BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
VIỆN NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
----o0o----
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
TÌM HIỂU QUY TRÌNH KỸ THUẬT SẢN XUẤT GIỐNG
NHÂN TẠO HÀU THÁI BÌNH DƯƠNG (Crassostrea gigas
THUNBERG, 1793) BẰNG PHƯƠNG PHÁP BÁM CHÙM TẠI
KHÁNH HÒA
Giảng viên hướng dẫn: Th.S Hứa Thị Ngọc Dung
Sinh viên thực hiện
: Võ Thị Xuân
Mã số sinh viên
: 55133154
Khánh Hòa: 2017
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
VIỆN NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
BỘ MÔN NUÔI THỦY SẢN NƯỚC LỢ
----o0o----
Sinh viên
Võ Thị Xuân
ii
TÓM TẮT
Luận văn trình bày kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo hàu Thái Bình Dương (TBD)
bằng phương pháp bám chùm được thực hiện từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2017 tại Khánh
Hòa. Các chỉ tiêu của hàu TBD bố mẹ được lựa chọn cho sinh sản có độ tuổi từ 8 – 10
tháng tuổi trở lên, khối lượng 70g/con, kích thước chiều dài ≥ 7cm, hàu khỏe mạnh, vỏ
nguyên vẹn và màu xanh xám. Hàu bố mẹ được cho sinh sản bằng phương pháp thụ tinh
nhân tạo với tỷ lệ đực cái là 1: 10 . Ấu trùng ương trong bể xi măng thể tích 5m3 với mật
độ trung bình 7con/ml. Thức ăn cho ấu trùng là các loài tảo đơn bào như Nannochloropsis
oculata, Chaetoceros muelleri, Tetraselmis sp…, Mật độ tảo và tỷ lệ phối trộn phụ thuộc
vào giai đoạn phát triển của ấu trùng. Các yếu tố môi trường được đảm bảo duy trì trong
khoảng thích hợp: độ mặn 27 – 32‰, pH 7,5 – 8,5, nhiệt độ nước 26 – 30ºC, sục khí đầy
đủ. Sau 20 ngày, khi thấy ấu trùng chuyển sang giai đoạn hậu kỳ đỉnh vỏ và xuất hiện
điểm mắt, kích thước ấu trùng trung bình 300 µm thì tiến hành treo giá thể cho hàu bám.
Sử dụng vỏ hàu làm giá thể cho bám, mỗi bể treo 120 dây với 50 giá thể/dây. Thời gian
cho một đợt sản xuất kéo dài 25 – 28 ngày kể từ khi cho đẻ đến khi ương lên con giống
cấp 1, tỷ lệ sống của hàu tới giai đoạn giống là 10%, lợi nhuận biên của quy trình sản xuất
đạt 55,5%.
iii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ........................................................................................................................ i
TÓM TẮT.............................................................................................................................ii
MỤC LỤC .......................................................................................................................... iii
CÁC KÝ TỰ VIẾT TẮT ...................................................................................................... v
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ........................................... 20
3.1. Hệ thống công trình và thiết bị ................................................................................ 20
3.1.1. Vị trí trại ........................................................................................................... 20
3.1.2. Cơ sở vật chất và hệ thống công trình .............................................................. 20
3.1.3. Chuẩn bị nước và xử lý nước ........................................................................... 24
3.1.4. Chuẩn bị bể đẻ và bể ương ấu trùng ................................................................. 24
3.2. Kỹ thuật tuyển chọn hàu bố mẹ và cho sinh sản nhân tạo ...................................... 24
3.2.1. Kỹ thuật tuyển chọn hàu bố mẹ và nuôi vỗ ...................................................... 24
3.2.2. Kỹ thuật cho hàu bố mẹ sinh sản nhân tạo ....................................................... 26
3.3. Kỹ thuật ương nuôi ấu trùng hàu ............................................................................. 27
