BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
CHƢƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT
-------------
NGUYỄN THỊ NGÀ
PHÁT TRIỂN CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ NHẰM
THÚC ĐẨY TIẾP CẬN TÍN DỤNG BỀN VỮNG CHO NGƢỜI NGHÈO,
NGHIÊN CỨU TẠI TYM, VIETED, STU2 VÀ DARIU
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
CHƢƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT
-------------
NGUYỄN THỊ NGÀ
PHÁT TRIỂN CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ NHẰM
THÚC ĐẨY TIẾP CẬN TÍN DỤNG BỀN VỮNG CHO NGƢỜI NGHÈO,
NGHIÊN CỨU TẠI TYM, VIETED, STU2 VÀ DARIU
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 60340402
nguồn vốn. Tuy nhiên, gần 30 năm phát triển, Việt Nam mới chỉ có 3 tổ chức TCVM
(MFI-Microfinance Institution) chính thức, gần 50 MFI bán chính thức, tỷ lệ người nghèo
được tiếp cận TCVM còn rất ít, hiệu quả sử dụng nguồn vốn thấp. Đánh giá của Ngân hàng
Phát triển Châu Á (ADB) năm 2010, quy mô cấp tín dụng vi mô (TDVM) của các MFI tại
Việt Nam tương đương khoảng 4% GDP (trong khi tổng quy mô cấp tín dụng cả nền kinh
tế/GDP năm 2010 là 135.79%), chưa đáp ứng nhu cầu của người nghèo.
Lý thuyết thể chế của North (1990) và chi phí giao dịch (CPGD) của Coase (1960) cho
rằng, một thể chế tốt sẽ giúp giảm chi phí, tăng hiệu quả giao dịch và ngược lại, thể chế
yếu kém, môi trường bất cân xứng thông tin (BCXTT) sẽ dẫn đến CPGD đắt đỏ, khiến
giao dịch không xảy ra hoặc diễn ra với chi phí cao.
Vận dụng vào thị trường TCVM hiện nay, luận văn chỉ ra tiếp cận TDVM của người nghèo
chưa hiệu quả và bền vững. Những người nghèo nhất có thể bị loại ra khỏi đối tượng cho
vay; các khoản TDVM phải trả lãi suất cao, trong khi tiền gửi tiết kiệm bắt buộc (TKBB)
tương tự tiền gửi có kỳ hạn tại ngân hàng thương mại (NHTM), lại được trả lãi không kỳ
hạn; các dịch vụ hỗ trợ quản lý và sử dụng vốn ít được cung cấp, khiến hiệu quả sử dụng
vốn không cao. Nguyên nhân là do thị trường tín dụng cho người nghèo tồn tại BCXTT và
CPGD cao, trong khi những tác động chính sách không giúp cải thiện điều đó.
Trên cơ sở đó, luận văn khuyến nghị chính sách: (i) Từ phía MFI: phân nhóm đối tượng
khách hàng và có chính sách riêng với đối tượng nghèo nhất; hoàn thiện cơ sở vật chất và
đội ngũ nhân lực. (ii) Đối với Ngân hàng Nhà nước (NHNN): xây dựng hệ thống văn bản
pháp quy, tách biệt hoạt động quản lý các MFI với NHTM; xây dựng cơ sở dữ liệu thông
tin TDVM. (iii) Đối với Bộ tài chính: Ưu đãi về miễn và giảm thuế thu nhập cho các MFI
trong thời gian đầu chuyển đổi. (iv) Đối với chính quyền địa phương: có chính sách giảm
các tệ nạn xã hội để giúp người nghèo có thể tiếp cận với nguồn vốn của các MFI.
