình 4.8: Mọt Xyleborus SP ...................................................................... 54
Hình 4.9: Mọt Xylopsocus capucinus Fabricius......................................... 55
Hình 4.10: Mọt Sinoxylon sp ...................................................................... 56
Hình 4.11: Hình ảnh trứng và sâu non của Mọt ......................................... 57
Hình 4.12: hệ thống đường hang của Mọt ................................................. 58
Hình 4.13: Hình ảnh loài Sồi lá mác .................................................................. 60
Hình 4.14: Hình ảnh loài Dẻ gai ấn độ.......................................................... 61
Hình 4.15: Hình ảnh về loài Dẻ bốp (Sồi phảng) ....................................... 62
Hình 4.16: Cấu tạo bẫy côn trùng tự chế ................................................................. 63
Hình 4.17: Một số thao tác đặt bẫy ở khu vực điều tra nghiên cứu .......... 64
Hình 4.18: Một số địa điểm được tiến hành đặt bẫy .................................. 67
Hình 4.19: Phương pháp quấn nilon .......................................................... 68
Hình 4.20: Phương pháp hóa học, ủ thuốc gây độc ................................... 69
2
diệt và gây ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của loài Sồi, Dẻ này,
Trong số các loài sâu bệnh hại được ghi nhận gần đây trên các loài Sồi, Dẻ
thì bệnh Nấm xanh (Blue – Stain) do một vector truyền bệnh là một loài
mọt gỗ thuộc họ mọt gỗ Scoltydae. Bệnh này đã bước đầu được ghi nhận
tại các tỉnh tập trung nhiều Dẻ là Lâm Đồng, Kon Tum, Gia Lai. Như vậy,
phạm vi xuất hiện của loài này trong tự nhiên đã được khẳng định, trải rộng
trên một vùng rộng của Miền Nam Việt Nam.
Các loài mọt nuôi nấm thường gây chết cây do Mọt mang theo các
loài nấm để gây cấy trong thân cây chủ để làm thức ăn. Các loài nấm được
Mọt gây cấy đã phát triển nhanh trên phần gỗ giác, làm biến màu gỗ và gây
tắc nghẽn các mạnh dẫn chất dinh dưỡng nuôi cây làm cây bị héo và chết.
Bệnh có tốc độ lây lan nhanh do Mọt trưởng thành vũ hóa từ những cây bị
chết, xâm nhiễm vào cây chủ khác và làm cây chết trong mùa sinh trưởng
tiếp theo. Khi mật độ quần thể Mọt lớn, sự xâm nhiễn diễn ra với tốc độ
nhanh dẫn đến suy giảm đa dạng sinh học. Trước những đòi hỏi cấp thiết
của việc bảo tồn và gìn giữ tính đa dạng của loài thực vật, đặc biệt là các
loài cây thuộc họ Dẻ nghiên cứu về thành phần loài, xác định loài gây hại
chính và nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái của loài gây hại
chính và đề xuất biện pháp quản lý dịch hại là rất cần thiết, trên cơ sở đó
tôi mạnh dạn đề xuất đề tài nghiên cứu thuộc chương trình đào tạo Thạc sỹ
của mình là: "Điều tra thành phần loài và đặc điểm sinh học mọt nuôi
nấm (Mọt ambrosia) gây hại các loài cây họ Dẻ (Fagaceae) tại Khu bảo
tồn thiên nhiên Hoàng Liên - Văn bàn, tỉnh Lào Cai".
3
Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
H.Nordlinge [9]. Cũng trong giai đoạn này các công trình nghiên cứu về
côn trùng phát triển mạnh mẽ ở các nước phát triển như: Đức, Mỹ, Canada,
Pháp...sau đó lan rộng sang các nước trên toàn thế giới.
Ngày nay công trình nghiên cứu về côn trùng đã có những bước tiến
vượt bậc, có trên 135 tạp trí chuyên khảo về côn trùng với các đội ngũ đông
đảo các nhà khoa học chuyên sâu [4]
1.1.2. Nghiên cứu về côn trùng cánh cứng và các loài mọt
Bộ cánh cứng (Coleoptera) là một trong những bộ có các loài côn
trùng gây hại nguy hiểm cho ngành Nông Lâm nghiệp. Các loài gây hại
không chỉ cho loài cây lá rộng, là kim mà cả các loại cây công nghiệp.
