Vai trò của các tổ chức phi chính phủ trong quá trình hoạch định chính sách về công nghệ thân thiện môi trường ở việt nam - Pdf 41

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------

NGUYỄN THỊ QUỲNH TRANG

VAI TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ
TRONG QUÁ TRÌNH HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH VỀ
CÔNG NGHỆ THÂN THIỆN MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Hà Nội, 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------

NGUYỄN THỊ QUỲNH TRANG

VAI TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ
TRONG QUÁ TRÌNH HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH VỀ
CÔNG NGHỆ THÂN THIỆN MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
MÃ SỐ: 60.34.04.12

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Dinh

PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................... 1
1. Lý do nghiên cứu ........................................................................................... 1
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu ................................................................... 3
3. Mục tiêu nghiên cứu .................................................................................... 10
4. Phạm vi nghiên cứu ..................................................................................... 10
5. Mẫu khảo sát ............................................................................................... 10
6. Câu hỏi nghiên cứu ..................................................................................... 11
7. Giả thuyết nghiên cứu ................................................................................. 11
8. Phương pháp chứng minh giả thuyết .......................................................... 12
9. Kết cấu luận văn.......................................................................................... 12
PHẦN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ............................................................. 12
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ
TRONG QUÁ TRÌNH HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH CÔNG NGHỆ
THÂN THIỆN MÔI TRƯỜNG ..................................................................... 13
1.1. Các tổ chức phi chính phủ và phân loại .................................................. 13
1.1.1. Khái niệm tổ chức phi chính phủ .....................................................................13
1.1.2. Phân loại các tổ chức phi chính phủ ...............................................................15
1.2. Khái niệm chính sách, hoạch định chính sách......................................... 19
1.2.1. Khái niệm chính sách ........................................................................................19
1.2.2. Khái niệm hoạch định chính sách và các khái niệm liên quan ............. 20
1.3. Khái niệm môi trường, ô nhiễm môi trường và công nghệ thân thiện môi
trường .............................................................................................................. 23
1.3.1. Khái niệm môi trường, ô nhiễm môi trường ...................................................23
1.3.2. Khái niệm công nghệ thân thiện môi trường và các khái niệm liên quan....24
1.4. Sự cần thiết tham gia của các tổ chức phi chính phủ trong lĩnh vực công
nghệ thân thiện môi trường ............................................................................ 28
1.4.1. Các tổ chức phi chính phủ đóng vai trò trung gian giữa Nhà nước và
doanh nghiệp trong việc thực thi chính sách công nghệ thân thiện môi
trường..............................................................................................................27
1.4.2. Các tổ chức phi chính phủ tham gia tích cực vào các hoạt động chính

3.1.3. Tương lai hạn hẹp về nguồn tài chính …………………….………… 68
3.2. Khuyến nghị…………………………………………………….….……..…… 69
3.2. 1. Khuyến nghị cho các cơ quan Nhà nước ............................................ 69
3.2.2. Khuyến nghị về hoàn thiện quá trình tham gia của NGOstrong hoạch
định chính sách công nghệ thân thiện môi trường.......................................... 77
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................ 84


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do nghiên cứu
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, việc sử dụng các công nghệ thân thiện môi trường để đảm bảo
phát triển bền vững là một trong những chiến lược được nhiều quốc gia hướng tới,
trong đó có Việt Nam. Trước tình trạng biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường
ngày càng trở nên nghiêm trọng, các quốc gia đã nỗ lực không ngừng trong việc xây
dựng khung pháp lý nhằm tăng cường áp dụng công nghệ thân thiện môi trường với
các công cụ chính như luật pháp, chính sách công, các thỏa thuận môi trường đa
phương và các nguồn quỹ công để hoạt động. Trong Chương trình Môi trường Liên
Hiệp Quốc (UNEP) và Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) đã chỉ ra rằng “sẽ có rất
ít quốc gia chọn một công nghệ đắt tiền hơn nếu như lợi ích duy nhất mà công nghệ
đó mang lại là phòng tránh những hiệu ứng xấu có thể có đối với sự thay đổi khí
hậu. Mặc dù vậy, công nghệ đó có thể mang lại cho ta lợi ích có liên quan, ví dụ
như giảm thiểu ô nhiễm không khí và nguồn nước”1. Những lợi ích này thường khó
hoặc không thể kiểm chứng ngay được nhưng các công nghệ này sẽ giúp đảm bảo
những mục tiêu phát triển bền vững, phục vụ lợi ích của cả cộng đồng, của toàn xã
hội. Do đó sử dụng công nghệ thân thiện môi trường, nhằm hướng tới một môi
trường sạch và phát triển bền vững không chỉ là vấn đề của tổ chức, quốc gia mà
còn ở phạm vi quốc tế.
Đổi mới công nghệ theo hướng áp dụng công nghệ thân thiện môi trường là