-ii-
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới toàn thể các giảng viên và cán bộ của
1.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu................................................................................................ 3
1.4 Phương pháp nghiên cứu.......................................................................................................... 4
1.5 Cấu trúc luận văn ..................................................................................................................... 4
CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU ..................................... 5
2.1 Một số khái niệm cơ bản về TCVM và tiếp cận tài chính........................................................ 5
2.1.1. Hoạt động tài chính vi mô ............................................................................................................... 5
2.1.2 Các tổ chức tài chính vi mô và thị trường tài chính vi mô ............................................................... 6
2.1.3 Tiếp cận tài chính bền vững ............................................................................................................. 7
2.2 Khung phân tích ....................................................................................................................... 9
2.2.1
Lý thuyết về thể chế và chi phí giao dịch ..................................................................................... 9
2.2.2 BCXTT và can thiệp chính sách tác động đến tiếp cận TD của người nghèo ................................ 10
2.2.2.1 Bất cân xứng thông tin trên thị trường tín dụng ...................................................................... 10
2.2.2.2 Những nỗ lực chính sách nhằm cải thiện tiếp cận tín dụng của người nghèo ......................... 11
2.3 Tổng quan các nghiên cứu trước về tiếp cận tín dụng và mối quan hệ giữa thể chế với tiếp
cận tín dụng của người nghèo ...................................................................................................... 12
2.3.1 Về tiếp cận tín dụng của người nghèo ............................................................................................ 12
2.3.2 Về hiệu quả tiếp cận tín dụng của người nghèo ............................................................................. 13
2.3.3 Về mối quan hệ giữa thể chế và mức độ tiếp cận tín dụng của người nghèo ................................. 14
2.4. Kinh nghiệm phát triển TCVM nhằm tăng tiếp cận TD của người nghèo trên thế giới................. 15
2.4.1 Xu hướng phát triển TCVM ........................................................................................................... 15
2.4.2 Bài học kinh nghiệm phát triển TCVM trên thế giới và tiếp cận TD người nghèo ........................ 16
CHƢƠNG 3: THỰC TRẠNG TIẾP CẬN TÍN DỤNG TẠI CÁC TỔ CHỨC
Hình 2.4: Hoạt động cung cấp tín dụng của các TCTD cho người dân .......................................... 12
Hình 2.5: Đo lường mức độ tiếp cận TCVM ................................................................................... 13
Hình 2.6: Con đường phát triển của các MFI................................................................................... 15
Hình 3.1: Các dấu mốc phát triển TCVM tại Việt Nam .................................................................. 18
Hình 3.2: Quy trình cấp tín dụng của MFI ....................................................................................... 20
-v-
3.2 Quá trình thu thập dữ liệu ...................................................................................................... 19
3.2.1 Nguồn dữ liệu ................................................................................................................................. 19
3.2.2 Phương pháp chọn mẫu .................................................................................................................. 19
3.3 Tiếp cận tín dụng của người nghèo trên thị trường các MFI hiện nay ................................... 20
3.3.1 BCXTT và CPGD hạn chế khả năng tiếp cận tín dụng của người nghèo ...................................... 20
3.3.1.1 Tác động của BCXTT đến tiếp cận tín dụng của người nghèo ............................................... 20
3.3.1.2 Tác động của CPGD đến tiếp cận tín dụng của người nghèo ................................................. 22
3.3.2 Mức độ và hiệu quả tiếp cận tín dụng của người nghèo ................................................................. 23
3.3.2.1 Tỷ lệ người nghèo được tiếp cận tín dụng thấp....................................................................... 23
3.3.2.3 Về giá trị và thời hạn khoản vay chưa đáp ứng nhu cầu khách hàng ...................................... 24
3.3.2.4 Lãi suất cho vay cao trong khi trả lãi tiết kiệm thấp ............................................................... 24
3.3.2.5 Tác động gia tăng thu nhập thấp ............................................................................................. 26
3.3.3 Tác động chuyển đổi chính thức tới khả năng tiếp cận tín dụng của người nghèo của một số MFI
tại Việt Nam. ........................................................................................................................................... 27
3.3.3.1 Mô hình chuyển đổi của TYM ................................................................................................ 27
3.3.3.2 Mô hình chuyển đổi của M7-MFI ........................................................................................... 30
3.4 Hạn chế của việc chuyển đổi tác động đến tiếp cận tín dụng của người nghèo .................... 32
3.4.1 Từ phía bản thân các MFI .............................................................................................................. 32
3.4.2 Từ phía các quy định chính sách .................................................................................................... 33
Bất cân xứng thông tin
CBKT
Cán bộ kỹ thuật
CEP
Quỹ trợ vốn cho người lao động nghèo tự tạo
việc làm
CIC
Credit Information Center
CPGD
FSS
Trung tâm thông tin tín dụng
Chi phí giao dịch
Financial Self-Sufficiency
Tự vững tài chính
HLHPN
Hội Liên hiệp phụ nữ
M7-MFI
Tự vững hoạt động
PGD
Phòng giao dịch
TCVM
Tài chính vi mô
TCTD
Tổ chức tín dụng
TD
Tín dụng
TDVM
Tín dụng vi mô
Thanh Hóa MFI
TCTCVM trách nhiệm hữu hạn Thanh Hóa.