3.3.1. Kỹ thuật ương nuôi ấu trùng sống trôi nổi ....................................................... 27
3.3.2. Kỹ thuật cho bám chùm .................................................................................... 29
3.3.3 Thu hoạch và vận chuyển .................................................................................. 32
3.3.4. Kỹ thuật nuôi sinh khối tảo làm thức ăn cho ấu trùng ..................................... 33
3.4. Đánh giá hiệu quả kinh tế ........................................................................................ 35
CHƯƠNG 4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ..................................................................... 37
4.1.Kết luận .................................................................................................................... 37
4.2. Kiến nghị ................................................................................................................. 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................................. 38
v
CÁC KÝ TỰ VIẾT TẮT
Hàu TBD
Hàu Thái Bình Dương
mm
Milimet
Nhiệt độ
µm
Micromet
Ø
Đường kính
Kw
Kilowatt
h
Giờ
tb
Tế bào
DO
Ôxy hòa tan (Dissolved Oxygen)
vi
DANH MỤC BẢNG
Hình 3. 14. Tảo Tetraselmis sp và tảo C. muelleri được nuôi sinh khối trong túi PE. ...... 33
1
MỞ ĐẦU
Việt Nam là quốc gia nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, với đường bờ biển dài
3.260 km từ Bắc xuống Nam, 112 cửa sông đổ ra biển và 12 đầm phá. Dọc theo bờ biển
phía Đông – Đông Nam và Tây Nam là vùng biển rộng lớn với hàng nghìn đảo lớn nhỏ,
đặc biệt là hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm ở vị trí chiến lược trên biển Đông.
Bên cạnh đó, Việt Nam có vùng đặc quyền kinh tế biển với tổng diện tích lên đến 1 triệu
km2, trong đó khoảng 710.000 ha diện tích tiềm năng phát triển kinh tế vùng triều. Với sự
ưu đãi của thiên nhiên về điều kiện khí hậu, thủy văn cùng với yếu tố con người đã tạo
nên thế mạnh để thúc đẩy ngành Nuôi trồng Thủy sản vùng ven biển Việt Nam.
Hàu Thái Bình Dương (Crassostrea gigas Thunberg, 1793) có nguồn gốc từ Nhật
Bản, là loại thực phẩm được người dân ưu chuộng. Thịt hàu thơm ngon, có giá trị dinh
dưỡng cao, chứa 5 acid amin tương đương hoặc cao hơn thịt bào ngư, hàm lượng
testosteron cao gấp 10 lần so với thịt sò huyết, gấp 17 lần so với thịt gà trống, hàm lượng
của một số nguyên tố vi lượng sinh học trong thịt hàu như Fe, Zn, Mn cao hơn thịt bào
ngư [4]. Hàu là thực phẩm có tác dụng làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch, tăng cường
sinh lực, tăng hệ miễn dịch cho cơ thể, đặc biệt là kẽm có tác dụng làm tăng sinh lực cho
nam giới. Ngoài ra, hiện nay trên thị trường có nhiều sản phẩm thực phẩm chức năng
được chế biến từ thịt hàu dùng để nâng cao và bồi bổ sức khỏe. Bên cạnh đó, hàu là loài
động vật thân mềm hai mảnh vỏ sử dụng thức ăn là các loại tảo, mùn bã hữu cơ trong
nước, giúp cải thiện điều kiện môi trường và bảo vệ vùng sinh thái nơi chúng phân bố.
Chính vì những giá trị như vậy mà hàu có thị trường tiêu thụ rộng rãi và trở thành đối
tượng nuôi chủ lực trong ngành Nuôi trồng Thủy sản.
Năm 2007, hàu TBD được di nhập vào Việt Nam, Viện nghiên cứu Nuôi trồng
Thủy sản 1 đã nuôi thử nghiệm thương phẩm hàu TBD tại vùng biển Cát Bà – Hải Phòng
và vịnh Bái Tử Long – Quảng Ninh, kết quả: Hàu TBD hoàn toàn thích nghi với điều kiện
môi trường tại đây, hàu sinh trưởng nhanh, sau 8 tháng nuôi đã đạt kích thước thương
Do thời gian thực hiện đồ án tốt nghiệp ngắn, trình độ chuyên môn và kinh nghiệm
nghiên cứu còn nhiều hạn chế nên báo cáo không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong
nhận được sự góp ý của quý thầy cô và bạn đọc để báo cáo hoàn chỉnh hơn.