cũng đang gặp không ít những khó khăn do chưa có những văn bản pháp lý quy
định cụ thể về vấn đề này.
Xuất phát từ những phân tích trên, tác giả lựa chọn đề tài về “Vai trò của các
tổ chức phi chính phủ trong quá trình hoạch định chính sách về công nghệ thân
thiện môi trường ở Việt Nam” để làm luận văn thạc sĩ.
1.2. Ý nghĩa lý thuyết của nghiên cứu
Luận văn sẽ phân tích vai trò của NGOs với quá trình tham gia hoạch định
chính sách về sử dụng công nghệ thân thiện với môi trường, những thuận lợi và khó
khăn đối với NGOs trong quá trình hoạch định chính sách công nghệ thân thiện môi
trường.
1.3. Ý nghĩa thực tế của nghiên cứu
Từ việc phân tích vai trò của NGOs trong quá trình hoạch định chính sách,
đề xuất các khuyến nghị nhằm củng cố hơn nữa sự đóng góp của loại hình tổ chức

2


này vào quá trình hoạch định chính sách công nghệ thân thiện môi trường ở Việt
Nam.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Hiện nay có rất nhiều các nghiên cứu được công bố phân tích sự tham gia và
đóng góp của NGOs với quá trình phát triển của các quốc gia:
Năm 1992, trong tác phẩm Role of Non-Governmental Organizations in the
Development of International Environmental Law, Dan Tarlock đã phân tích vai trò
của NGOs trong việc phát triển của Luật Môi trường Quốc tế.
Năm 1993, Wellard, K., & Copestake, J. G. và các cộng sự trong tác phẩm
NGOs and the state in Africa: Rethinking roles in sustainable agricultural
development đã tập trung phân tích các vai trò của NGOs trong phát triển nông
nghiệp bền vững tại Châu Phi – một trong những châu lục phải đối mặt với những

Cùng năm, Sundar Vadaon trong nghiên cứu Role of NGO’s in Environmental
Conservation and Development nhấn mạnh về đối thoại và phát triển môi trường
trong đó nhấn mạnh tính chất “phi chính phủ” giúp NGOs thể hiện vai trò tiên
phong, chủ động đối thoại với Chính phủ và các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư
pháp về các vấn đề môi trường và chính sách môi trường tại các quốc gia.
Năm 2012, Nalirupa trong nghiên cứu A study on Non-Governmental
Organization’s (NGO’s) in Protecting The Environment, nhận diện vai trò của
NGOs trong bảo vệ môi trường với các nghiên cứu trường hợp tại một số quốc gia.
Đây cũng là nghiên cứu tiếp cận trực tiếp về các hoạt động và đóng góp của NGOs
trong bảo vệ môi trường.
Năm 2013, Rajamanickam Srinivasan trong tác phẩm In a developing
country, what role can non governmental organisations (NGOs) play in obtaining
good governance?, tác giả có cách nhìn nhận chi tiết và cụ thể về vai trò của NGOs
tại các quốc gia đang phát triển trong quản trị quốc gia.
Gần đây nhất, năm 2016, M. Loganathan trong nghiên cứu Role of NGO’s in
Protecting Environment and Health đã tập trung phân tích vai trò của NGOs trong
tiếp cận về bảo vệ môi trường và ảnh hướng tới sức khỏe của cộng đồng.