TKBB
Tiết kiệm bắt buộc
Xóa đói, giảm nghèo là mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển của bất cứ quốc gia
nào. Cách thức hiệu quả và bền vững để giảm nghèo không phải là mang đến cho người
nghèo một chương trình từ thiện, mà họ cần những cơ hội được tiếp cận với các phương
tiện phát triển kinh tế như vốn, kiến thức, kỹ thuật sản xuất... Tuy nhiên, việc tiếp cận các
phương tiện này, đặc biệt là nguồn vốn trên thị trường chính thức còn hạn chế.
Thị trường TD chính thức bao gồm các NHTM, hầu như người nghèo không tiếp cận được.
Trên thế giới có khoảng 2 tỷ người trưởng thành không sử dụng một dịch vụ ngân hàng
chính thức nào (World Bank-WB, 2017). Việt Nam với trên 90 triệu dân nhưng chỉ có 21%
người trưởng thành và 6% người nghèo được tiếp cận với các dịch vụ tài chính chính thống
(MicroSave, 2015). WB (2017) chỉ ra nguyên nhân hạn chế tiếp cận tài chính có đến 59%
là do thiết kế dịch vụ chưa đáp ứng nhu cầu, giá cả chưa phù hợp với người thu nhập thấp,
ngoài ra thiếu thông tin về lịch sử TD của người vay, những khoản vay có giá trị nhỏ dẫn
đến chi phí tìm kiếm thông tin và quản lý trung bình trên mỗi khoản vay cao; việc không
có tài sản thế chấp…khiến các NHTM từ chối cho vay đối tượng này. Thêm một phần vì
tâm lý e ngại của người nghèo khi đến nơi đông người và sang trọng như NHTM, khiến
cánh cửa vào thị trường tài chính chính thức gần như hoàn toàn đóng lại với họ.
Nỗ lực thúc đẩy tiếp cận TD của người nghèo được thực hiện thông qua các chương trình
TD của Chính phủ, tuy nhiên các chương trình này không vận hành tốt như dự kiến. Chính
phủ cấp những khoản vay ưu đãi (thậm chí không cần phải hoàn trả) hay chỉ định các
NHTM cho vay những lĩnh vực và đối tượng ưu tiên. Tuy nhiên, những khoản tài trợ mang
tính chất cho không thường dẫn đến tâm lý ỷ lại; hoặc kèm theo yếu tố chính trị, khoản TD
được cấp cho người dân ngay trước cuộc bầu cử với điều kiện trao đổi là lá phiếu. Các
chương trình chỉ định thực hiện bởi NHTM cho thấy rằng để tăng thu nhập của người
nghèo thêm 1 rupee, thì chi phí cho việc mở và vận hành chi nhánh mới cao hơn 1 rupee
(Banerjee và Duflo, 2012). Đó là bằng chứng cho thấy, các chương trình TD của chính phủ
không thực sự hiệu quả trong việc thúc đẩy tiếp cận TD của người nghèo.
Để được tiếp cận vốn, người nghèo đã tìm đến tín dụng phi chính thức, bao gồm cả tín
dụng đen (các cá nhân cho vay nặng lãi, hụi, họ…), là hình thức huy động vốn và cho vay
vốn không thông qua tổ chức, hệ thống Ngân hàng, vốn được chuyển giao theo những thỏa
thuận “ngầm”, thủ tục đơn giản, lãi suất cao vượt nhiều lần quy định của pháp luật. Bởi
Vấn đề không chỉ nằm ở chỗ “cho cần câu hay cho con cá”, giúp người nghèo tiếp cận
được với nguồn tín dụng, nhưng làm thế nào để khoản vay được sử dụng hiệu quả giúp cải
thiện đời sống, lâu dài và bền vững thực sự là vấn đề cần được chú trọng. Các chính sách
phát triển thị trường TCVM phải giúp hạn chế BCXTT và CPGD, tạo môi trường minh
bạch, thông tin đầy đủ, để các MFI tham gia vào các quan hệ kinh tế theo nguyên tắc thị
trường, là cơ sở để tiếp cận TDVM của người nghèo hiệu quả và bền vững hơn.