3
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
1.1. Một số đặc điểm sinh học của Hàu Thái Bình Dương C. gigas
1.1.1. Vị trí phân loại
Vị trí phân loại của Hàu TBD được xác định như sau:
Ngành động vật thân mềm: Mollusca
Lớp hai mảnh vỏ: Bivalvia
Bộ cơ lệch: Anisomyarya
Họ Hàu: Ostreidae
Giống Hàu: Crassostrea
Loài: C. gigas Thunberg, 1793.
Hình 1. 1. Hình thái ngoài của Hàu TBD trưởng thành.
1.1.2. Đặc điểm cấu tạo
Theo Hà Đức Thắng (2005), hàu TBD khác với hàu cửa sông (Crassostrea
rivalaris), điểm khác nhau lớn nhất giữa chúng là hàu TBD có tỷ lệ chiều cao và chiều dài
lớn hơn từ 1/2 đến 1/3 so với hàu cửa sông. Hàu TBD là một trong những loài có kích
thước lớn trong các loài hàu đã được tìm thấy trên thế giới. Kích cỡ lớn nhất có chiều dài
76 cm (20 tuổi).
Vỏ hàu TBD tương đối lớn nhưng không đồng đều về hình dạng (vỏ dài hoặc hình
ô van), sọc đối xứng của hai vỏ bắt đầu từ những mấu lồi của đỉnh vỏ. Tỷ lệ chiều dài và
chiều rộng vỏ tương đối lớn, thường chiều dài gấp 2 – 3 lần chiều rộng. Hàu TBD thành
thục có kích thước từ 8 – 15 cm. Hai vỏ của hàu úp lại với nhau và khép mở nhờ cơ khép
vỏ. Hai vỏ này rất cứng, thô, khác nhau về hình dạng và kích thước. Vỏ phải nhỏ và nông
nằm ở trên, vỏ trái sâu và lớn dùng để bám chặt và vật cứng nằm ở dưới [6].
nào như đáy đá cứng, đá, san hô chết, hay vỏ nhuyễn thể… ở khu vực thuỷ triều nước
giữa thuỷ triều cao và thấp khoảng 3m hoặc ở giữa vùng nước nông [8]. Theo FAO
(2003) công bố, hàu TBD phân bố từ vùng triều thấp đến độ sâu 40m. Chúng thường phân
bố ở các vùng cửa sông, nhiệt độ nước dao động từ 18 – 35°C (thích hợp ở 20 – 28°C).
Hàu TBD là loài rộng muối, chúng sống ở độ mặn 10‰ – 35‰, nhưng thích hợp nhất từ
20‰ – 25‰ [12].
1.1.4. Đặc điểm dinh dưỡng
Theo nghiên cứu của Hà Đức Thắng (2005) cho thấy, hàu TBD là loại ăn lọc thụ
động, hàu bắt mồi trong quá trình hô hấp dựa vào cấu tạo đặc biệt của mang. Khi hô hấp,
dòng nước đi qua mang và đưa thức ăn qua bề mặt mang, các hạt thức ăn được lưu giữ lại
ở mang nhờ các tiêm mao và dịch nhờn được tiết ra từ các tiêm mao. Các hạt thức ăn có
kích thước nhỏ sẽ được dịch nhờn của các tiêm mao đưa dần về phía miệng, còn hạt thức
ăn quá lớn tiêm mao không giữ được sẽ bị dòng nước cuốn đi khỏi bề mặt mang, sau đó
tập trung ở mép màng áo và được màng áo đẩy ra ngoài. Như vậy, mặc dù hàu bắt mồi
thụ động, nhưng với cách bắt mồi như vậy chúng có thể chọn lọc thức ăn theo kích thước
phù hợp. Thức ăn của hàu tương đối đa dạng như: vi khuẩn, sinh vật nhỏ, mùn bã hữu cơ,
tảo, trùng roi có kích thước dưới 10 µm. Hàu cũng có thể sử dụng được một số vật chất
hòa tan trong nước và vật chất hữu cơ [3, 7, 10].
