ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN ĐÌNH ĐỨC
VAI TRß CñA C¸C Tæ CHøC PHI CHÝNH PHñ T¹I VIÖT NAM
TRONG VIÖC B¶O VÖ Vµ THóC §ÈY QUYÒN TRÎ EM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2019
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN ĐÌNH ĐỨC
VAI TRß CñA C¸C Tæ CHøC PHI CHÝNH PHñ T¹I VIÖT NAM
TRONG VIÖC B¶O VÖ Vµ THóC §ÈY QUYÒN TRÎ EM
Chuyên ngành: Pháp luật về quyền con ngƣời
Mã số: 8380101.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. LÃ KHÁNH TÙNG
HÀ NỘI - 2019
LỜI CAM ĐOAN
Quy định của pháp luật Việt Nam điều chỉnh hoạt động của các
1.2.1.
Tổ chức phi chính phủ trong lĩnh vực bảo vệ và thúc đẩy quyền
trẻ em ..........................................................................................................18
Vị trí của các Tổ chức phi chính phủ trong chính sách bảo vệ trẻ em
1.2.2.
1.2.3.
cuả Việt Nam ...............................................................................................19
Về đăng ký và tư cách pháp nhân ...............................................................22
Về hoạt động bảo vệ và thúc đẩy quyền trẻ em ..........................................24
1.3.
1.3.1.
Cách thức hoạt động của các tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam
trong lĩnh vực bảo vệ và thúc đẩy quyền trẻ em ....................................27
Bảo trợ trẻ em ..............................................................................................27
1.3.2. Tiếp cận dựa trên quyền ..............................................................................33
Kết luận Chƣơng 1 ..................................................................................................37
Chƣơng 2: THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH
PHỦ TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ VÀ THÚC ĐẨY QUYỀN TRẺ EM ...38
2.1.
Thành quả của các tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam .......................38
2.1.1. Hỗ trợ vật chất đối với trẻ em có hoàn cảnh khó khăn ...............................40
THÚC ĐẨY QUYỀN TRẺ EM ...............................................................66
Giải pháp khắc phục rào cản pháp lý ........................................................66
3.2. Giải pháp khắc phục rào cản về năng lực của đối tác ..............................69
Kết luận Chƣơng 3 ..................................................................................................72
KẾT LUẬN ..............................................................................................................73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................74
PHỤ LỤC .................................................................................................................81
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BKHĐT
Bộ Kế hoạch và Đầu tư
BLĐTBXH
Bộ Lao động – Thương binh & Xã hội
BNG
Bộ Ngoại giao
BTC
Bộ Tài chính
COMINGO
The Committee for foreign Non-governmental Organization
NGO
Non-governmental Organization/ Tổ chức phi chính phủ
PACCOM
Ban điều phối viện trợ nhân dân
PCPNN
Phi chính phủ nước ngoài
QLDA
Quản lý dự án
TNTG
Tầm nhìn Thế giới
UBND
Ủy ban nhân dân
DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu
Tên hình
30
54
60
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Là nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước về Quyền trẻ em, Việt
Nam đã thể hiện sự quan tâm đặc biệt dành cho nhóm yếu thế này từ cách đây gần 6
thế kỷ. Dưới chế độ phong kiến đã có những bước pháp điển hóa các quy tắc bảo vệ
trẻ em. Quốc triều Hình luật của nhà Lê hay còn gọi là Bộ luật Hồng Đức đã đặt ra
nhiều điều kiện nền tảng để chăm sóc trẻ em. Mặc dù vẫn còn nặng nề tính trừng
phạt khắc nghiệt của thời kỳ Nho giáo, nhưng với những Điều luật như trẻ từ 15
tuổi trở xuống nếu phạm tội đi đày thì được chuộc bằng tiền, miễn tử hình đối với
trẻ từ 7 tuổi trở xuống, cấm mua bán trẻ từ 15 tuổi trở xuống, phạt nặng đối với
người ngược đãi trẻ em, cấp tiền cho người nhận nuôi dưỡng trẻ lạc…
Do hạn chế về cả nhận thức và thể chất, trẻ em phụ thuộc vào người giám hộ,
người chăm sóc, vì thế sự quan tâm của xã hội đối với trẻ em được hình thành dựa
vào nền tảng tình thương, lòng nhân đạo chứ không phải là nghĩa vụ bảo vệ quyền.