-3-
1.2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi chính sách
Tác giả tìm hiểu hoạt động và quá trình cung cấp dịch vụ của các MFI, để chỉ ra những trục
trặc khiến việc tiếp cận tín dụng của người nghèo chưa được cải thiện. Tìm hiểu quá trình
sàng lọc khách hàng, thúc đẩy động cơ và cưỡng chế hoàn trả của các MFI thực tế đã loại
bỏ những người nghèo nhất hoặc những người có nguy cơ rơi vào nghèo đói ra khỏi phạm
vi tiếp cận như thế nào; các MFI cung cấp các dịch vụ hỗ trợ sử dụng vốn vay và hiệu quả
tác động đến thu nhập của khoản vay ra sao. Từ đó đánh giá mức độ và hiệu quả tiếp cận
tín dụng của người nghèo thông qua dịch vụ của các MFI.
Đề tài phân tích những chính sách của Nhà nước đối với ngành TCVM từ năm 2005 (thời
điểm văn bản pháp lý đầu tiên về hoạt động TCVM, nghị định 28/2005-NĐCP được ban
hành) cho đến năm 2016, ảnh hưởng tới tình trạng BCXTT và CPGD trên thị trường
TCVM, từ đó có tác động đến hiệu quả tiếp cận TD của người nghèo như thế nào.
Trên cơ sở đó, đưa ra gợi ý khuyến nghị chính sách, nhằm phát triển các MFI giúp việc
tiếp cận tín dụng của người nghèo trở nên hiệu quả và bền vững hơn.
Để làm rõ các vấn đề trên, luận văn sẽ trả lời các câu hỏi sau:
(i) Những trục trặc trên thị trường các MFI và những can thiệp chính sách của Nhà nước
tác động tới khả năng tiếp cận tín dụng của người nghèo như thế nào?
(ii) Giải pháp nào để giúp người nghèo tiếp cận tín dụng bền vững?
1.3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu bao gồm (i) Các hoạt động của MFI trong việc cung cấp TD bao
-5-
CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU
2.1 Một số khái niệm cơ bản về TCVM và tiếp cận tài chính
2.1.1. Hoạt động tài chính vi mô
Khái niệm chung
TCVM được biết đến rộng rãi sau khi Muhammad Yunus phát triển hệ thống Grameen
Bank tại Bangladesh kể từ cuối thập niên 1970. Có nhiều tổ chức và các nhà nghiên cứu
định nghĩa về TCVM. Theo Nhóm tư vấn và hỗ trợ người nghèo (CGAP-Consultative
Group to Assist the Poor), TCVM là dịch vụ tài chính cung cấp cho những người có thu
nhập thấp, người nghèo, những khoản vay nhỏ giúp họ tham gia sản xuất kinh doanh và
thoát khỏi đói nghèo. Theo Ledgerwood (2007), TCVM không chỉ bao gồm các dịch vụ
ngân hàng đơn giản, nó là một công cụ phát triển, với dịch vụ tài chính cho người thu nhập
thấp bao gồm tiết kiệm, tín dụng, bảo hiểm, dịch vụ thanh toán, và các dịch vụ phi tài
chính như đào tạo, hỗ trợ kỹ thuật sản xuất. TCVM vừa nhằm mục tiêu tài chính (lợi
nhuận), vừa có mục tiêu xã hội (tiếp cận người nghèo).
Tại Việt Nam, điều 2, nghị định 28/2005/NĐ-CP đưa ra định nghĩa chính thức đầu tiên về
tài chính quy mô nhỏ, là hoạt động cung cấp một số dịch vụ tài chính, ngân hàng nhỏ, đơn
giản cho các hộ gia đình, cá nhân có thu nhập thấp, đặc biệt là hộ gia đình nghèo.
Khoản 2, thông tư 02/2008/TT-NHNN, quy định tín dụng quy mô nhỏ là khoản cho vay có
giá trị nhỏ, có hoặc không có bảo đảm cho các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp để sử
dụng vào các hoạt động tạo thu nhập và cải thiện điều kiện sống. Khoản cho vay đối với
một khách hàng được gọi là tín dụng quy mô nhỏ khi tổng dư nợ cho vay của tổ chức tài
chính quy mô nhỏ đối với khách hàng đó không vượt quá ba mươi triệu đồng.
Vai trò và sản phẩm của TCVM
Về mặt kinh tế, TCVM giúp mang cơ hội được tiếp cận với các phương tiện làm kinh tế, cụ
thể là nguồn vốn. Về mặt xã hội, giúp người nghèo có cơ hội được tiếp cận với nguồn vốn
chính thức, tránh được hệ lụy tự những khoản vay phi chính thức, đặc biệt tài chính vi mô
vốn tự có, vốn vay và nhận tiết kiệm để cung cấp một số dịch vụ tài chính, ngân hàng nhỏ,
đơn giản cho các hộ gia đình, cá nhân có thu nhập thấp.
Năm 2010, Luật các TCTD có hiệu lực, đã công nhận các MFI là một bộ phận của hệ
thống tài chính khi định nghĩa tổ chức TCVM là loại hình TCTD chủ yếu thực hiện một số
hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp
và doanh nghiệp siêu nhỏ (khoản 5, điều 4). MFI được thành lập, tổ chức dưới hình thức
công ty trách nhiệm hữu hạn (khoản 6, điều 6).
Thị trường TCVM có sự tham gia của Chính phủ, các NHTM, các MFI, các cá nhân…
Theo ADB (2010), các nhà cung cấp TCVM Việt Nam được chia thành 3 nhóm khác nhau:
-7-
Hình 2.1: Thị trƣờng TCVM Việt Nam
Nguồn: ADB 2010 trích trong Nguyễn Kim Anh và đồng tác giả (2014)
Nhóm chính thức gồm các NHTM, Ngân hàng chính sách xã hội (NHCSXH), Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) và các MFI chính
thức được NHNN cấp phép, hoạt động theo Luật các TCTD. Nhóm các MFI bán chính
thức, gồm các tổ chức phi chính phủ (NGO- Non-governmental organization), các quỹ xã hội,
quỹ từ thiện…cung cấp dịch vụ TCVM, nhưng không hoạt động theo Luật các TCTD,
không được phép nhận tiền gửi TKTN hay tham gia thị trường vốn. Nhóm thứ ba là các
hoạt động phi chính thức gồm gia đình, bạn bè, dịch vụ cầm đồ, các cá nhân cho vay.
2.1.3 Tiếp cận tài chính bền vững
Theo WB (2017), tiếp cận tài chính có nghĩa là các cá nhân, doanh nghiệp được tiếp cận
các sản phẩm dịch vụ tài chính chính thức và giá cả phải chăng, đáp ứng nhu cầu tiết kiệm,
tín dụng, bảo hiểm, thanh toán…một cách có trách nhiệm và bền vững, đồng nghĩa với
việc người sử dụng dịch vụ tài chính có thể bắt đầu công việc kinh doanh, quản lý rủi ro và
tránh được những thiệt hại do các cú sốc có thể xảy ra, trong đó TCVM được hiểu là một
cách thức giúp tăng cường tiếp cận tài chính.
đủ bù đắp chi phí hoạt động và chi phí tài chính. Xét từ góc độ khách hàng, sự bền vững
được hiểu là đảm bảo tính liên tục, giá cả hợp lý và hiệu quả của dịch vụ bao gồm việc tiết
kiệm liên tục để đảm bảo ổn định, việc vay vốn liên tục để quay vòng và duy trì sản xuất
kinh doanh, đảm bảo gia tăng lợi ích từ các dịch vụ bổ sung như liên tục được tiếp cận các
kiến thức và kinh nghiệm quản lý tài chính, nâng cao năng lực hòa nhập xã hội và có sự
gắn kết dài lâu giữa MFI và khách hàng.
Trong phạm vi mục tiêu, thời gian và nguồn lực nghiên cứu, luận văn chỉ đề cập đến hoạt
động TCVM của các MFI chính thức, bán chính thức hiện nay, và một khía cạnh của tiếp
cận tài chính đó là việc đảm bảo tiếp cận TD của người nghèo đạt hiệu quả và bền vững.