Trong số đó Mọt là những loài cánh cứng gây hại nhiều nhất, theo các nhà
Khoa học trên thế giới đã xác định rất nhiều loài Mọt hại vỏ cây sống làm
ảnh hưởng đến sự phát triển của cây, thậm trí còn làm trên cây và gây ra
thành dịch trong đó có 06 loài chủ yếu như: Ips calligraphus Germar, Ips
grandicollis Eichhoff, Ips avulsus Eichhoff, Dendroctonus frontalis
Zimmerman, Dendroctonus terebrans Olivier và Dendroctonus pondesae
Hopkins (Albert E.M, 2005; Clyde S.G, 1999; Hiratsuka Y và cộng sự,
2004; Jame R.M và cộng sự, 2000; Jeffrey M.E và Albert E.M, 2006;
Micheal D.C và Robert C.W, 1983). Từ năm 1973 đến 1979 có 03 loài Mọt
thuộc chi Ips gây hại hơn 3 triệu m3 gỗ Thông ở miền Nam nước Mỹ. Sự
gây hại và trở thành dịch của loài Mọt Dendroctonus pondesae Hopkins
cho loài Thông ở Vườn quốc gia Banff thuộc bang Alberta năm 1940-1944
và miền Tây Nam bang Alberta Canada vào năm 1977-1985. Phần lớn các
loài Mọt này tấn công chủ yếu vào những cây bị tổn thương cơ giới hoặc
những cây sinh trưởng và phát triển kém. Gần đây loài Mọt Tomicus
piniperda đang trở thành mối nguy hiểm cho loài Thông ở các nước Châu
Âu. Cho nên các loài Mọt gỗ nói chung ngày càng được quan tâm nghiên
cứu bởi những tác hại do chung gây ra cho ngành Lâm nghiệp.
6
loài dẻ mọc ở rừng lá rộng thường xanh thì ít bị hại hơn so với các loài dẻ
mọc ở rừng lá rộng rụng lá.
1.1.3. Những nghiên cứu về chất dẫn dụ côn trùng và bẫy côn trùng
bằng chất dẫn dụ
Đầu thế kỷ XX, các nhà côn trùng học đã tiến hành các thí nghiệm
nghiên cứu trên một số đối tượng côn trùng nhằm đưa ra cơ sở khoa học để
giải thích cho hiện tượng vận động của côn trùng dưới ảnh hưởng của các
yếu tố hoá học. Barrows (1907) đã mô tả tập tích của ruồi Dropsophila
melanogaster Mg dưới tác động của chất hấp dẫn [27]. Những nghiên cứu
của Kellog (1907) về phản ứng của ngài đực Bombyx mori L đối với mùi
thơm hấp dẫn của con cái [27]. Đến năm 1909 Freiling đã tiến hành nghiên
cứu phản ứng trên hai con đực ở hai giống Danais và Euploea
(Lepidoptera) với mùi thơm hấp dẫn từ con cái. Một thời gian sau đó việc
nghiên cứu này lại bị gián đoạn cho mãi đến năm 1932 khi Bethe tìm hiểu
về đặc tính sinh hoá học của các chất thơm gây ra hiện tượng hấp dẫn và
xua đuổi ở một số côn trùng cánh cứng và đã gọi các chất này với tên
ektohormon [27], tiếp sau đó là các công trình nghiên cứu của Kaltofen
(1951), Hass (1952), Kalmus (1955), Kohler (1955) tiến hành trên ong mật
Apis mellifera và hàng loạt những nghiên cứu của Sengun (1954),
Schwinek (1955), Ander (1959)…về tác động lôi cuốn của con cái đối với
con đực ngài Bombyx mori L. Trong số những công trình nghiên cứu phải
kể đến công trình của Kullenberg, năm 1953 ông đã tiến hành các thí
nghiệm về tác dụng sinh học của của các chất thơm của con cái đối với con