4


Đáng chú ý là hai bài viết liên quan đến sự tham gia của NGO trong quá
trình hoạch định chính sách công nghệ thân thiện môi trường như sau:
Joachim H Spangenberg với bài viết The role of NGO’s in the German
Environmental Policy: Past and Present perspectives of environmental NGO’s mô
tả vai trò đang thay đổi của NGOs trong các quy trình chính sách tại Đức, được
minh họa bằng vận động của môi trường. Từ việc bảo tồn thiên nhiên phi chính trị
đến việc ngăn chặn sự mở rộng, hiếm khi đòi đóng cửa các nhà máy mà thường là
thi hành các biện pháp xử lý chất thải và/ hoặc tăng cường giám sát việc sản xuất tại
các nhà máy, nỗ lực khiến giới chính trị nhìn nhận vấn đề môi trường một cách

về thực hiện các hoạt động nhân đạo, cứu trợ và phát triển. Song nghiên cứu còn
hạn chế bởi ở giai đoạn này hành lang pháp lý về NGOs còn chưa thực sự được
nhận diện một cách cụ thể.
Năm 2008, nhóm chuyên gia của Viện nghiên cứu xã hội, kinh tế và môi
trường đã phân tích cụ thể vai trò của các NGO Việt Nam (VNGOs) trong tác phẩm
Vài nét về các tổ chức VNGO hoạt động trong lĩnh vực phát triển nông thôn. Năm
2010, nhóm chuyên gia của Trung tâm hợp tác phát triển nguồn nhân lực tập trung
phân tích về vai trò của XHDS, mà tổ chức NGO đóng vai trò nòng cốt, trong công
tác xóa đói giảm nghèo trong tác phẩm Xã hội dân sự và những mô hình thành
công trong xóa đói giảm nghèo với sự tham gia, giám sát của người dân, trong đó
có đề cập tới vai trò của NGOs.
Trong công trình nghiên cứu “Vai trò quản lý nhà nước đối với các hoạt
động của NGOs ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn” (NXB Chính trị Quốc Gia, Hà
Nội, 2008) của Nguyễn Xuân Thiêm đã đề cập một cách khá toàn diện về mặt lý
luận và thực tiễn về khái niệm, đặc điểm, nội dung quản lý nhà nước (QLNN) đối
với NGOs từ năm 1986 đến 2008. Đặc biệt, công trình nghiên cứu này đã đi sâu
phân tích những đặc điểm khác biệt giữa cơ chế QLNN đối với NGOs trong nước
và NGOs nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam. Trên cơ sở đó, công trình
nghiên cứu đã nêu ra những mặt đạt được cũng như những vấn đề hạn chế, tồn tại,
nguyên nhân của các mặt bất cập của các cơ chế, chính sách, đồng thời đưa ra các

6


nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả, hiệu lực QLNN đối với
NGOs ở Việt Nam trong những năm tiếp theo.
Năm 2009, Đỗ Sơn Hà với công trình nghiên cứu “Thực trạng và giải pháp
về tổ chức, hoạt động và quản lý hội, tổ chức phi chính phủ Việt Nam trong thời kỳ
đổi mới”đã đưa ra khái niệm NGOs, vai trò của NGOs trong đời sống xã hội Việt
Nam và đời sống chính trị quốc tế, thực trạng QLNN đối với NGOs song chưa đề

của NGOs, trong Kỷ yếu tọa đàm Môi trường pháp lý thuận lợi cho hội và các tổ
chức phi chính phủ đóng góp xây dựng đất nước đề cập đến vai trò của NGOs, môi
trường phát triển, đặc biệt phân tích những rào cản về hành lang pháp lý quy định
về phạm vi hoạt động của NGOs tại Việt Nam trong nghiên cứu so sánh với các
quốc gia khác.
Ngoài ra, các tài liệu khác như luận văn “Hoạt động của NGOs nước ngoài ở
Việt Nam giai đoạn 1996 – 2006” của Chử Thị Thu Hà cũng đề cập một cách tổng
quan về lịch sử hoạt động của NGOs ở Việt Nam trong một giai đoạn nhất định,
Luận án Tiến sỹ “Huy động nguồn lực phi chính phủ quốc tế trong phát triển kinh tế
- xã hội ở một số nước Châu Á đang phát triển” của Nguyễn Song Bình… các đề tài
này chủ yếu nghiên cứu trên tiếp cận quản lý kinh tế về sự cần thiết thiết lập quan
hệ với NGOs trong huy động nguồn lực phát triển quốc gia.
2.2.2. Các đề tài, nghiên cứu liên quan đến vai trò của NGOs với lĩnh vực bảo vệ
môi trường và tham gia quá trình hoạch định chính sách về công nghệ thân thiện
môi trường
Trong đề tài, “Luận cứ khoa học của việc xác lập và hoàn thiện cơ chế, chính
sách khuyến khích hội và NGOs tham gia bảo vệ môi trường (BVMT)”, Nguyễn
Ngọc Lâm đã luận giải vấn đề về hội và NGOs nói chung trong việc tham gia hoạch
định chính sách về Bảo vệ môi trường (BVMT) tại Việt Nam.
Năm 2009, Trung tâm nghiên cứu và phân tích chính sách (nay là Viện
Chính sách và Quản lý, Trường ĐHKHXH&NV Hà Nội) đã xuất bản Kỷ yếu hội
thảo quốc tế về Vai trò của công dân trong quá trình hoạch định chính sách, Nhà
xuất bản Lao động, Hà Nội và đến năm 2011, tiếp tục xuất bản kỷ yếu về Sự đóng
góp của các tổ chức chính trị-xã hội trong quá trình hoạch định chính sách ở Việt
Nam, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội. Trong đó, một số học giả cho rằng NGOs là
một bộ phận của XHDS có vai trò quan trọng trong quá trình hoạch định chính sách