-9-
2.2 Khung phân tích
2.2.1 Lý thuyết về thể chế và chi phí giao dịch
North (1990) cho rằng trong điều kiện thị trường hoàn hảo, hàng hóa đồng nhất và sự trao
đổi là tức thời, các cá nhân có đầy đủ thông tin về hàng hóa và điều kiện giao dịch thông
suốt, không cần nỗ lực nhiều ngoài việc chi một khoản tiền cho tìm kiếm thông tin, thì cơ
chế giá cả là công cụ tốt nhất. Tuy nhiên, thực tế hầu hết các thị trường đều tồn tại
BCXTT, là hiện tượng những người tham gia thị trường không có đầy đủ thông tin để ra
quyết định, khi một số người có nhiều thông tin hơn người khác, lợi dụng điều đó ra quyết
định nhằm tối ưu hóa lợi ích cho mình và có thể gây thiệt hại cho đối tác, khi đó các bên
tham gia sẽ tốn kém chi phí cho việc tìm kiếm thông tin, đánh giá, kiểm soát và thực thi
các thỏa thuận, khiến CPGD đắt đỏ.
North (1990, tr.33) chỉ ra việc thực thi các thỏa thuận cũng có thể là kết quả của ba yếu tố:
những quy tắc thi hành bên trong, các chế tài xã hội hay sức ép của một bên thứ ba. Khi
không có ràng buộc, thông tin bất cân xứng và sự phân phối lợi tức sau đó sẽ sử dụng quá
nhiều nguồn lực để đánh giá, đẩy CPGD lên cao, khiến cho việc trao đổi không xảy ra.
Coase (1960) cho rằng, điều quan trọng là thiết lập một thể chế nghiêm ngặt, giúp hạn chế
tối thiểu CPGD, hoặc nếu tốn kém chi phí thì các bên sẽ tiếp cận được thông tin cần thiết
cho vay khó phân biệt được mức độ rủi ro giữa các khách hàng một cách chính xác, dẫn
đến hai hiệu ứng là lựa chọn ngược (adverse selection) và rủi ro đạo đức (moral hazard)
(Stiglitz, 1981). Người cho vay có thể ra quyết định không cho vay đối với khách hàng
-11-
“tốt”, cho vay khách hàng “xấu”; khi tín dụng được cấp có thể dẫn đến rủi ro đạo đức nếu
khoản vay không được sử dụng đúng mục đích và người vay không có động cơ hoàn trả.
Mô hình thông tin không hoàn hảo trên thị trường tín dụng nông thôn được Hoff và Stiglitz
(1993) khái quát trên 3 khía cạnh: vấn đề sàng lọc, ở thị trường này mỗi người vay có xác
suất không trả được nợ khác nhau, việc tìm kiếm thông tin và xác định mức độ rủi ro cho
mỗi người là khó khăn và rất tốn kém; vấn đề về động cơ, chi phí cao cho việc tìm hiểu
liệu rằng việc sử dụng vốn vay có đúng mục đích để đảm bảo khả năng trả nợ hay không;
và vấn đề cưỡng chế, thật khó để cưỡng chế các đối tượng hoàn trả khoản vay trên thị
trường này bởi hầu như không thể yêu cầu người nghèo dùng tài sản thế chấp cho các
khoản vay, nếu có đi chăng nữa thì giá trị cũng không đáng kể.
Theo Hoff và Stiglitz (1993, tr.7), thị trường tín dụng nông thôn bao hàm bất lợi về mặt địa
lý, khu vực sinh sống trải rộng, khiến cho người cho vay không sống cùng địa phương
không thể có sự đánh giá chính xác về khả năng trả nợ của các hộ gia đình.
Để hạn chế rủi ro, buộc các TCTD sử dụng các điều kiện ràng buộc, thông qua lãi suất, yêu
cầu tài sản thế chấp, hầu như người nghèo không đáp ứng được yêu cầu này, nên họ sẽ bị
loại ra khỏi đối tượng tiếp cận của hệ thống ngân hàng chính thức.
2.2.2.2 Những nỗ lực chính sách nhằm cải thiện tiếp cận tín dụng của ngƣời nghèo
Stiglitz và Hoff (1993) cho rằng, tự thân sự phát triển không thể cải thiện những điểm
không hoàn hảo trên thị trường tín dụng trong ngắn và trung hạn. Người nghèo luôn khó
khăn khi tiếp cận nguồn TD chính thức và thường phải vay từ các nguồn phi chính thức,
nhiều trường hợp buộc phải vay các cá nhân cho vay nặng lãi, do đó cần viện đến sự can
thiệp chính sách, nhưng can thiệp chính sách cũng có thể tạo ra những chướng ngại của sự
phát triển.