đực của 8 loài của họ Sphecidae; 21 loài của họ Apidae và các họ
Chrysididae, Mutillidae, Vespidae và Ichneumonidae mỗi họ nghiên cứu
đại diện một loài. Ông đã so sánh các chất thơm này với tác dụng kích thích
của hormon và nhận thấy giữa chúng có những điểm chung là đều có hoạt
tính sinh học cao, đều gây ảnh hưởng đối với các tập tính của con vật và
con cái đẻ trứng trên trái cây cùng với những hợp chất huyền bí quanh tổ
8
của chúng để gửi tín hiệu đến những con cái khác cùng loài để chúng khác
phải làm tổ ở nơi nào đó khác; pheromones dẫn dụ (releaser pheromones)
đây là những hợp chất hấp dẫn cực mạnh mà một vài loài dùng để hấp dẫn
bạn tình trong khoảng cách hai dặm hoặc xa hơn. Loại pheromone này
được đáp trả nhanh chóng nhưng rất mau suy giảm. Trái lại những
pheromone theo mùa (primer pheromone) có tác dụng chậm hơn nhưng lại
lâu hơn rất nhiều; pheromone báo hiệu mùa (primer pheromones) đây là
loại pheromone gây ra sự thay đổi của những giai đoạn phát triển của động
vật; pheromone dẫn đường (trail pheromones) loại này rất phổ biến trong
hoạt động xã hội của côn trùng; pheromne sinh dục (sex pheromones) ở
động vật, pheromone sinh dục thể hiện con cái đã đến lúc sẵn sàng cho việc
sinh sản. Những con đực cũng tiết ra pheromones để truyền tải thông tin về
chủng loài và loại gien. Nhiều loại côn trùng có thể tiết ra pheromone sinh
dục có sức hấp dẫn bạn tình. Các loài thuộc bộ Lepidoptera có thể phát hiện
ra con cái ở cách xa đến 10 km. Ở loài lưỡng tính, pheromone được dùng
để dẫn dụ con khác giới đến để thụ tinh. Các loại pheromone khác chưa
được phân loại pheromones một cách chủ quan dựa trên trên ảnh hưởng của
chúng đến hành vi của động vật. Pheromone có thêm nhiều chức năng phụ
như loại pheromone hướng dẫn về tổ ở loài ong, pheromone của ong chúa,
pheromone làm cho khuây khỏa. Pheromone yếu tố truyền tin bằng hóa học
được xem như là dạng cổ sơ nhất trong các nguyên tắc cơ bản của thông tin
và tồn tại đặc biệt phong phú trong lớp côn trùng [27]. Người ta đã tìm thấy
pheromone ở 350 loài côn trùng thuộc 12 bộ khác nhau (Hinhiclo) và theo
phỏng đoán của Hall (1965) trong tương lai người ta có thể tìm thấy tác
dụng pheromone ở tất cả các bộ của côn trùng. Còn theo Wright (1960) cho
biết đã có trên 400 chất có tác dụng hấp dẫn đối với côn trùng tuy nhiên
trọng trong việc phòng trừ có hiệu quả, hạn chế tối thiểu việc sử dụng thuốc
trừ sâu, ngăn ngừa kịp thời sự xâm nhiễm và nguy cơ gây hại của các loài
10
sâu hại. Burkholder (1974) đã rất lạc quan phát biểu rằng pheromon là một
phương tiện đầy quyền lực góp phần rất hiệu quả trong việc chế ngự côn
trùng gây hại đồng thời cũng dự báo là pheromon sẽ sớm được áp dụng
rộng rãi ở các nước nghèo với giá thành hạ và sẽ mở ra một tương lai sáng
lạn cho việc phát hiện và giám sát những loài côn trùng gây hại quan trọng
[14]. Đến năm 1984 thì Hodges đã đưa ra quan điểm cần sử dụng
pheromone và các chất hấp dẫn để tập trung khi xử lý phương pháp gây
bệnh hoặc xử lý thuốc trừ sâu. Điều này đã được chứng minh tính hiệu quả
trong việc sử dụng bẫy pheromone gồm cả mồi pheromone với diclofos
trong kho bột mì ở Châu Âu. Trên thế giới nhiều nước đã sử dụng bẫy
pheromone trong việc giám sát quần thể sâu hại, các pheromone nhân tạo
đã được sản xuất ở nhiều nước như Rumani, Bulgarie, Đức, Mĩ….[27] Tại
một số nước công nghiệp phát triển người ta đã xem các loại bẫy
pheromone côn trùng như một loại hàng hóa bình thường khác. Trong gần
50 năm trở lại đây với tốc độ phát triển nhanh chóng của các ngành khoa
học kỹ thuật người ta đã thấy được những ảnh hưởng to lớn của lớp côn
trùng đối với cuộc sống và nhận thấy sự phong phú đa dạng trong đời sống
của chúng vì vậy côn trùng học đã trở thành một ngành khoa hoc chính xác
thu hút sự quan tâm, đam mê của nhiều người. Đặc biệt lĩnh vực nghiên
cứu pheromone côn trùng là một trong những vấn đề mang ý nghĩa khoa
học và thực tiễn sâu sắc. Các kết quả nghiên cứu về pheromone đã mở ra
triển vọng mới cho công tác phòng trừ sâu hại góp phần làm phong phú
thêm biện pháp kỹ thuật sinh học phòng trừ sâu hại. Hơn nữa những nghiên
cứu về tác dụng của pheromone cũng làm phong phú nội dung và những
hiểu biết của ngành nghiên cứu sinh học.
nghiệp”. Các tác giả nhấn mạnh điều tra và dự tính, dự báo sâu bệnh hại
rừng là công việc có liên quan chặt chẽ với nhau. Điều tra là cơ sở của dự
12
tính, dự báo, điều tra sâu bệnh hại tiến hành càng kịp thời, chính xác thì kết
quả dự báo càng đảm bảo độ tin cậy. Dự tính, dự báo là cơ sở của việc
phòng trừ sâu bệnh hại và quản lý hữu hiệu nguồn tài nguyên côn trùng và
vi sinh vật có ích.
Năm 2002, Nguyễn Thế Nhã - Trần Công Loanh đã xuất bản cuốn “Sử
dụng côn trùng và vi sinh vật có ích - tập I” [8]. Đây là tài liệu được nghiên
cứu và biên soạn công phu giúp cho những người làm công tác quản lý tài
nguyên rừng có cơ sở khoa học để đưa ra các giải pháp thích hợp trong việc
phòng trừ sâu bệnh hại rừng theo nguyên lý của quản lý sâu bệnh hại tổng
hợp IPM, lợi dụng được sự khống chế tự nhiên của các loài côn trùng là
thiên địch của sâu hại rừng, giữ gìn sự cân bằng sinh thái tự nhiên và an toàn
cho môi trường.
1.2.2. Nghiên cứu về côn trùng Bộ cánh cứng và các loài Mọt
Ở Việt Nam đã được nghiên cứu từ cuối thế kỷ 19 cho đến trước
năm 1945. Lesne phát hiện nhiều loài trong họ mọt có ở Việt Nam. Trong
thời gian 1985 – 1938 tác giả đã ghi nhận ở Việt Nam có 15 giống và 34
loài trong tổng số 600 loài được phát hiện trên toàn thế giới. Schedl năm
1962 đã ghi nhận có 11 loài thuộc họ Bostrychidae phân bố ở Việt Nam:
Dinoderus
minutus
F.
Heterobostrychus
và Dendroctonus chính là véc tơ gây truyền bệnh nấm xanh Ophiostoma
gây bệnh làm chết Thông mã vĩ [5]; Phạm Quang Thu và Ngô Văn Cầm
(2008) cũng đã mô tả được hình thái loài Xén tóc đục thân Bạch đàn ở Gia
Lai; Phạm Quang Thu và cộng sự (2010), đã mô tả đặc điểm hình thái, đặc
điểm sinh học tập tính của loài Xén tóc Trirachys bilobulartus và cách nhận
biết cây Đước bị loài này gây hại; Phạm Quang Thu và Lê Văn Bình
(2010), đã mô tả được đặc điểm của Xén tóc đen vân ánh bạc đục thân
Xoan ta (Melia azedazach) là loài (Aeolesthes holosericea) thuộc giống
Aeolesthes; Phạm Quang Thu và cộng sự (2010), bằng việc sử dụng
phương pháp bẫy pheromone thu được và mô tả 12 loài côn trùng thuộc 7
họ khác nhau trong bộ cánh cứng ở khu vực Đại Lải –Vĩnh Phúc [13]
Nhìn chung các công trình nghiên cứu về côn trùng nói chung và
côn trùng thuộc Bộ cánh cứng nói riêng cho đến nay còn ít chỉ mang tính
14
chất điều tra cơ bản, nhỏ lẻ, tập trung nhiều về cây nông nghiệp, cây
công nghiệp, còn nghiên cứu côn trùng trên công Lâm nghiệp vẫn chưa
được quan tâm nhiều và các nhà nghiên cứu của Việt Nam về lĩnh vực
còn hạn chế.
Riêng đối với các nghiên cứu về loài mọt Ambrosia rất hạn chế. Năm
1993 Lê Văn Nông đã tiến hành nghiên cứu thành phần và các loại mọt gỗ
chân dài Platypocidae ở miền Bắc Việt Nam [8]. Các kết quả nghiên cứu
cho thấy thành phần mọt gỗ chân dài ở miền Bắc Việt Nam gồm có 5
giống, 25 loài, trong đó tìm ra được 13 loài mới cho Bắc Việt Nam và 4
loài mới cho thế giới. Đặc biệt là đã phát hiện ra hiện tượng sâu non của
mọt không trực tiếp tiêu hóa gỗ mà sử dụng thức ăn là nấm ambrosia do
mọt trưởng thành cấy vào hang mới khi xâm nhập cây mới, vì thế còn được
gọi là Mọt Ambrosia.
Trong công trình nghiên cứu về Côn trùng hại gỗ và biện pháp phòng
hiện, đòi hỏi phải có các nghiên cứu kịp thời và đầy đủ để góp phần quản lý
tốt sâu bệnh hại, hạn chế tác hại của sâu bệnh hại.
1.2.3. Nghiên cứu về chất dẫn dụ và bẫy côn trùng bằng chất dẫn dụ
Ở nước ta việc nghiên cứu pheromone bắt đầu từ những năm đầu
thập niên 70 của thế kỷ trước trên đối tượng là Mọt
(Trogoderma
granarium Everts) và bọ cánh cứng (Blaps mucronata Latr) [1]. Cũng trong
khoảng thời gian này cũng có một số cán bộ của viện Hóa công nghiệp đã
nghiên cứu thử nghiệm chất Methyleugenol làm chất hấp dẫn Ruồi hại cam
(Dacus dosalis) tuy nhiên chất này không phải là một Pheromone. Nước ta
16
có rất ít công trình nghiên cứu về lĩnh vực này, kết quả nghiên cứu của một
số tác giả mới chỉ dừng lại ở việc chứng minh sự tồn tại và sự tác động của
pheromone trong đời sống động vật chứ chưa có nhiều nghiên cứu về mặt
lý luận khoa học và thực tiễn. Từ năm 1980 trở lại đây việc nghiên cứu
pheromone ở nước ta có nhiều chuyển biến hơn, cũng có một phần nhỏ nói
về pheromone côn trùng. Với điều kiện Khoa học kỹ thuật hiện nay của
nước ta thì việc nghiên cứu đầy đủ quy luật tác động cũng như vai trò của
pheromone đối với đời sống động vật nói chung, trong đời sống côn trùng
không còn là vấn đề quá khó khăn nữa nên chúng ta có thể tin trong tương
lai không xa những nghiên cứu về pheromone của các nhà khoa học nước
ta sẽ mang lai nhiều thành công mở ra nhiều triển vọng mới cho ngành côn
trùng học ứng dụng.
Từ những năm 1980 trở lại đây Cục Bảo vệ Thực vật và Viện Bảo vệ
Thực vật thuộc Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã tiến hành sử
dụng một số loại bẫy chất pheromone nhập khẩu từ nước ngoài đối với côn