Thức ăn của hàu TBD ở giai đoạn ấu trùng chủ yếu thực vật phù du, kích thước từ
2 – 20 µm [14]. Ngoài ra hàu có thể sử dụng mùn bã hữu cơ, vật chất hòa tan trong nước
và vật chất hữu cơ làm thức ăn. Trong sản xuất giống nhân tạo thường sử dụng các loại vi
tảo làm thức ăn như: N. oculata, Isochrysis galbana, Pavlova lutheri, C. calcitrans,
Skeletonema costatum, Thalassiosira pseudonana, Th. mala, Isochrysis sp., Tetraselmis
sp [20], vì hàm lượng dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa và kích cỡ phù hợp.
Nghiên cứu của Hickey (1997) [15] đã mô tả chi tiết thời gian biến thái, kích
thước, mật độ nuôi, chế độ chăm sóc ấu trùng hàu tại Brazin trong điều kiện nhiệt độ
25°C như sau:
6
Thức ăn
Loại và lượng thức
(tb/ml)
ăn (lần/ngày)
100
-
-
75 – 120
10
30000
100% (I)
L
7 – 14
130 –
10
Đến
ngày
4.000
5
80000
30 I : 70 C
1
5
100000
30 I : 70 C
1
Ghi chú: I: I. galbana; C: C. calcitrans.
1.1.5. Đặc điểm sinh trưởng
Ở Giai đoạn ấu trùng, Park và ctv (1998) nghiên cứu tại Hàn Quốc đã cho thấy:
nhiệt độ, thức ăn và độ mặn là các yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển
của ấu trùng. Khi nhiệt độ thấp, hàu sinh trưởng và biến thái chậm, thời gian phù du kéo
dài. Ở nhiệt độ 19 – 20°C giai đoạn phù du của hàu kéo dài 21 ngày, nhiệt độ 27°C là 10
ngày, độ mặn trong giai đoạn này có thể dao động 14 – 37‰ nhưng khoảng thích hợp
nhất là 15 – 25‰. Nếu ấu trùng được cung cấp đầy đủ thức ăn và các yếu tố môi trường
thành lập những quần thể với mật độ lớn, thì hàu cái có xu hướng chuyển giới tính thành
con đực [2].
Việc đẻ trứng phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường và thường diễn ra vào những
tháng mùa xuân và mùa hè. Nhiệt độ đẻ trứng của hàu TBD dao động trong khoảng 22 –
25°C. Hàu TBD tham gia sinh sản lần đầu sau khoảng một năm (kích thước hàu khoảng
70 – 100mm) và một hàu cái có thể sinh sản ra khoảng 30 – 40 triệu trứng trong một lần
đẻ. Việc đẻ trứng thường được tác động bởi các yếu tố môi trường như sự dồi dào của
thức ăn và sự nâng lên của nhiệt độ. Quá trình thụ tinh diễn ra trong môi trường nước.
Trong điều kiện nhân tạo, thụ tinh chỉ diễn ra trong vòng một giờ hay ngắn hơn sau khi
8
hàu đẻ ở nhiệt độ khoảng 25°C khi trộn trứng và tinh trùng lại với nhau, nếu ngoài thời
gian này, trứng và tinh trùng thường bất động và không có khả năng thụ tinh [2].
Theo Lưu Đình Lý và ctv (2010) đã nghiên cứu, tuyến sinh dục của hàu gồm 3 bộ
phận: bao noãn, ống sinh dục và ống vận chuyển sinh dục. Khi ống sinh dục mở, ở khe
niệu sinh dục tại mặt bụng cơ khép vỏ nó có tác dụng vận chuyển trứng và tinh trùng đã
thành thục ra ngoài. Cơ quan sinh dục của hàu có thể thấy rõ vào mùa sinh sản, lúc này
tuyến sinh dục đã phát triển có màu trắng sữa phủ đầy nội tạng. [11]
Hình 1. 3. Hình dạng cấu tạo trong của hàu TBD
Hàu TBD có thể đẻ vài lần trong mùa vụ sinh sản, trứng nở thành ấu trùng và tự
kiếm thức ăn trong nước. Hình dạng bên ngoài của hày rất khó phân biệt đực cái, chỉ phân
biệt được đực cái khi tách vỏ ra và quan sát tuyến sinh dục vào mùa vụ sinh sản. Đối với
con đực tuyến sinh dục màu trắng đục, bóp nhẹ tinh dịch chảy ra dính thành từng cục.