52 %
37 %
13 %
6,4 %
5%
Nguồn: Banerjee và Duflo, 2012.
Banerjee và Duflo (2012), tổng hợp từ bộ dữ liệu 18 quốc gia, chưa tới 5% người nghèo ở
nông thôn và chưa tới 10% người nghèo ở thành thị có một khoản vay từ ngân hàng.
2.3.2 Về hiệu quả tiếp cận tín dụng của ngƣời nghèo
Đặng Thu Thủy (2017), mức độ tiếp cận TCVM được đo lường theo độ sâu và độ rộng tiếp
cận với các tiêu chí:
Hình 2.5: Đo lƣờng mức độ tiếp cận TCVM
Nguồn: Đặng Thu Thủy (2017), trích Hulme, Zeller (2002); Yaron (1998)
Theo Nhóm công tác TCVM Việt Nam (VMFWG-Vietnam Microfinance Working Group,
2013), tiếp cận tín dụng được xét ở hai góc độ: chiều rộng và chiều sâu. Chiều rộng, thể
hiện quy mô, phạm vi mạng lưới hoạt động của tổ chức và số lượng, sự đa dạng của đối
tượng khách hàng; mức độ thuận tiện trong tiếp cận như tính sẵn có hay việc dễ dàng đi
đến địa điểm cung cấp dịch vụ. Chiều sâu tiếp cận, thể hiện việc cung cấp dịch vụ đáp ứng
nhu cầu của khách hàng, đảm bảo tính minh bạch và giá cả hợp lý, hạn chế nợ chồng chéo,
-12-
Tuy nhiên Stiglitz và Hoff cũng cho rằng, điều này không có nghĩa chính sách công không
có vai trò gì, điều quan trọng là cần tạo sự minh bạch trên thị trường (xây dựng hệ thống
quy chế chặt chẽ hoặc thông qua một tổ chức giám sát nhóm quy mô nhỏ) giúp giảm
BCXTT và CPGD; hoặc thông qua ngoại tác từ các chính sách khác như quyền sở hữu đất
đai; các chính sách giúp nâng cao năng lực xã hội của người nghèo…là cơ sở để nâng cao
thu hồi khoản vay, quá trình này có thể loại người nghèo nhất ra khỏi đối tượng tiếp cận.
Tuy nhiên, những cải cách về thể chế phù hợp sẽ mang lại những tính năng thiết kế thực
hành tốt nhất (“best practice” design features) về dịch vụ bảo hiểm, tiết kiệm, các khoản
vay với lãi suất đủ bù đắp chi phí và khuyến khích động cơ hoàn trả…có thể giúp tránh
được điều đó, đảm bảo độ bền vững và độ tiếp cận của MFI.
Theo Morduch (1999, tr46), TCVM như một phong trào mạnh mẽ, tuy nhiên để đảm bảo
không bỏ rơi cam kết xóa nghèo, các MFI cần phải thực hiện những lựa chọn cứng rắn.
Một con đường là xem xét nghiêm túc về cơ cấu quản lý và thiết lập cơ chế nhằm giảm chi
phí nhưng vẫn phải duy trì độ bao trùm của chương trình, việc này đòi hỏi sự đổi mới, hàm
ý cải cách thể chế gắn liền với một hệ thống “thực hành tốt nhất” được thiết kế phù hợp.
Hattel and Halpern (2002, tr11) cho rằng hình thức tồn tại của MFI có tác động tới mức độ
tiếp cận cộng đồng. Các MFI bán chính thức bị hạn chế về tiếp cận nguồn vốn và mức độ
chuyên nghiệp hóa, chuyển đổi lên chính thức giúp giải quyết vấn đề này. Tuy nhiên, quá
trình chuyển đổi chi phí lớn, luôn vướng phải các vấn đề về thủ tục, và rất ít các MFI có đủ
năng lực chuyển đổi. Đây là một nguyên nhân khiến tiếp cận TD của người nghèo chưa
được hiệu quả và bền vững.