8



9


môi trường nghiêm trọng. Vai trò của NGO với tư cách là một tác nhân trung gian
phục vụ lợi ích cộng đồng và có sức ảnh hưởng với các nhóm xã hội lại càng quan
trọng và cần thiết.
Chính vì vậy, học viên mong muốn qua việc thực hiện đề tài luận văn có thể
xác định và củng cố vai trò của NGOs trong quá trình hoạch định chính sách công
nghệ thân thiện môi trường nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững của Việt
Nam.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Phân tích vai trò của NGOs với việc hoạch định chính sách công nghệ thân
thiện môi trường ở Việt Nam; đề xuất các khuyến nghị tăng cường điều kiện để
NGOs tham gia hoạch định chính sách công nghệ thân thiện môi trường ở Việt
Nam.
4. Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn phạm vi về nội dung: vai trò của NGOs trong quá trình hoạch định
chính sách công nghệ thân thiện môi trường .
- Giới hạn phạm vi quãng thời gian diễn biến của đối tượng nghiên cứu:
2013-2016.
- Giới hạn phạm vi không gian khảo sát: Việt Nam. Tác giả giành nhiều chú
ý hơn vào khu vực thành thị, khu công nghiệp do đây là khu vực có nhiều các hoạt
động liên quan đến hoạch định chính sách công nghệ thân thiện môi trường. Đặc
biệt là thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh- nơi tập trung NGOs nhiều nhất,
hoạt động sôi nổi nhất trong cả nước
5. Mẫu khảo sát
NGOs hoạt động trong lĩnh vực môi trường ở Việt Nam.

10


gia phản biện, vận động chính sách. Tuy nhiên, NGOs gặp phải các khó khăn về cơ

11


sở pháp lý quy định vai trò tất yếu và cần thiết trong các diễn đàn chính sách của
quốc gia cũng như có vị thế yếu trong nhận thức của xã hội.
- Để tăng cường vai trò của NGOs trong quá trình hoạch định chính sách sử
dụng công nghệ thân thiện môi trường cần hoàn thiện khung pháp lý tạo thuận lợi
cho việc tham gia vào hoạch định chính sách công nghệ thân thiện môi trường của
NGOs, đồng thời NGOs cần nỗ lực hơn nữa để tự hoàn thiện bản thân.
8. Phương pháp chứng minh giả thuyết
- Nghiên cứu tài liệu: các nguồn tài liệu sơ cấp và thứ cấp, cả trong nước và
nước ngoài.
- Phỏng vấn sâu: Tác giả tiến hành phỏng vấn sâu với 22 chuyên gia, các
nhà nghiên cứu, đại diện của cơ quan ban hành và thực thi chính sách và NGOs.
Người tham gia nghiên cứu được thông báo đầy đủ về mục đích của nghiên cứu và
về các quy tắc bảo mật thông tin cho người trả lời. Họ được lựa chọn tham gia
nghiên cứu thông qua cách chọn mẫu có chủ đích để mẫu nghiên cứu có thể bao
gồm những người thuộc các giới tính, nghề nghiệp, độ tuổi và khu vực sinh sống
khác nhau như trình bày trong phụ lục 1. Tác giả sử dụng phương pháp phân tích
theo chủ đề để phân tích thông tin định tính. Theo đó, nội dung của các phỏng vấn
sâu được chia thành 3 nhóm tương ứng với các câu hỏi nghiên cứu cụ thể trong mục
6.2 .
9. Kết cấu luận văn:
Luận văn bao gồm 3 phần:
Phần Mở đầu
Phần Nội dung gồm 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận về các tổ chức phi chính phủ trong quá trình hoạch
định chính sách công nghệ thân thiện môi trường