Kích thước tinh trùng rất nhỏ, đầu tròn, đuôi kéo dài rất khó quan sát. Con cái tuyến sinh
dục có màu trắng xanh, bóp nhẹ trứng chảy ra rời rạc. Nếu quan sát dưới kính hiển vi thì
thấy con cái trứng có dạng hình tròn, hình oval nếu ở giai đoạn III thì trứng rời nhau [14,
17].
1.1.7. Sự phát triển của phôi và ấu trùng
10
1.2. Một số nghiên cứu sử dụng vi tảo trong sản xuất giống và nuôi động vật thân
mềm hai mảnh vỏ
Vi tảo (Microalgae) là những thực vật bậc thấp, có kích thước hiển vi, được phân
biệt với nhau bởi các chất màu (diệp lục tố, các sắc tố) và các chất dự trữ. Hình thái của vi
tảo rất đa dạng, bao gồm: đơn bào, đa bào hoặc tập đoàn với kích thước và cấu tạo khác
nhau [2].
Từ những nghiên cứu về vi tảo, các nhà khoa học đã kết luận rằng vi tảo có vai trò
hết sức quan trọng đối với nghành nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là trong giai đoạn ấu trùng
của động vật thủy sản nói chung và động vật thân mềm hai mảnh vỏ nói riêng.
Nhìn chung, vi tảo có những ưu điểm nổi bậc khi được sử dụng làm thức ăn cho
động vật thủy sản đó là không gây ô nhiễm môi trường, cung cấp đầy đủ các vitamin, chất
khoáng, vi lượng, đặc biệt là chúng chứa rất nhiều loại acid béo không no. Theo khảo sát
của Brown (2002), đã có hàng trăm loài vi tảo được thử nghiệm làm thức ăn, nhưng cho
tới nay chỉ có khoảng hai mươi loài được sử dụng phổ biến trong nghành nuôi trồng thủy
sản [2].
Mỗi loài vi tảo khác nhau thì có giá trị dinh dưỡng khác nhau, một loài vi tảo có
thể thiếu ít nhất một loại chất dinh dưỡng cấn thiết. Vì vậy, khi sử dụng vi tảo làm thức
ăn, nên kết hợp nhiều loài tảo khác nhau sẽ cung cấp dinh dưỡng đầy đủ hơn. Bên cạnh
đó, kích thước của vi tảo phải phù hợp với từng giai đoạn của ấu thể, sẽ giúp cho ấu thể
phát triển nhanh, đồng đều. Sử dụng vi tảo làm thức ăn có thể giúp ấu thể tăng khả năng
chống chịu với bệnh tật, với sự thay đổi của môi trường, tăng tỷ lệ sống của ấu trùng và
giảm được tổn thất trong giai đoạn sản xuất giống [2].
Trong sản xuất giống nhân tạo động vật thân mềm hai mảnh vỏ thường sử dụng
các loại vi tảo làm thức ăn như: C calcistran, C. muelleri, Nitzschia, S. costatum, I
galbana, P lutheri, Tetraselmis sp… [2].
11
cho lai giữa dạng tứ bội (4N) với dạng lưỡng bội (2N). Tương tự khi cho hàu đực tứ bội
lai với hàu cái lưỡng bội, Nell (2002) đã cho ra kết quả là 100% hàu tam bội. Từ những
thành tựu này, việc nuôi thương phẩm hàu tam bội tại bờ biển phía tây của Bắc Mỹ đã
tăng lên đáng kể. Ngày nay, công nghệ sản xuất hàu tam bội đã được chuyển giao đến
nhiều nước, có thể kể một số nước Châu Á như: Thái Lan, Hàn Quốc, Trung Quốc,
Philippines, Việt Nam,… và công nghệ nuôi hàu tam bội ngày càng phát triển (trích theo
Bossier và ctv, 2015) [2].