Đặc điểm này tạo ra một hệ lụy nguy hiểm, rằng trong những thời điểm như thiên
tai, chiến tranh, … trẻ em trở thành một trong những đối tượng chịu các ảnh hưởng
nặng nề nhất. Công ước về quyền trẻ em là Công ước nhân quyền được nhiều quốc
gia phê chuẩn nhất trong số những văn kiện quốc tế về quyền con người. Việt Nam
đã phê chuẩn Công ước này được hơn 25 năm và ý chí chính trị nhằm quyết tâm
thực hiện Công ước được thể hiện rõ với những cam kết quốc tế như Cam kết thực
hiện Tuyên bố của Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới “Về sự sống còn, bảo vệ và phát
triển trẻ em” (năm 1990) và Tuyên bố của Đại hội đồng LHQ về “Một thế giới phù
hợp với trẻ em” (năm 2002). Năm 2013, Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ
địa phương hoan nghênh và hợp tác, tuy nhiên, vì nhiều lý do, hoạt động của các
NGOs chỉ được chào đón khi thực hiện các hoạt động hỗ trợ vật chất và cung cấp
dịch vụ, đối với các hoạt động can thiệp, đôi khi vẫn còn những rào cản. Ngoài ra,
các NGOs tại Việt Nam cũng gặp không ít khó khăn vì nhận thức của người dân về
quyền trẻ em, về vai trò của NGOs trong việc hỗ trợ trẻ thụ hưởng quyền của mình
tại địa phương hoặc từ các dịch vụ của tổ chức. Hệ thống pháp luật cũng chưa thống
nhất quy định về vai trò, quyền hạn trách nhiệm của các tổ chức phi chính phủ nên
sẽ tạo ra những khó khăn trong thực tế khi can thiệp nhằm hỗ trợ trẻ có hoàn cảnh đặc
2
biệt theo Luật trẻ em 2016. Chính vì vậy, đề tài “Vai trò của tổ chức phi chính phủ tại
Việt Nam trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền trẻ em” rất cần thiết để khẳng định vai
trò của NGOs trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền trẻ em, những khó khăn trong hoạt
động của NGOs cũng như cách khắc phục để hoạt động ngày càng hiệu quả.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Quyền trẻ em là một trong những vấn đề kinh điển với rất nhiều những
nghiên cứu, các bài báo khoa học, báo cáo của các tổ chức, cơ quan, các chuyên gia.
Các nghiên cứu về lý thuyết chung về quyền con người trong đó hàm chứa quyền
trẻ em có thể kể đến: “Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người”, Khoa
Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb Chính trị quốc gia, 2015; “Hỏi – Đáp về
quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân” do PGS. TS. Vũ Công Giao chủ
biên, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật, 2016.
Các nghiên cứu cụ thể, chuyên biệt hơn về quyền trẻ em, đặt quyền trẻ em
trong tư cách quyền của nhóm dễ bị tổn thương, có thể kể đến:
- Công trình “Quyền trẻ em”, Trung tâm nghiên cứu quyền con người thuộc
Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 6-2000 tập trung vào vị trí của
quyền trẻ em trong hệ thống quyền con người, các quy định của pháp luật quốc tế
và pháp luật Việt Nam về quyền trẻ em, nêu ra các biện pháp nhằm thực hiện quyền
Bởi NGO Việt Nam và NGO quốc tế đều được các học giả ghi nhận là bộ
phận cấu thành xã hội dân sự tại Việt Nam nên một nguồn tham khảo rất có giá trị
là những nghiên cứu về xã hội dân sự, trong đó có thể kể đến:
- Báo cáo “Đời sống hiệp hội từ góc nhìn người dân” của Nhóm làm việc vì
sự tham gia của người dân, NXB Tri Thức, 2016 đề cập đến vai trò, khó khăn, thuận
lợi trong hoạt động của hiệp hội tại Việt Nam.
- “Đánh dấu không gian xã hội dân sự Việt Nam” của nhóm nghiên cứu Lê
Quang Bình, Nguyễn Thị Thu Nam, Phạm Thanh Trà, 2015 giúp xây dựng những
chỉ số định lượng về không gian xã hội dân sự của Việt Nam.
Bên cạnh đó, các luận văn về vai trò của NGO với công tác bảo vệ quyền con
người nói chung như: “Tổ chức phi chính phủ nước ngoài và vấn đề bảo đảm quyền
con người ở Việt Nam” của Lê Thị Thúy Hương, 2013; và các chủ đề cụ thể hơn
trong công tác bảo vệ quyền trẻ em như: “Hoạt động của các INGO trong lĩnh vực
giáo dục và chăm sóc trẻ em ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay” của Đỗ Thị Vân
4
Anh, 2010; cũng cung cấp khối lượng kiến thức không nhỏ về vai trò và hoạt động
của các tổ chức phi chính phủ. Các thông tin trên các báo, tạp chí cũng được sử
dụng để cập nhật thông tin về hoạt động của các cơ quan nhà nước và các tổ chức.
Tuy nhiên, tại Việt Nam, đề tài vai trò của các NGO trong việc bảo vệ và thúc
đẩy quyền trẻ em tại Việt Nam chưa thực sự được phát triển đầy đủ. Vì vậy, đề tài
nghiên cứu của luận văn này vẫn cần thiết và có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của luận văn sẽ là khẳng định vai trò, ý nghĩa của các NGO tại Việt
Nam hoạt động trong lĩnh vực quyền trẻ em. Chỉ ra được những thành công trong
thực tiễn và rào cản để phát huy tối đa hiệu quả NGOs tại Việt Nam trong lĩnh vực
này. Từ đó, luận văn chỉ ra những cách khắc phục các khó khăn. Mục tiêu lớn nhất
NGO là thành phần không thể thiếu trong công tác xã hội, vấn đề nhân quyền là
vấn đề liên ngành vì vậy luận văn ngoài áp dụng các kiến thức trong lĩnh vực pháp luật
sẽ sử dụng các nghiên cứu của ngành xã hội học và các ngành khoa học khác. Đề tài
được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của học thuyết MácLênin. Phương pháp luận này được sử dụng để định hướng cho việc lựa chọn, sử dụng
các phương pháp nghiên cứu và đưa ra những nhận định, đánh giá của đề tài.
Luận văn kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây để giải quyết
các nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra:
- Tai chương 1: Các phương pháp tổng hợp, phân tích các công trình nghiên cứu
hiện có, các văn kiện pháp lý quốc tế và của Việt Nam để làm sáng tỏ những vấn đề lý
luận về vai trò của NGO trong bảo vệ và thúc đẩy quyền trẻ em ở nước ta hiện nay.
- Tại chương 2: Các phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh các tài liệu,
báo cáo chuyên môn của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các tổ chức xã hội
dân sự để đánh giá Hành lang pháp lý của Việt Nam trong vấn đề điều chỉnh hoạt
động của NGOs trong lĩnh vực quyền trẻ em và thực tiễn hoạt động của NGO trong
lĩnh vực này
- Tại chương 3: Các phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh để đề xuất các
quan điểm, giải pháp để NGOs tại Việt Nam phát huy tối đa vai trò bảo vệ và thúc
đẩy quyền trẻ em.
6. Tính mới và ý nghĩa khoa học, thực tiễn luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa về phương diện lý luận và thực
6
tiễn, bởi đây là công trình nghiên cứu tương đối toàn diện, có hệ thống về hai vấn
đề: Vai trò của NGOs tại Việt Nam trong việc Bảo vệ và thúc đẩy quyền trẻ em, và
những hướng khắc phục các tồn tại hiện nay trong hoạt động của NGOs tại Việt
Nam trong lĩnh vực quyền trẻ em.
Luận văn mang đến những ý nghĩa lý luận và thực tiễn sau:
- Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là tài liệu tham khảo về quy định
LHQ (UNFPA), Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), hay Tổ chức Giáo dục, Khoa học
và Văn hóa (UNESCO), các văn kiện của các tổ chức kể trên đều ghi nhận trẻ em là
những người dưới 15 tuổi. Nhưng với Công ước về quyền trẻ em (CRC) năm 1989,
điều 1 khẳng định: “trẻ em là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi”. Mặc dù vậy, điều này
quy định mở, với ngôn ngữ không bắt buộc, thể hiện ở nội dung: “trừ trường hợp
pháp luật có thể được áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”.
Như vậy, các quốc gia với những quy định khác biệt về độ tuổi được công nhận là
“trẻ em” có thể dễ dàng chấp nhận tham gia CRC.
Pháp luật quốc tế đòi hỏi phải phân biệt khái niệm này với khái niệm “người
chưa thành niên”. Khoản a, điều 11, Các quy tắc của LHQ về bảo vệ người chưa
thành niên bị tước tự do 1990 quy định: “người chưa thành niên là người dưới 18
tuổi”. Quy tắc Bắc Kinh (Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của LHQ về việc áp dụng
pháp luật với người chưa thành niên, 1985), Hướng dẫn Ri-át (Hướng dẫn của LHQ
về phòng ngừa phạm pháp ở người chưa thành niên, 1990) cũng sử dụng khái niệm
này. Các văn kiện quốc tế này sử dụng khái niệm trẻ em, người chưa thành niên với
mục đích bảo vệ quyền trẻ em và người chưa thành niên khi họ phạm pháp.
8
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, có hai thuật ngữ chỉ “trẻ em” theo tiêu
chuẩn của CRC. Thuật ngữ “trẻ em” là người dưới 16 tuổi được sử dụng trong Luật
trẻ em 2016 và thuật ngữ “người chưa thành niên” để chỉ những người dưới 18 tuổi
và được sử dụng trong rất nhiều văn bản pháp luật như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao
động, Luật xử lý vi phạm hành chính, Luật hôn nhân và gia đình, Luật nghĩa vụ
quân sự, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân và nhiều văn
bản quy phạm pháp luật khác nhằm quy định cụ thể những chế định pháp luật dành
riêng cho người chưa thành niên trong nhiều từng lĩnh vực. Có thể thấy khái niệm
“người chưa thành niên” rộng hơn khái niệm “trẻ em, “người chưa thành niên” bao
gồm cả “trẻ em” và những người từ 16 tuổi đến 18 tuổi. Bộ luật” Hình sự 2015 đưa
LHQ sử dụng để chỉ các hoạt động đảm bảo quyền con người nói chung.
“Bảo vệ quyền” là hoạt động có liên hệ với ba nghĩa vụ chính của Nhà nước
nhằm đảm bảo quyền con người theo pháp luật Nhân quyền quốc tế, bao gồm: Tôn
trọng (respect), bảo vệ (protect) và hỗ trợ/ thực thi (fulfill). Trong đó, “bảo vệ
quyền” mang ý nghĩa Nhà nước có nghĩa vụ bảo vệ các cá nhân và nhóm khỏi các
vi phạm về quyền con người. Như vậy, hoạt động bảo vệ quyền con người tập trung
vào phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý các vi phạm quyền con người.
Khoản 3, Điều 1, Hiến chương LHQ đã nêu một trong những mục đích của
LHQ là “thúc đẩy và khuyến khích sự tôn trọng đối với quyền con người và các
quyền tự do cơ bản”. Lời nói đầu của Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền cũng thừa
nhận vai trò của quốc tế trong việc: “thúc đẩy sự tôn trọng các quyền và tự do cơ
bản của con người thông qua truyền bá và giáo dục; cũng như thúc đẩy sự thừa nhận
và tuân thủ chung và hữu hiệu các quyền đó không chỉ với người dân nước mình mà
với cả các dân tộc ở các lãnh thổ thuộc quyền quản thác của nước mình, thông qua
các biện pháp tích cực, kể cả trong phạm vi quốc gia và quốc tế”. Như vậy, “thúc
đẩy” được hiểu là các hoạt động truyền bá, giáo dục quyền con người thông qua các
biện pháp tích cực.
Việc bảo vệ quyền trẻ em không tách rời việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con
người nói chung, bởi lẽ quyền trẻ em là quyền con người của trẻ em và đây chính là
việc bảo vệ quyền con người ở giai đoạn đầu tiên của cuộc đời. Tuy nhiên trẻ em sở
hữu những đặc điểm khác với người trưởng thành, vì vậy, việc bảo vệ quyền trẻ em
cũng phải có những điểm đặc trưng, bên cạnh những nguyên tắc phổ quát của quyền
con người, bao gồm bồn nguyên tắc sau:
10
- Trẻ em cũng là những con người: Nguyên tắc này xác định vị thế bình đẳng
của trẻ em với người lớn về phương diện chủ thể của quyền, phải được công nhận
và bảo vệ các quyền ngay từ giai đoạn thơ ấu;
trượng, đền tiền đền mạng 5 quan cho cha mẹ đứa trẻ chết” [25, tr. 261]. Tuy nhiên
những quy định pháp luật về bảo vệ trẻ em tại thời điểm này chỉ hạn chế trong một
số lĩnh vực như pháp luật hình sự, các mối quan hệ hôn nhân gia đình và dựa trên
nền tảng đạo đức, mối quan hệ giữa người giám hộ và trẻ. Đây là một trong những
quan niệm phổ biến không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều quốc gia.
Vào ngày 20/02/1990, Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở Châu Á và quốc gia
thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước về quyền trẻ em. Và phải đến Đại hội
Đảng lần thứ IX (2001), lần đầu tiên từ “quyền trẻ em” được dùng trong các văn
kiện của Đảng. Từ đó đến nay, Việt Nam đã đạt nhiều tiến bộ trong việc đưa tinh
thần và nội dung của CRC vào luật pháp quốc gia, thể hiện qua việc ban hành và
sửa đổi các văn bản pháp luật điều chỉnh các vấn đề liên quan đến trẻ em.
1.1.2. Khái niệm “Tổ chức phi chính phủ”
Mặc dù các NGO có một lịch sử gắn bó chặt chẽ với việc thúc đẩy và bảo vệ
nhân quyền, tạo được vị trí quan trọng trong cộng đồng quốc tế, tuy nhiên, tới nay,
khái niệm tổ chức phi chính phủ (Non-governmental Organization - NGO) vẫn chưa
được thống nhất giữa các nhà nghiên cứu, các tổ chức quốc tế và các chính phủ.
LHQ đưa ra khái niệm NGO từ sau năm 1945, với ý nghĩa “bất kì tổ chức
nào độc lập với sự điều phối của nhà nước, hoạt động không vì lợi nhuận, không
phải là một đảng chính trị hoặc một tổ chức tội phạm” [8, tr. 12]. Điều này thể hiện
rằng các NGO cần phải có vị trí trung lập với các quan điểm chính trị và độc lập với
chính phủ. Chính vì thế, trong bối cảnh Việt Nam có những tổ chức thuộc Mặt trận
Tổ Quốc Việt Nam mặc dù cũng hoạt động vì mục tiêu xã hội như Hội nông dân,
Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam giống với tổ chức xã hội và tổ chức phi chính phủ
nhưng lại là những tổ chức đại diện cho các tầng lớp cho xã hội và có vai trò trong
hệ thống chính trị.
Tại nguyên tắc thứ 12 của Nghị quyết 1996/31, Hội đồng Kinh tế Xã hội của
LHQ (ECOSOC) ghi nhận: “…. bất kì Tổ chức nào được thành lập không phải bởi
cơ quan chính phủ hoặc thỏa thuận liên chính phủ đều được coi là Tổ chức phi
chính phủ, … kể cả những tổ chức chấp nhận những thành viên được sắp xếp bởi
thể xuyên quốc gia nào hoạt động không vì lợi nhuận, không ủng hộ bạo lực, chấp
nhận những quy tắc về không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia, và
13
gắn bó mật thiết với LHQ và các cơ quan của nó. Theo định nghĩa này, thì các
NGO chỉ là những tổ chức nhân đạo [9].
Pháp luật Việt Nam định nghĩa Tổ chức phi chính phủ nước ngoài (International
Non-governmental Organization - INGO) theo Nghị định số 12/2012/NĐ-CP của
Chính phủ: Về đăng ký và quản lý hoạt động của tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại
Việt Nam. Tổ chức phi chính phủ nước ngoài là các tổ chức phi chính phủ, tổ chức
phi lợi nhuận, các quỹ xã hội, quỹ tư nhân, hoặc các hình thức tổ chức xã hội, phi
lợi nhuận khác, được thành lập theo luật pháp nước ngoài, có hoạt động hỗ trợ phát
triển, viện trợ nhân đạo, không vì mục đích lợi nhuận hoặc các mục đích khác tại
Việt Nam. Tuy nhiên lại chưa có định nghĩa chung đối với NGO mà không phân
biệt quốc tịch của tổ chức đó, mà chỉ có thể tìm thấy trong một khái niệm gần với
khái niệm NGO theo các định nghĩa đã nêu trên là “tổ chức phi lợi nhuận” tại Nghị
định 116/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng chống
rửa tiền. Cụ thể, điều 12 của Nghị định này quy định: Tổ chức phi lợi nhuận là pháp
nhân hoặc tổ chức có hoạt động chính là huy động hoặc phân bổ vốn cho các mục
đích từ thiện, tôn giáo, văn hóa, giáo dục, xã hội hoặc mục đích tương tự, không vì
mục đích lợi nhuận, bao gồm: Tổ chức phi chính phủ nước ngoài, quỹ xã hội, quỹ từ
thiện thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam. Như vậy, các NGO Việt
Nam có thể được thành lập với tư cách quỹ xã hội, quỹ từ thiện.
Nghị định 30/2012/NĐ-CP lại có cách định nghĩa cụ thể hơn, không phân
biệt quốc tịch với tổ chức phi chính phủ, cụ thể tại khoản 1, Điều 3 của nghị định,
đưa ra khái niệm “Quỹ” là NGO do cá nhân, tổ chức tự nguyện dành một khoản tài
sản nhất định để thành lập hoặc thành lập thông qua hợp đồng, hiến tặng, di chúc;
có mục đích tổ chức, hoạt động theo quy định tại Điều 2 Nghị định này (cụ thể là
đạo và các mục đích phát triển cộng đồng, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền
cấp giấy phép thành lập, công nhận điều lệ.
Các hoạt động của NGO tại Việt Nam rất đa dạng, có thể kể đến [16, tr. 25-35]:
Hỗ trợ các nhóm yếu thế, thiệt thòi: Là mục đích phổ biến của phần lớn các
NGO. Các NGO tập trung vào công tác hỗ trợ người dân vùng sâu vùng xa, người dân
tộc thiểu số, phụ nữ đơn thân, nông dân nghèo chăn nuôi, trồng trọt hoặc tiếp cận thị
trường cho các sản phẩm truyền thống, … Đây được đánh giá là một trong những mảng
mà NGO có thể đảm đương hiệu quả hơn các tổ chức kinh tế và Nhà nước [2, tr.34].
15
Bảo vệ tài nguyên, môi trường: Trong lĩnh vực này, các NGO hỗ trợ chính
quyền địa phương và người dân quản lý bền vững tài nguyên môi trường, tập huấn,
nâng cao năng lực cho các cộng đồng bảo vệ tài nguyên của mình trong sinh kế lẫn
văn hóa hoặc các vấn đề phức tạp hơn như khai thác khoáng sản với mục đích bảo
vệ quyền của các cộng đồng địa phương, chống ô nhiễm nước và minh bạch trong
toàn bộ tiến trình khai khoáng.
Giáo dục các vấn đề xã hội cho thanh niên, sinh viên: Xây dựng năng lực cho
thanh niên, tạo cơ hội thực tập, đào tạo và cung cấp các hoạt động tình nguyện cho sinh
viên và thanh niên cũng là một trong những hoạt động thường thấy của các NGO.
Vận động và góp ý chính sách: Các hoạt động cung cấp thông tin, bằng
chứng và ý kiến người dân cho các cơ quan nhà nước phục vụ công tác quản lý và
xây dựng chính sách hiệu quả hơn là một trong những lĩnh vực mà NGO phát huy
vai trò mạnh mẽ. Thông qua các phong trào, các đợt vận động, NGO giúp Nhà nước
định hướng đúng các ưu tiên trong chính sách xóa đói, giảm nghèo, nâng cao dân
trí, bảo vệ môi trường, … [2, tr.35]
Bảo vệ và thúc đẩy quyền con người: Mặc dù nghĩa vụ chủ yếu trong việc
đảm bảo quyền con người theo pháp luật nhân quyền quốc tế là nhà nước, nhưng
không thể phủ nhận vai trò to lớn của các NGO trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền
tạo, giáo dục, nghiên cứu về quyền con người cũng như đưa ra diễn ngôn hay khởi
xướng các chiến dịch ủng hộ nhân quyền [63]. Ở vị trí là một chủ thể độc lập với
Nhà nước, “bảo vệ quyền con người”, với vai trò của các NGO, có thể hiểu là các
hoạt động phòng ngừa, ngăn chặn và phát giác các vi phạm quyền con người.
Vai trò của NGO trong việc “bảo vệ và thúc đẩy quyền trẻ em” được hiểu là
vai trò của NGO trong các hoạt động phòng ngừa, ngăn chặn và phát giác các vi
phạm về quyền trẻ em, giáo dục, đào tạo và nghiên cứu về quyền trẻ em và tổ chức
các chương trình ủng hộ quyền trẻ em. Tại Việt Nam, các NGO thực hiện vai trò
này theo các nhóm dưới đây, các NGO có thể chỉ đảm nhận một nhưng cũng có thể
tham gia nhiều vai trò [23, tr.63]:
- Hỗ trợ trực tiếp nhằm đảm bảo quyền trẻ em được thực thi như: Nuôi
dưỡng trẻ em tại mái ấm, nhà mở; hỗ trợ học phí và dụng cụ học tập; hỗ trợ làm
giấy tờ tùy thân cho trẻ; hỗ trợ sinh kế cho gia đình trẻ, …
- Nâng cao năng lực cho cán bộ nhà nước, nhân viên công tác xã hội, cộng
đồng, cha mẹ, người chăm sóc trẻ, trẻ em để đảm bảo thực hiện quyền trẻ em.
17
- Giám sát việc thực thi quyền trẻ em của Nhà nước: Trong quá trình thực thi
Công ước quyền trẻ em, các NGO quốc tế và các NGO trong nước có vai trò phối
hợp với Ủy ban về quyền trẻ em để giám sát quá trình thực thi đó thông qua cung
cấp thông tin cần thiết, phục vụ đánh giá các báo cáo và nâng cao nhận thức về
quyền trẻ em cho các cơ quan công quyền và xã hội nói chung.
- Tuyên truyền pháp luật về quyền trẻ em và bảo vệ trẻ em
- Vận động chính sách tác động đến các bên liên quan nhằm đảm bảo quyền
trẻ em được thực thi và phòng tránh vi phạm quyền trẻ em.
Các INGO với tiềm lực và uy tín của mình thường đóng nhiều vai trò kể trên.
Theo danh sách của Trung tâm dữ liệu Tổ chức phi chính phủ, số lượng các INGO
hoạt động tại Việt Nam trong lĩnh vực quyền trẻ em ở thời điểm hiện tại khoảng 30