UNDP & Citi Corp Foundation (1997, trích Nguyễn Kim Anh, 2013, tr.62-64) cho rằng,
các tổ chức xã hội, các NGO còn thiếu chuyên nghiệp, phụ thuộc vào nguồn tài trợ. Đội
ngũ nhân viên có năng lực chuyên môn hạn chế do đó ít đưa ra được tư vấn hữu ích, họ
tham gia vào quá nhiều công việc, từ lập kế hoạch chiến lược đến phát triển thị trường
khiến hiệu quả hoạt động không cao. Một số chương trình dự án do các tổ chức xã hội thực
hiện khá tốn kém, mang tính bao cấp và khả năng tiếp cận khách hàng rất thấp, mất cân đối
giữa mục tiêu tài chính và mục tiêu xã hội, thiếu tính bền vững.
Nguyễn Kim Anh và đồng tác giả (2016, tr34), việc chuyển đổi lên chính thức, hoạt động
trong môi trường pháp lý rõ ràng, sẽ giảm thiểu tính bất trắc và CPGD. Tác động của việc
chuyển đổi được xét trên 3 góc độ: (i) cải thiện cơ cấu quản trị và sở hữu của tổ chức, bởi
-15-
• Sau năm 2000: Giai đoạn chuyển đổi, các MFI phi chính thức và bán chính thức có sự
chuyển đổi về mặt chất để trở thành các MFI chính thức - được cấp phép và giám sát hoạt
động bởi Ngân hàng Trung ương, hoặc cơ quan giám sát hệ thống tài chính quốc gia, dưới
sự điều chỉnh của một khuôn khổ pháp luật riêng. Các MFI bán chính thức chưa chuyển
đổi chịu sự giám sát của các cơ quan phi ngân hàng như Hợp tác xã tiết kiệm và tín dụng.
2.4.2 Bài học kinh nghiệm phát triển TCVM trên thế giới và tiếp cận TD ngƣời nghèo
Trên thế giới cũng đã có nhiều mô hình chuyển đổi thành công, mang lại hiệu quả trong
việc gia tăng tiếp cận tín dụng của người nghèo. Các MFI hình thành từ những tổ chức hỗ
trợ cộng đồng, cho vay theo tổ, nhóm, sau đó nhiều tổ chức chuyển sang cho vay trực tiếp
cá nhân, liên kết với các NHTM đi lên chuyên nghiệp hóa, trở thành một bộ phận của hệ
thống tài chính chính thức. Lê Văn Luyện-Nguyễn Đức Hải (2013) chỉ ra rằng, Grameen
Bank tại Bangladesh từ ngân hàng làng xã, được cổ phần hóa và hoạt động theo nguyên tắc
thị trường, lợi nhuận có được bổ sung vào nguồn vốn tăng cơ hội tiếp cận cho người
nghèo. Hay tại Indonesia, Bank Rakyat Indonesia từ một ngân hàng thuộc sở hữu nhà
nước, phụ thuộc vào sự bao cấp của chính phủ, rơi vào tình trạng khó khăn, sau năm 1983,
đi lên chuyên nghiệp với việc phân chia thành các bộ phận riêng biệt cho khách hàng lớn,
khách hàng doanh nghiệp nhỏ, người nghèo…đã dần vượt qua khó khăn và trở thành ngân
hàng hàng đầu của người nghèo tại Indonesia.
Theo Hossain (2013), không phải mô hình thương mại hóa TCVM nào cũng thành công.
Tại Ấn Độ, là nơi có hàng ngàn MFI hoạt động và có mức độ thương mại hóa mạnh mẽ,
trước năm 2010, hệ thống thể chế, quản lý và các nguyên tắc bảo vệ khách hàng không
chặt chẽ, thương mại hóa thiếu hoàn chỉnh hay sự chuyển đổi về lượng không song hành
với sự thay đổi về chất, kết hợp với sự bất ổn của kinh tế nông nghiệp và nguồn trả nợ,
không có cơ chế tiết kiệm bắt buộc, độc quyền trong cho vay người nghèo, lãi suất cao và
các khoản nợ chồng chéo dẫn đến nợ quá hạn, khiến hàng ngàn người tự tử và bùng nổ
khủng hoảng TCVM tại Andha Pradesh. Vì vậy, sự chuyên nghiệp hóa của các MFI cần đi
kèm với những nguyên tắc bảo vệ khách hàng và hệ thống quản lý rủi ro; có sự can thiệp
của Ngân hàng Trung ương, các hiệp hội TCVM thông qua thiết lập hệ thống thông tin tín
dụng và sự kiểm soát một cách cẩn trọng, đảm bảo lợi ích cho cả MFI lẫn người nghèo.