Vai trò của các tổ chức phi chính phủ trong việc hỗ trợ kỹ thuật, tăng cường năng lực cho người dân và đối tác địa phương miền núi phía Bắc - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA XÃ HỘI HỌC
**********

LÊ VĂN SƠN

VAI TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ
TRONG HỖ TRỢ KỸ THUẬT, TĂNG CƯỜNG
NĂNG LỰC CHO NGƯỜI DÂN VÀ ĐỐI TÁC
ĐỊA PHƯƠNG MIỀN NÚI PHÍA BẮC
(Nghiên cứu trường hợp Huyện Si Ma Cai, Tỉnh Lào Cai)
LUẬN VĂN THẠC SỸ


VAI TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ
TRONG HỖ TRỢ KỸ THUẬT, TĂNG CƯỜNG
NĂNG LỰC CHO NGƯỜI DÂN VÀ ĐỐI TÁC
ĐỊA PHƯƠNG MIỀN NÚI PHÍA BẮC
(Nghiên cứu trường hợp Huyện Si Ma Cai, Tỉnh Lào Cai)

LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH : XÃ HỘI HỌC
MÃ SỐ : 50109
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: TS. HOÀNG BÁ THỊNH

HÀ NỘI – 2005

Luận văn Thạc sĩ Lê Văn Sơn


3. Cơ sở lý luận của đề tài
32
3.1. Phương pháp luận
32
3.2. Lý thuyết xã hội học
33
3.2.1. Lý thuyết cấu trúc-chức năng
33
3.2.2. Lý thuyết vai trò xã hội
36
3.2.3. Lý thuyết vốn con người/vốn xã hội
36
3.2.4. Lý thuyết phát triển cộng đồng
39
4. Giả thuyết nghiên cứu
41
5. Khung lý thuyết
41
Chƣơng 2: Vài nét tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam và về địa bàn nghiên cứu và
45
1. Vài nét về Tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam
45
1.1. Lịch sử hình thành các Tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam
45
1.1.1. Tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam
45
1.1.2. Các hội, tổ chức quần chúng và tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam
46
1.2. Đóng góp của các Tổ chức phi chính phủ cho Việt Nam
48

2.1.1. Hỗ trợ nâng cao khả năng chuyên môn
71
2.1.2. Hỗ trợ nâng cao khả năng lập kế hoạch và triển khai dự án
72
2.1.3. Hỗ trợ nâng cao khả năng quản lý, theo dõi giám sát và đánh giá
100
3. Kết quả từ những hỗ trợ kỹ thuật và tăng cường năng lực của các TCPCP
105
3.1. Góp phần tạo ra những thay đổi cho địa phương
105
3.2. Góp phần nâng cao năng lực cho người dân và đối tác địa phương
122
3.3. Tạo cơ hội tham gia cho người dân
127
4. Khó khăn trong quá trình xây dựng năng lực và hỗ trơ kỹ thuật
132
4.1. Sự khác biệt về nhu cầu nâng cao năng lực
132
4.2. Sự thay đổi của đối tượng tham gia tập huấn
134
4.3. Phương pháp tập huấn
135
4.4. Giáo trình và tài liệu giảng dạy
136
4.5. Sử dụng giảng viên từ bên ngoài
137
4.6. Những khó khăn khác.
139
5. Xu hướng hỗ trợ của các TCPCP
140

UBND Uỷ ban nhân dân
UNDP Chương trình phát triển Liên hiệp Quốc
UNICEF Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc
VNGO Tổ chức phi chính phủ Việt Nam
WB Ngân hàng thế giới MỞ ĐẦU
1. LÝ DO TIẾN HÀNH NGHIÊN CỨU
Luận văn Thạc sĩ Lê Văn Sơn

4
Việt Nam đang chuyển sang thời kỳ phát triển mới – thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nhằm tiến tới mục tiêu xây dựng xã hội
chủ nghĩa. Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội trong 10 năm tới (2001- 2010)
là “…Đưa nước ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống
vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng đến năm 2020, nước ta cơ bản
trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại…”[13; 89]. Để đạt được
mục tiêu này, ngoài nỗ lực của Nhà nước, Chính phủ, cần có nỗ lực đóng của các
tổ chức phi chính phủ (TCPCP).
Trong những năm qua Đảng và Nhà nước luôn luôn quan tâm, khuyến
khích khả năng tự chủ, tự lực và sự tham gia đóng góp của mọi công dân và tổ
chức trong nước. Đồng thời, tích cực mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế nhằm thu
hút sự hỗ trợ của các nước trên thế giới, trong đó có các TCPCP nước ngoài. Báo

nhiều địa phương và cơ sở, nhất là cơ sở nghèo”[9; 1].
Bên cạnh đó, hoạt động của các TCPCP đang có xu hướng chuyển từ hình
thức hoạt động mang tính nhân đạo, từ thiện, viện trợ khẩn cấp sang hình thức hỗ
trợ các chương trình/dự án phát triển bền vững, dài hạn, phù hợp với định hướng
phát triển kinh tế xã hội, chương trình xoá đói giảm nghèo của Chính phủ Việt
Nam. Đặc biệt, trong các chương trình/ dự án các TCPCP rất chú trọng tới công
tác hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo, nâng cao năng lực cho người nghèo và cán bộ địa
phương, cũng như các TCPCP địa phương (LNGO). Quan hệ đối tác giữa các
TCPCP nước ngoài, chính quyền các cấp và nhân dân trong vùng dự án đã được
hình thành và từng bước củng cố theo trục Chính quyền – Nhân dân vùng hưởng
lợi – Tổ chức phi chính phủ. Mối quan hệ đối tác này cho phép sử dụng thế mạnh
của các bên trong quá trình triển khai dự án bằng việc kết hợp giữa nguồn lực
của các TCPCP với nguồn lực của địa phương [3;15].
Sự hình thành và phát triển mạnh mẽ của các TCPCP đang trở thành mối
quan tâm của các nhà quản lý, nhà nghiên cứu, nhà hoạch định chính sách và từ
chính các TCPCP ở Việt Nam. Mối quan tâm đó không chỉ dừng lại ở phạm vi lý
luận mà cả ở những vấn đề mang tính thực tiễn. Các mối quan tâm tập trung vào
bản chất của khu vực xã hội dân sự nói chung và các TCPCP nói riêng; Vị trí, vai
trò của TCPCP và làm thế nào để phát huy vai trò của các TCPCP, đặc biệt là
trong việc Hỗ trợ kỹ thuật (HTKT) và tăng cường năng lực (TCNL) cho người
dân và đối tác địa phương, góp phần thực hiện thành công mục tiêu phát triển đất
nước.
Luận văn Thạc sĩ Lê Văn Sơn

6
Thực tế này đang đặt ra yêu cầu cấp bách trong việc nghiên cứu về khu
vực phi chính phủ ở nước ta. Do vậy, việc tiến hành nghiên cứu “Vai trò của các
Tổ chức phi chính phủ trong việc hỗ trợ kỹ thuật, tăng cường năng lực cho người
dân và đối tác địa phương miền núi phía Bắc, nghiên cứu trường hợp Huyện Si
Ma Cai, tỉnh Lào Cai” vừa mang ý nghĩa lý luận vừa mang ý nghĩa thực tiễn

thời gian tới.
 Đề xuất kiến nghị nhằm phát huy hiệu quả vai trò của các TCPCP trong
việc hỗ trợ kỹ thuật và tăng cường năng lực cho người dân và đối tác địa
phương, tại huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai.
3. ĐỐI TƢỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng của nghiên cứu là vai trò của các tổ chức phi chính phủ trong
việc Hỗ trợ kỹ thuật và tăng cường năng lực cho người dân và đối tác địa phương
miền núi phía Bắc.
3.2. Khách thể nghiên cứu
 TCPCP quốc tế (INGO): là những tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, tự
nguyện có nguồn gốc từ nước ngoài, có tôn chỉ, mục đích hoạt động rõ
ràng, đã được Chính phủ Việt Nam cấp giấy phép hoạt động tại Việt Nam
và hiện đang hỗ trợ các dự án phát triển.
 TCPCP Việt Nam (VNGO): là những tổ chức, đơn vị khoa học do cá nhân
hoặc tập thể người Việt Nam lập ra, trên tinh thần tự nguyện, tự quản, phi
lợi nhuận, được Chính phủ Việt Nam cấp giấy phép hoạt động và hiện
đang tiến hành hỗ trợ các dự án phát triển hoặc ứng dụng khoa học công
nghệ tại Việt Nam.
4. GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1. Giới hạn về không gian
Nghiên cứu về Vai trò của TCPCP trong việc HTKT và TCNL cho người
dân và đối tác địa phương miền núi phía Bắc, nhưng nghiên cứu trường hợp
huyện tại huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai. Địa điểm triển khai nghiên cứu này
được thực hiện tại 4 xã (Lùng Sui, Bản Mế, Sín Chéng và Quan Thần Sán) của
huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai.
Tuy nhiên, nghiên cứu sẽ sử dụng một số thông tin, dữ liệu của một số
tỉnh khác (trong khu vực các tỉnh Miền núi phí Bắc) để dẫn chứng và so sánh
thêm cho những giả thuyết đã đưa ra, làm nổi bật vấn đề nghiên cứu.


ương và địa phương (Nhưng có bao gồm các Trung tâm, Viện, Đơn vị khoa học
do được thành lập trên tinh thần tự nguyện và phi lợi nhuận, được các cơ quan
này cấp phép hoạt động); Các tổ chức công đoàn, Trung tâm bảo trợ xã hội, các
Quỹ…
Luận văn Thạc sĩ Lê Văn Sơn

9

5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1. Phƣơng pháp thảo luận nhóm
Đã tiến hành 05 cuộc thảo luận nhóm với:
 04 nhóm người dân hưởng lợi (trung bình mỗi nhóm có 5 người).
 01 nhóm cán bộ dự án của các TCPCP quốc tế (gồm 5 người).
 01 nhóm cán bộ huyện tham gia dự án (gồm 6 người).
Các thảo luận nhóm tập trung đánh giá những đóng góp của các TCPCP
trong công tác xây dựng năng lực cho người dân và cán bộ đối tác địa phương
khi tham gia dự án cũng như khó khăn, vướng mắc trong công tác xây dựng năng
lực; Các đề xuất, kiến nghị nhằm phát huy hơn nữa vai trò của TCPCP trong
tăng cường năng lực và hỗ trợ kỹ thuật.
5.2. Phƣơng pháp phỏng vấn sâu
Đã tiến hành 21 cuộc phỏng vấn sâu đối với:
 01 Cán bộ Sở Ngoại vụ tỉnh Lào Cai, phụ trách hoạt động các TCPCP
trên địa bàn tỉnh;
 04 cán bộ huyện Si Ma Cai đại diện cho cơ quan đối tác Huyện tham
gia dự án (Trung tâm y tế huyện, Trạm thú y huyện, Hội phụ nữ
huyện, Phòng giáo dục huyện);
 04 cán bộ xã đại diện các xã triển khai dự án (Bản Mế, Lùng Sui, Sín
Chéng và Quan Thần Sán);
 08 người dân hưởng lợi từ dự án (chọn từ 4 thôn của 4 xã triển khai dự
án);

và 97 phụ nữ (chiếm 52.4%).
 Trình độ học vấn: Trong số 185 người hưởng lợi được hỏi, có 17 người
hiện không biết đọc biết viết (chiếm 9.2%); 53 người có trình độ xoá mù
(chiếm 28.6%); có 51 người có trình độ tiểu học (chiếm 27.6%); có 25
người có trình độ Trung học cơ sở (chiếm 13.5%); có 13 người có trình độ
Trung học phổ thông (chiếm 7.0%); có 18 người có trình độ trung cấp
(chiếm 9.7%) và 8 người có trình độ cao đẳng, đại học (chiếm 4.3%).
 Nghề nghiệp: Trong số 185 người hưởng lợi được hỏi thì có 95 người là
nông dân (chiếm 51.4%); 14 người là cán bộ thôn (chiếm 7.6%); 34 người
là giáo viên (chiếm 18.4%); 18 người là cán bộ xã (chiếm 9.7%); có 3
người là cán bộ huyện (chiếm 1.6%) và có 21 người hưởng lợi người khác
(cán bộ y tế, Trẻ em), chiếm 11.4%.
Luận văn Thạc sĩ Lê Văn Sơn

11
 Số thế hệ trong gia đình: Trong số 185 người hưởng lợi được hỏi, có 5
người thuộc gia đình có 1 thế hệ (chiếm 2.7%); có 113 người thuộc gia đình
có 2 thế hệ (chiếm 61.1%); có 65 người thuộc gia đình có 3 thế hệ (chiếm
35.1%) và 2 người thuộc gia đình có 4 thế hệ (chiếm 0.5%).
Các bảng hỏi phỏng vấn được kiểm tra (phỏng vấn thử) trước khi phỏng
vấn chính thức. Sau khi phỏng vấn xong, các bảng hỏi được làm sạch và xử lý
bằng phần mềm SPSS.
5.4. Phƣơng pháp quan sát
Đã tiến hành quan sát trực tiếp đối với:
 Các mô hình thí điểm: nhà tắm cộng đồng, vườn thuốc nam, trồng thảo
quả, bể nước sạch, nhà vệ sinh cộng đồng, vườn rau dinh dưỡng, thùng
rác hộ gia đình.
 Quan sát tham dự 02 lớp tập huấn: 01 lớp tập huấn cộng tác y tế thôn
bản và 01 cuộc họp thường kỳ nhóm tiết kiệm tín dụng.
Các mô hình được quan sát đều được chụp ảnh để sử dụng minh hoạ trong

với khu vực khác (nhà nước và thị trường); tìm hiểu những đóng góp của khu
vực xã hội dân sự nói chung và TCPCP nói riêng đối với xã hội.
Thuật ngữ “khu vực thứ ba” được dùng như một từ đồng nghĩa với khu
vực “xã hội dân sự” trên thế giới từ nhiều năm trở lợi đây. Sự thành công và
những thất bại của khu vực này đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu
và những nhà thực hiện can thiệp, trong đó có Hiệp hội nghiên cứu về các
TCPCP và hoạt động tình nguyện (ARNOVA), ở Mỹ. Hiệp hội này đã tiến hành
rất nhiều nghiên cứu về “khu vực thứ ba” và cũng đã dùng thuật ngữ “khu vực
thứ ba” đề chỉ những hoạt động mang tính tập thể của các tổ chức không thuộc
khu vực nhà nước và thị trường ở Mỹ, đó là những tổ chức phi lợi nhuận (NPOs)
như: những nhóm chính trị, liên đoàn lao động, trường học, bệnh viện, nhóm
hoạt động, hiệp hội…[ 91; 75]
Việc sử dụng thuật ngữ „khu vực thứ ba” đã trở nên phổ biến đến mức mà
đôi khi người ta dùng luôn thuật ngữ này để ám chỉ khu vực các tổ chức phi lợi
nhuận. Nhưng một câu hỏi luôn được đặt ra và nó đã gây ảnh hưởng đối với hoạt
động của các TCPCP đó là các tổ chức này có vị trí như thế nào trong mối quan
hệ với “xã hội dân sự”; “khu vực thứ ba” hay “ khu vực các tổ chức phi lợi
nhuận”? Điều đó dẫn đến một thực tế là nhiều người đã vội vàng cho rằng “các
tổ chức phi chính phủ” chính là “xã hội dân sự” và cố gắng cải thiện nó thông
qua các hoạt động giản đơn, trong khi đó “xã hội dân sự” lại có một lịch sử gắn
Luận văn Thạc sĩ Lê Văn Sơn

13
liền với lịch sử đấu tranh đòi quyền công dân tại các nước Tây Âu và Nam Mỹ.
Thực tế này khiến các Viện nghiên cứu; Các tổ chức giáo dục và các Trung tâm
nghiên cứu về tổ chức phi lợi nhuận ở Mỹ tiến hành rất nhiều nghiên cứu về các
tổ chức phi lợi nhuận để lý giải về “xã hội dân sự”, bằng việc phân tích mối quan
hệ giữa các TCPCP với “xã hội dân sự”; “các tổ chức phi lợi nhuận” và “khu vực
thứ ba”. Những phát hiện từ các nghiên cứu này đã có ảnh hưởng lớn tới các
quốc gia khác trên thế giới [89;76].

chủ trong xã hội quá độ” (Nguyên bản tiếng Anh: NGOs, Civil Society and the
State: Building democracy in transitional societies), của tác giả Clayton và
Andrew, năm 1996. [89,92]
“Nhằm cân bằng: hướng dẫn cải thiện hiệu quả hoạt động của các tổ
chức phi chính phủ trong phát triển quốc tế” (Nguyên bản tiếng Anh: Striking a
Balance a guide to enhancing the effectiveness of Non-govermental
organizations in international development) của tác giả Alan Fowler, tại Luôn
Đôn, năm 1997.
“ Sự gia tăng của các tổ chức phi chính phủ – hướng về một lý thuyết so
sánh” (Nguyên bản tiếng Anh: The Rise of Non-govermental organizations –
towards a comparative theory) của các tác giả Anheier; Helmut K và Lester M.
Salamon, Hiệp hội Xã hội học Mỹ, Chicago, năm 1999 [89;92].
Tại Việt Nam, khu vực xã hội dân sự nói chung và các tổ chức phi chính
phủ nói riêng cũng đã được xem xét nghiên cứu dưới cả góc độ lý luận và thực
tiễn. Các nghiên cứu này cũng tập trung tìm hiểu về lịch sử hình thành và bản
chất của khu vực xã hội dân sự nói chung và các TCPCP nói riêng (kể cả tổ chức
phi chính phủ quốc tế và tổ chức phi chính phủ trong nước), cũng như vị trí và
vai trò của nó trong xã hội, cũng như những đóng góp của các tổ chức này trong
tiến trình phát triển của Việt Nam. Những vấn đề này được thể hiện trong một số
nghiên cứu chính sau đây:
Nghiên cứu về “Các Tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam” do Ngân hàng
phát triển châu Á (ADB) thực hiện cũng đã đưa ra những phân loại về các tổ
chức phi chính phủ ở Việt Nam và những đặc trưng về cấu trúc, kinh phí hoạt
động và định hướng hoạt động của từng loại hình tổ chức.
Nghiên cứu “ Tổ chức và hoạt động phi chính phủ nước ngoài ở Việt
Nam” do tác giả Nguyễn Văn Thanh, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam
chủ trì. Nghiên cứu đã đưa ra nhưng nét khai quát về lịch sử hình thành, các loại
hình hoạt động và đóng góp của TCPCP nước ngoài tại Việt Nam.
Luận văn Thạc sĩ Lê Văn Sơn


của các tổ chức phi chính phủ địa phương (hay còn gọi là tổ chức phi chính phủ
Việt Nam) và phân tích mối quan hệ của các TCPCP với các tổ chức khác trong
Luận văn Thạc sĩ Lê Văn Sơn

16
Nhà nước và vai trò, tác dụng của các Tổ chức phi chính phủ địa phương trong
đời sống chính trị, kinh tế xã hội của Việt Nam hiện nay. Đồng thời nghiên cứu
cũng đưa ra những ý kiến đóng góp nhằm phát huy vai trò của các tổ chức phi
chính phủ địa phương.
Nghiên cứu: “Đảng cộng sản Việt Nam và xã hội dân sự” do tác giả David
Marr thực hiện. Nghiên cứu này đã đưa ra một số phát hiện cơ bản về lịch sử ra
đời của Đảng cộng sản Việt Nam và mối quan hệ giữa Đảng cộng sản Việt Nam
và các tổ chức xã hội dân sự.
Nghiên cứu “Sự hình thành xã hội dân sự - Điểm nổi bặt của các TCPCP
ở Việt Nam” do tác giả Michael L. Gray, Trường nghiên cứu Phương đông và
Châu phi, tiến hành năm 1996. Nghiên cứu này chỉ ra điểm nổi bật của các
TCPCP ở Việt Nam và sự phát triển của nó trong khu vực xã hội dân sự ở Việt
Nam.
Ngoài ra còn rất nhiều nghiên cứu khác, mà trong khuôn khổ đề tài này
không thể liệt kê hết được.
Tóm lại, các tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam nói riêng và khu vực xã
hội dân sự ở Việt Nam nói chung đã trở thành đề tài tâm đặc biệt của nhiều nhà
nghiên cứu, nhà hoạch định chính sách, những nhà quản lý. Có rất nhiều nghiên
cứu về TCPCP đã thực hiện và tìm hiểu dưới nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau
như đã phân tích ở trên. Song các nghiên cứu về vai trò của các tổ chức phi chính
phủ trong hỗ trợ kỹ thuật và tăng cường năng lực cho người dân và đối tác địa
phương dường như là đề tài chưa được nhiều nghiên cứu quan tâm. Chính vì thế
điểm mới và cũng là đóng góp của nghiên cứu này chính là việc phân tích và làm
rõ vai trò của các tổ chức phi chính phủ trong việc hỗ trợ kỹ thuật và tăng cường
năng lực cho người dân và đối tác địa phương, nghiên cứu trường hợp huyện SI

những quan điểm của người khác. Quan điểm này được dựa trên một hệ thống
giá trị của cộng đồng.
Khi nói đến vai trò xã hội của một cá nhân hay tổ chức chính là nói đến
những đòi hỏi của xã hội đặt ra với các địa vị xã hội mà cá nhân hay tổ chức đó
đang nắm giữ. Những đòi hỏi đặt ra căn cứ vào chuẩn mực xã hội. Trong mỗi xã
hội khác nhau, thì chuẩn mực xã hội cũng khác nhau. Vì thế, một cá nhân hay tổ
chức có thể có cùng một địa vị nhưng khi đặt họ vào những xã hội khác nhau thì
họ phải thực hiện những mô hình hành vi mà xã hội trông đợi khác nhau do
chuẩn mực xã hội rất khác nhau.
Luận văn Thạc sĩ Lê Văn Sơn

18
Để cá nhân hay tổ chức có thể thực hiện tốt vai trò của mình thì chuẩn
mực do xã hội đề ra phải rõ ràng. Mặt khác, cá nhân hay tổ chức đó phải học hỏi
về các vai trò trong quá trình xã hội hoá (tức là phải học hỏi về những yêu cầu,
đòi hỏi mà họ cần phải thực hiện khi họ tiếp nhận một vị thế xã hội nhất định).
Nhưng không phải lúc nào những mong đợi của xã hội và việc thực hiện vai trò
của cá nhân hay tổ chức cũng phù hợp với nhau. Sự chênh lệch đó chính là
nguyên nhân tiềm ẩn của những xung đột về vai trò.
Mỗi cá nhân có một loạt vai trò tương ứng với những “hình mẫu xã hội”
khác nhau mà họ tham dự, tạo thành một tập hợp vai trò. Trong tiến trình của
cuộc đời, mỗi cá nhân sẽ lần lượt hay đồng thời thực hiện một số vai trò xã hội
khác và tổng hợp tất cả các vai trò mà cá nhân đó đã thực hiện từ khi sinh cho
đến lúc chết tạo thành nhân cách xã hội của cá nhân đó.
Khi một cá nhân hay tổ chức mang nhiều vị thế xã hội thì sẽ phải thực
hiện nhiều vai trò. Tuy vậy, cá nhân hay tổ chức không thể nhầm lẫn trong việc
thực hiện vai trò tương ứng với vị thế xã hội của mình ở từng thời điểm. Khi cá
nhân hay tổ chức tham gia nhiều nhóm xã hội khác nhau họ phải đáp ứng những
mong đợi của những nhóm đó. Khi các cá nhân nhận thấy những trông đợi của
một vai trò không thích hợp và họ gặp khó khăn trong việc thực hiện vai trò đó
Đặc trưng của các nước phương Nam Đặc trưng của các nước phương Bắc

(Phỏng theo: Alan Fowler (1997) , Nhằm cân bằng, London: Earthscan/INTRAC)

Khu vực
chính phủ
Khu vực
Dân sự Khu vực
thị trường


không có thuật ngữ thống nhất mang tính pháp lý, mỗi nước có thể sử dụng khác
nhau, tuỳ theo tính chất cần nhấn mạnh. Người Pháp dùng Associasion de
Solidarité Internationale, người Anh dùng Public Charities, người Nhật dùng
Koeki Hojin và người Đức dùng Vereine, với nghĩa đơn giản là “hiệp hội”, người
Mỹ gọi là tổ chức phi vụ lợi, không vì lợi nhuận hay Tổ chức được miễn trừ
(EO) và Các tổ chức tình nguyện tư nhân (PO). Còn Tổ chức toàn cầu khuyến
khích sự tham gia của dân chúng (CIVICUS ) lại gọi là Tổ chức xã hội dân sự
(CSO). Cho đến nay, chưa có một thuật ngữ nào thay thế được thuật ngữ quen
dùng nhất là “Tổ chức phi chính phủ”.
Theo cách hiểu chung nhất, TCPCP bao hàm một loạt các tổ chức khác
nhau tuỳ thuộc vào mục đích, tôn chỉ, lĩnh vực chuyên môn và quy mô hoạt
động. TCPCP có thể là những tổ chức rất lớn như CARE hay Plan International,
hoạt động trên phạm vi nhiều nước hay cũng có thể chỉ là một nhóm dựa vào
Luận văn Thạc sĩ Lê Văn Sơn

21
cộng đồng hay tổ chức cộng đồng (CBOs), hoạt động trong một khu vực địa lý
hẹp (thôn, xã).[57;22]
Thuật ngữ “Tổ chức phi chính phủ” được nhắc đến lần đầu tiên trong Điều
71 của Hiến chương liên hiệp quốc năm 1949, khi Liên hiệp quốc (UN) tiến hành
nhóm tất cả các tổ chức làm về phát triển vào một tên gọi chung là “tổ chức phi
chính phủ”. Điều 71 của Hiến chương đã đề cập: “Hội đồng kinh tế xã hội, trong
khả năng cho phép của mình, có thể tiến hành thảo luận với các TCPCP về các
vấn đề quan tâm. Sự thảo luận này cũng có thể tiến hành với các tổ chức quốc tế
và các tổ chức quốc gia sau khi bàn bạc với các quốc gia thành viên của Liên
hiệp quốc quan tâm”[38; 902]. Kể từ đó, thuật ngữ này đã đạt được vị thế hợp
pháp trong lĩnh vực phát triển quốc tế thông qua những nguyên tắc, tiêu chuẩn,
luật lệ và quá trình ra quyết định đối với phát triển quốc tế.
Cùng vào thời điểm năm 1949, khi tổng thống Mỹ Harry S. Truman, trong
bài diễn văn khai mạc, đã sử dụng thuật ngữ “khu vực chưa phát triển” để nói

Ở Việt Nam, thuât ngữ tổ chức phi chính phủ mới được sử dụng lần đầu
tiên trong Luật tổ chức Chính phủ năm 1992, trong đó quy định “Thủ tướng
Chính phủ cho phép thành lập và quản lý việc tuân theo pháp luật của các Hội,
các TCPCP”[41], sau đó là trong Luật hợp tác xã năm 1996 và một số văn bản
pháp qui gần đây, đặc biệt là từ sau Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, thuật
ngữ tổ chức phi chính phủ được sử dụng rộng rãi hơn ở Việt Nam.
Khi nói đến TCPCP ở Việt Nam. Các nhà nghiên cứu và những người làm
trong khu vực phi chính phủ có ý kiến tương đối thống nhất về TCPCP là tổ
chức được tập hợp một cách tự nguyện bởi những cá nhân, tự trang trải tài chính
và không thuộc Nhà nước hoặc hoạt động tương đối độc lập với Nhà nước
[18;17]. Trong các cuộc hội thảo khoa học, nhiều nhà khoa học, nhà quản lý
đưa ý kiến thống nhất một số đặc điểm của các TCPCP như sau:
 Mang tính độc lập tương đối với chính phủ tức là ít hoặc rất ít phụ
thuộc vào chính phủ;
 Được cơ quan có thẩm quyền cho phép thành lập hoặc có sự quản lý
của nhà nước (hay có tính pháp nhân);
 Được lập ra do sự tự nguyện của nhân dân;
 Hoạt động phi lợi nhuận trong khuôn khổ pháp luật.
Từ đó những đặc điểm đó, các nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách và những
người làm trong lĩnh vực phát triển đã đưa ra quan niệm chung về TCPCP trong
nước như sau:
“Là tổ chức tự nguyện của nhân dân, có tư cách pháp nhân, cùng ngành,
cùng nghề, nhu cầu, giới…hoạt động một cách thường xuyên để thực hiện mục
Luận văn Thạc sĩ Lê Văn Sơn

23
tiêu chung, không vì mục tiêu phân chia lợi nhuận và hoạt động trong khuôn khổ
pháp luật Việt Nam”[15;13].
Khi nói đến TCPCP ở Việt Nam sẽ bao gồm một số loại hình tổ chức
phổ biến sau đây:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status