các mục tiêu chính trị và/hay xã hội như bảo vệ môi trường thiên nhiên (ví
dụ Greenpeace), khuyến khích việc tôn trọng các quyền con người (ví dụ Amnesty
International), cải thiện mức phúc lợi cho những người bị thiệt thòi, hoặc đại diện
cho một nghị trình đoàn thể. Có rất nhiều tổ chức như vậy và mục tiêu của chúng
bao trùm nhiều khía cạnh chính trị, xã hội, triết lý và nhân văn.

2

Trang Wikipedia, Tổ chức phi chính phủ,
http://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%95_ch%E1%BB%A9c_phi_ch%C3%ADnh_ph%E1%BB%A7, 13/08/2016

13


Theo tài liệu của Bộ Ngoại giao Việt Nam, các Tổ chức phi chính phủ (NonGovernmental Organizations, gọi tắt là NGOs) đã tồn tại hàng trăm năm trên thế
giới dưới nhiều dạng khác nhau. Nguồn gốc xa xưa của NGOs vốn là những nhóm
nhỏ người làm từ thiện. Tiêu chí hoạt động của các tổ chức này là cứu trợ nhân đạo
đối với nạn nhân chiến tranh, thiên tai và nghèo đói, không phân biệt chính kiến và
địa dư.3
Theo định nghĩa của Liên hợp quốc, NGOs là bất kỳ tổ chức quốc tế nào
được lập ra không phải do một thoả thuận liên chính phủ quốc tế, nhưng NGOs đó
có thể bao gồm các tổ chức có thành viên do chính phủ cử ra, với điều kiện thành
viên đó không được can thiệp vào quyền tự do bày tỏ ý kiến của tổ chức đó. Thuật
ngữ “tổ chức phi chính phủ” được Liên Hợp Quốc sử dụng lần đầu tiên sau Chiến
tranh Thế giới Thứ hai để nói về các tổ chức tư nhân giúp hàn gắn những vết
thương chiến tranh – hàng triệu người không nơi nương tựa, trẻ em mồ côi và tỷ lệ
thất nghiệp cao. Tuy nhiên, khái niệm về hiện tượng công dân tổ chức hoạt động để
giải quyết các vấn đề là có từ xa xưa hơn. Một số học giả xác định NGO quốc tế đầu
tiên là Tổ chức chống buôn nô lệ quốc tế được thành lập vào năm 1839.
Ngày nay, Liên Hợp Quốc ghi nhận có khoảng 40.000 NGO quốc tế và hàng

NGOs có thể được nhận diện trên phạm vi toàn thế giới:


Hiệp hội tự nguyện chưa hợp nhất



Trusts, tổ chức từ thiện và các quỹ



Các công ty không chỉ vì lợi nhuận



Các thực thể được thành lập hoặc đăng ký theo luật phi chính phủ hoặc phi

lợi nhuận đặc biệt.6
Phân loại về phạm vi hoạt động, hiện nay có ba loại NGO phổ biến đang
hoạt động trên thế giới:
- Tổ chức phi chính phủ mang tính chất quốc gia ((National NonGovernmental Organizations, gọi tắt gọi tắt theo tiếng Anh là NNGO). Là tổ chức
mà các thành viên đều mang chung một quốc tịch. Phạm vi hoạt động chủ yếu phục
vụ cộng đồng trong phạm vi một nước.Về số lượng, NNGOs chiếm đa số tuyệt đối.
- Tổ chức phi chính phủ mang tính chất quốc tế (International NonGovernmental Organizations,gọi tắt theo tiếng Anh là INGO). Là tổ chức mà các
thành viên mang nhiều quốc tịch khác nhau.Về số lượng, INGOs ít hơn nhiều so với
NNGOs. Phạm vi hoạt động của INGOs rộng khắp trên thế giới, nhưng INGOs phải
tuân theo luật pháp của nước nhận sự hợp tác.

5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status