Rico và ctv (2006) đã nghiên cứu thành công công thức trộn hỗn hợp tảo làm thức
ăn cho hàu C. gigas. Bên cạnh đó, phương pháp sản xuất giống nhân tạo đã có bước tiến
quan trọng đó là thu hàu giống đơn. Theo Cross và Kingzett (1992), sau khi nuôi ấu trùng
hàu đến giai đoạn hậu ấu trùng đỉnh vỏ lồi thì dùng LHG kích thích hàu xuống đáy mà
không cần vật bám, hoặc dùng bột vỏ hàu, bột vỏ điệp kích thước 300 – 500µm cho hàu
bám. Với phương pháp này chúng ta có thể thu được con giống đơn phục vụ cho nghề
nuôi hàu bằng khay hoặc bằng túi [3].
1.3.2. Việt Nam
Hàu TBD (C. gigas Thunberg, 1793) so với loài bản địa của Việt Nam có những ưu
thế về kích thước, khối lượng cơ thể lớn, tốc độ sinh trưởng nhanh, giá trị kinh tế và xuất
13
khẩu cao. Trong điều kiện tự nhiên của vịnh Bái Tử Long nói riêng và Việt Nam nói
chung thì hàu TBD có thể sinh trưởng và phát triển tốt, diện tích có thể nuôi hàu khoảng
54.800 – 70.300 ha chạy dọc từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Kiên Giang, nhiệt độ nước
biển trung bình 29,3°C (cao nhất vào mùa hè không vượt quá 30°C), pH nằm trong
khoảng từ 7,8 – 8,5, DO từ 6,05 – 6,71mg/l, độ mặn trung bình 28,4‰. Bên cạnh đó,
nguồn thức ăn thực vật phù du rất đa dạng và phong phú về thành phần và số lượng loài,
rất phù hợp phát triển đối tượng này [1].
Tuy nhiên, ở Việt Nam nghề nuôi hàu vẫn còn rất mới mẻ, nuôi hàu mới chỉ bắt đầu
từ những năm cuối thế kỷ XX. Sản lượng hàu nuôi ở nước ta rất thấp, chủ yếu là đánh bắt
ở tự nhiên (hàu cửa sông C.rivularis), công nghệ nuôi hàu cũng rất đơn giản phần lớn là
cho nhu cầu nuôi hàu thương phẩm đang phát triển mạnh mẽ như hiện nay [1].
15
CHƯƠNG 2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Tên Việt Nam: Hàu Thái Bình Dương.
Tên khoa học: C. gigas Thunberg, 1793.
Thời gian nghiên cứu: từ ngày 13/02/2017 đến ngày 26/05/2017.
Địa điểm nghiên cứu: Công ty TNHH một thành viên Hàu Thái Bình Dương Nha Trang
tại thôn Văn Đăng 2 – Xã Vĩnh Lương – Thành phố Nha Trang – Tỉnh Khánh Hòa.
2.2. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
TÌM HIỂU QUY TRÌNH SẢN XUẤT GIỐNG NHÂN TẠO HÀU
TBD BẰNG PHƯƠNG PHÁP BÁM CHÙM
Hệ thống
công trình
thiết bị
Kỹ
thuật
tuyển
chọn và
nuôi vỗ
hàu bố
mẹ
Kỹ thuật tuyển
Kỹ
thuật
thu
hoạch
và vận
chuyển
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Hình 2. 1. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
Đánh giá
hiệu quả kinh
tế
Kỹ
thuật
nuôi
sinh
khối
tảo làm
thức ăn
cho ấu
trùng
16
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Tìm hiểu hệ thống công trình thiết bị
Địa điểm xây dựng trại
trường
Hình 2. 2. Các nội dug trong quy trình sản xuất giống hàu TBD
2.3.2.1. Tuyển chọn hàu TBD bố mẹ
Quan sát bằng mắt thường theo sự hướng dẫn của kỹ thuật viên ở trại.
Xác định chỉ tiêu tuyển chọn theo kích thước: