ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM THỊ LAN HƢƠNG
VAI TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH THỨC Ở NÔNG
THÔN ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN VỐN XÃ HỘI
(Nghiên cứu trƣờng hợp xã Liên Hòa, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Hà Nội – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM THỊ LAN HƢƠNG
VAI TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH THỨC Ở NÔNG
THÔN ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN VỐN XÃ HỘI
(Nghiên cứu trƣờng hợp xã Liên Hòa, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc)
Chuyên ngành:
Xã hội học
Mã số:
60 31 30
1.1.1.1 - Tổ chức xã hội, tổ chức xã hội phi chính thức ............................................8
1.1.1.2 - Vốn xã hội ..........................................................................................................15
1.1.1.3 Khái niệm vai trò .................................................................................................18
1.1.2 Lý thuyết áp dụng ...................................................................................................18
1.1.2.1 Lý thuyết về mạng lưới quan hệ xã hội .........................................................18
1.1.2.2 Lý thuyết trao đổi hợp lý ....................................................................................21
1.2 Cơ sở thực tiễn .............................................................................................. 23
1.2.1 Tổng quan nghiên cứu ................................................................................ 23
1.2.1.1 Nhóm các nghiên cứu về tổ chức xã hội ............................................... 23
1.2.1.2 Nhóm các nghiên cứu về vốn xã hội ................................................... 29
* Nhóm các nghiên cứu lý thuyết về vốn xã hội.........................................................29
* Nhóm các nghiên cứu thực nghiệm về vốn xã hội .................................................33
1.2.2 Khái quát về địa bàn nghiên cứu – xã Liên Hòa, Lập Thạch, Vĩnh Phúc.
........................................................................................................................... 37
CHƢƠNG II. VAI TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH THỨC Ở XÃ LIÊN
HÒA ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN VỐN XÃ HỘI .......................................................... 39
2.1 Khái quát về các tổ chức xã hội phi chính thức ở xã Liên Hòa hiê ̣n nay .... 39
2.1.1 Thố ng kê, mô tả ........................................................................................ 39
2.1.1.1 Tổ liên gia tự quản ..............................................................................................39
2.1.1.2 Hội vãi đi chùa/hội phật giáo ...........................................................................42
2.1.1.3 Tổ Hòa Giải ..........................................................................................................45
2.1.1.4 Hội chơi tiền (Hụi tiền) ......................................................................................47
2.1.1.5 Hội đồng ngũ ........................................................................................................50
2.1.1.6 CLB văn nghệ - chèo cổ .....................................................................................52
2.1.1.7 Nhóm liên kết nuôi ong ......................................................................................56
2.1.1.8 Nhóm liên kết làm mộc .......................................................................................57
2.1.1.9 Hội các cụ ông đi đình .......................................................................................59
2.1.1.10 Hội vật cổ truyền ...............................................................................................61
PHẦN I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Từ sau đổi mới đến nay, nông thôn Viê ̣t Nam đã trải qua nhƣ̃ng biế n đổ i vô cùng
to lớn về mo ̣i mă ̣t đời số ng kinh tế , văn hóa, xã hội. Song song với đó là sự ra đời và vận
hành của hàng loạt các tổ chức xã hội, trong đó có các tổ chức phi chính thức, còn gọi là
các tổ chức phi quan phƣơng. Dữ liệu từ một vài nghiên cứu chỉ ra Việt Nam là nƣớc có
nhiều tổ chức xã hội nhất trong khu vực. Cụ thể theo số liệu của Vụ Tổ chức phi chính
phủ, Bộ Nội vụ thì đến tháng 12/2006 Việt Nam có 364 hội có phạm vi hoạt động toàn
quốc và 4157 hội và hàng chục vạn tổ chức nhỏ có hoạt động đƣợc đăng kí chính thức
tại các cấp chính quyền cơ sở [1, tr 31]. Hiện nay, cả nƣớc có khoảng 425 hô ̣i hoa ̣t đô ̣ng
ở phạm vi toàn quốc , khoảng gần 14.000 hô ̣i có pha ̣m vi hoa ̣t đô ̣ng ở cấ p tỉnh , cấ p
huyê ̣n. Trong đó , ở 22 tỉnh, thành phố thuộc khu vực phía Nam có 2.636 tổ chƣ́c hô ̣i ở
cấ p tỉnh . Ở 13 tỉnh, thành phố thuộc khu vực miền Trung - Tây Nguyên có 1.712 tổ
chƣ́c, ở các tỉnh khu vực phía Bắc có gần 3.000 hô ̣i cấ p tin̉ h. Ngoài ra, còn hàng vạn hội
hoạt động ở phạm vi xã, phƣờng và thi ̣trấ n . Nhìn chung, trong nhƣ̃ng năm gầ n đây, tính
trung bin
̀ h mỗi năm có khoảng 20 hô ̣i, hiê ̣p hô ̣i nghề nghiê ̣p khoa ho ̣c và công nghê ̣ ,
kinh tế có pha ̣m vi hoa ̣t đô ̣ng toàn q uố c đƣơ ̣c cấ p phép thành lâ ̣p . Bên ca ̣nh đó , còn có
rấ t nhiề u các loa ̣i hô ̣i, nhóm phi chính thức (không đăng kí chiń h thƣ́c) khác đang tồn tại
và hoạt động mạnh mẽ ở nƣớc ta [2, tr 15]. Nhƣ vậy, có thể tính riêng tại khu vực nông
thôn xuất hiện ngày đa dạng các hình thức liên kết xã hội. Bên cạnh các tổ chức xã hội
chính thức là sự phát triển mạnh mẽ của các tổ chức xã hội phi chính thức. Thƣ̣c tế ,
chúng ta không thể phủ nhận tính hiệu quả và những tác động tích cực m à các tổ chức
này đem lại đối với việc phát triển đất nƣớc nói chung , phát triển nông thôn mới nói
riêng.
Vốn xã hội (social capital) và việc vâ ̣n du ̣ng vố n xã hô ̣i trong cô ̣ng đồ ng sao cho
hiê ̣u quả là vấn đề quan trọng đã và đang đƣơ ̣c quan tâm bàn luận sôi nổi không chỉ trong
giới nghiên cứu mà còn bởi các nhà hoạch định chính sách. Việc nhận diện vốn xã hội
trong cộng đồng và phát huy nó là việc ý nghĩa trong vấn đề tạo ra nguồn lực phát triển
hội đối với các vấn đề quản lý, phát triển bền vững, phát triển văn hóa xã hội...
Một vài phân tích mang tính lý thuyết về vốn xã hội đã chỉ ra giữa “vốn xã hội” và
mạng lƣới các tổ chức xã hội có mối quan hệ mật thiết. Một mặt, chính nhờ vốn xã hội
đƣợc “sản sinh” trong mạng lƣới các tổ chức ấy mà củng cố thêm tính bền vững cho các tổ
chức xã hội. Trong khi đó, nhờ có mạng lƣới các tổ chức xã hội mà vốn xã hội đƣợc hình
thành. Hay nói cách khác, mạng lƣới xã hội chính là điều kiện cần cho sự hình thành vốn
xã hội. Trong trƣờng hợp này mạng lƣới xã hội đƣợc đề cập đến chính là mạng lƣới đƣợc
tạo ra bởi các tổ chức phi chính thức ở nông thôn.
Vậy trên thực tế, mạng lƣới các tổ chức xã hội phi chính thức ở nông thôn hiện tại
đƣợc ra đời và vận hành ra sao? Từ đó, các tổ chức phi chính thức này có vai trò nhƣ thế
nào đối với sự phát triển vốn xã hội ở nông thôn hiện nay? Xuất phát từ những lý do trên,
chúng tôi đã quyết định lƣ̣a chọn vấn đề “vai trò của các tổ chức phi chính thức ở nông
thôn đối với việc phát triển vốn xã hội” làm đề tài nghiên cứu nhằm tìm lời giải cho các
câu hỏi trên.
2
2. Ý nghĩa nghiên cứu
2 .1 Ý nghĩa lý luận
Đề tài này góp phầ n làm sáng tỏ mô ̣t số khái niệm nhƣ tổ chƣ́c xã hô ị , tổ chƣ́c xã
hô ̣i phi chính thức , vố n xã hô ̣i . Tƣ̀ đó có đóng góp nhấ t đinh
̣ trong liñ h vƣ̣c xã hô ̣i ho ̣c
nông thôn, quản lý xã hội.
Ngoài ra, thông qua viê ̣c vâ ̣n du ̣ng mô ̣t số lý thuyế t mạng lƣới xã hội, lƣ̣a cho ̣n
hơ ̣p lý , đề tài này góp phần bổ sung về mặt lý luận cho cho các nghiên cứu trong lĩnh
vƣ̣c nông thôn, tổ chức xã hội.
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Các tổ chức xã hội là một hiện tƣợng tuy không phải mới mẻ nhƣng có vai trò đặc
biệt trong quá trình phát triển nông thôn nói riêng, quá trình phát triển kinh tế văn hóa xã
hội ở Việt Nam hiện nay nói chung. Việc nhận diện các tổ chức xã hội này cũng nhƣ
kinh tế, đời sống văn hóa tinh thần, các hoạt động ma chay cƣới hỏi, đảm bảo an ninh
trật tự, phát huy quyền dân chủ cho ngƣời dân.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
5.1 Phƣơng pháp luận
- Nghiên cứu này đƣợc dựa trên sự tiếp cận và vận dụng chủ nghĩa duy vật biện
chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử làm kim chỉ nam cho những phân tích, lý giải và chứng
minh các quan điểm, nhận định đƣợc đƣa ra trong quá trình nghiên cứu.
- Vận dụng lý thuyết về mạng lƣới xã hội, lý thuyết lựa chọn hợp lý và căn cứ trên
các quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc đã ban hành làm cơ sở lý luận cho việc
phân tích, lý giải và chứng minh các quan điểm, nội dung nghiên cứu trong đề tài.
5.2 Phƣơng pháp xã hội học
5.2.1 Phƣơng pháp phân tích tài liệu thứ cấp
Phân tích các tài liệu có sẵn liên quan đến các tổ chức phi chính thức ở nông thôn
cũng nhƣ vai trò của nó đối với việc phát triển nông thôn làng xã. Đồng thời chúng tôi
cũng tập trung vào khảo cứu các nghiên cứu liên quan đến vốn xã hội trong và ngoài
nƣớc để có đƣợc cái nhìn tổng thể về vốn xã hội cũng nhƣ mạng lƣới liên kết ở nông
thôn. Từ đó nhằm xây dựng cơ sở lý luận, khung lý thuyết cũng nhƣ tổng quan về đề tài
nghiên cứu.
4
5.2.2 Phƣơng pháp thu thập thông tin định tính
5.2.2.1 Phƣơng pháp phỏng vấn sâu
Tiế n hành phỏng vấ n 39 trƣờng hợp. Mẫu phỏng vấ n bao gồm đa ̣i diê ̣n là ngƣời
đứng đầu các tổ chƣ́c phi chính thức, thành viên của tổ chức, đại diện ban lãnh đạo chính
quyền địa phƣơng, đại diện dòng họ, gia đình và một số thành viên khác ngoài tổ chức
trong cộng đồng.
Kỹ thuật chọn mẫu phỏng vấn sâu:
Trong nghiên cứu này, kỹ thuật chọn mẫu điển hình đƣợc áp dụng để chọn ra 39
3
2
Tổ hòa giải
1
1
1
3
3
CLB văn nghệ- Chèo Cổ
1
1
1
3
4
CLB bóng chuyền hơi
3
7
Hụi tiền
1
1
1
3
8
Hội các vãi đi chùa/hội
phật giáo
1
1
1
3
9
1
3
12
Nhóm liên kết nuôi ong
mật
1
0
1
2
13
Nhóm liên kết làm mộc
1
1
0
2
5.2.2.2 Phƣơng pháp quan sát tham dự phi cấu trúc:
Ngoài các phƣơng pháp thu thập thập thông tin trên nghiên cứu này còn kết hợp
phƣơng pháp quan sát tham dự phi cấu trúc các buổi họp quý, họp tổng kết năm, liên
hoan hay một số hoạt động thực tế khác nhƣ ma chay, cƣới hỏi, mừng thọ, tân gia… của
các tổ chức xã hội phi chính thức tại địa bàn nghiên cứu.
6. Câu hỏi nghiên cứu
- Tình hình hoạt động của các tổ chức phi chính thức ở xã Liên Hòa hiện nay nhƣ
thế nào ?
- Vai trò của các tổ chƣ́c phi chính thức đƣơ ̣c thể hiê ̣n nhƣ thế nào đố i với các hoa ̣t
đô ̣ng trong cô ̣ng đồ ng?
- Các tổ chức phi chính thức ở xã Liên Hòa có vai trò nhƣ thế nào đối với việc
phát triển vốn xã hội hiện nay?
7. Khung lý thuyết
Bối cảnh KTXH
Các tổ chức Phi
chính thức ở NT
Vốn xã hội
(Niềm tin xã hội,
Tương hỗ có đi có lại,
Tổ chức XH & mạng
lưới liên kết.)
Chính sách của
Đảng, Nhà nƣớc
6
triển mạng lƣới xã hội phí chính thức đƣợc bền chặt. Còn nếu ngƣợc lại, vốn xã hội
không thể đƣợc tạo ra và sử dụng từ các tổ chức xã hội thì dần dần các tổ chức này sẽ bị
mai một và có khả năng bị giải thể.
Trong nghiên cứu này chúng tôi sẽ cụ thể hóa vốn xã hội qua các mặt: phát triển
kinh tế hộ gia đình; đảm bảo đời sống văn hóa tinh thần; hoạt động tang ma, cƣới hỏi;
đảm bảo an ninh thôn xóm; phát huy đời sống dân chủ cho ngƣời dân…nhằm tìm hiểu
xem các tổ chức phi chính thức tại Liên Hòa đóng vai trò nhƣ thế nào đối với các hoạt
động này.
7
PHẦN II. NỘI DUNG CHÍNH
CHƢƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm công cụ
1.1.1.1 - Tổ chức xã hội, tổ chƣ́c xã hội phi chính thức
“Tổ chức xã hội” (Social Organization) là một thuật ngữ đƣợc sử dụng nhiều
trong khoa học xã hội, đặc biệt là xã hội học. Khi nói tới “Tổ chức xã hội” có nhiều định
nghĩa khác nhau:
Ở góc độ luật học [42, tr 60], “Tổ chức xã hội” là hình thức tổ chức tự nguyện của
công dân, tổ chức Việt Nam có chung mục đích tập hợp, hoạt động theo pháp luật và
theo điều lệ không vì lợi nhuận nhằm đáp ứng những lợi ích chính đáng của các thành
viên và tham gia vào quản lý nhà nƣớc, quản lý xã hội.
Điều 62 Hiến pháp năm 1992 quy định : “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự
do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định
của pháp luật”. Công dân Việt Nam có quyền lập hội theo quy định của pháp luật. Đây
là cơ sở pháp lý vững chắc để các tổ chức xã hội ra đời, tồn tại và phát triển. Cùng với sự
phát triển của đất nƣớc trên mọi lĩnh vực dựa vào nền tảng nhà nƣớc pháp quyền xã hội
có quyền tham gia hoặc không tham gia vào tổ chức xã hội, không bị ép buộc bởi ngƣời
khác. Tuy nhiên, một số tổ chức xã hội lại có những điều kiện nhất định đối với những
ngƣời muốn tham gia. Ví dụ nhƣ Điều 1 Điều lệ Công đoàn Việt Nam 2003 quy định :
“Công nhân viên chức lao động Việt Nam làm công, hưởng lương; người lao động tự do
hợp pháp, không phân biệt nghề nghiệp, nam nữ, tín ngưỡng, nếu tán thành Điều lệ
Công đoàn Việt Nam, tự nguyện sinh hoạt trong một tổ chức cơ sở của công đoàn, đóng
đoàn phí theo quy định thì được gia nhập công đoàn.”
Nhà nƣớc không tham gia vào việc kết nạp hay khai trừ các thành viên của tổ
chức xã hội, điều này phụ thuộc vào tổ chức xã hội và những ngƣời muốn tham gia
quyết định. Những ngƣời có chung dấu hiệu đặc điểm sẽ tập hợp một tổ chức xã hội để
đảm bảo quyền và lợi ích của họ, nhƣ : cùng giai cấp- Hội nông dân Việt Nam, cùng độ
tuổi – Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh…
(2) Các tổ chức xã hội nhân danh chính tổ chức mình để tham gia hoạt động quản
lý nhà nƣớc, chỉ trong trƣờng hợp đặc biệt do pháp luật quy định tổ chức xã hội mới hoạt
động nhân danh nhà nƣớc. Đặc điểm này của tổ chức xã hội xuất phát từ nguyên nhân tổ
chức xã hội không phải là bộ phận trong cơ cấu của bộ máy nhà nƣớc. Nhà nƣớc thừa
nhận và bảo hộ sự tồn tại của các tổ chức xã hội bằng việc quy định các quyền và nghĩa
vụ pháp lý của chúng. Khi thực hiện quyền và nghĩa vụ đó phải nhân danh mình, trong
một số trƣờng hợp nhà nƣớc cho phép nhân danh nhà nƣớc và sử dụng quyền lực nhà
nƣớc, khi đó quyết định của tổ chức sẽ có hiệu lực với các thành viên bên ngoài tổ chức
đó. Còn khi không đƣợc nhà nƣớc trao quyền thì chỉ có hiệu lực với các thành viên trong
tổ chức.
9
(3) Các tổ chức hoạt động tự quản theo quy định của pháp luật và theo điều lệ do
các thành viên của tổ chức xây dựng.
Nhà nƣớc không tham gia vào hoạt động của tổ chức xã hội nhƣ việc giải thể, ra
khỏi tổ chức hay việc thành lập các cơ quan lãnh đạo của các tổ chức xã hội, kể cả cử
10
hệ thống các quan hệ, tập hợp liên kết cá nhân nào đó để đạt đƣợc một mục đích nhất
định. Nhƣ vậy, định nghĩa này nhấn mạnh đến hệ thống các quan hệ liên kết cá nhân chứ
không phải chính tập hợp cá nhân trong các tổ chức và các quan hệ ở đây là các quan hệ
xã hội. Nếu nhƣ giữa tập hợp các cá nhân không có những quan hệ xã hội thì họ chƣa thể
đƣợc coi là thành viên của một tổ chức xã hội nào đó. Những quan hệ này sẽ liên kết các
cá nhân vào một nhóm để họ cùng thực hiện một hoạt động chung nào đó nhằm đạt đƣợc
những lợi ích nhất định.”1. Cũng theo cách định nghĩa này thì tổ chức xã hội đƣợc chia
làm 4 loại: nhóm uy quyền, tổ chức xã hội tự nguyện, tổ chức biệt lập, tổ chức quan liêu.
Gầ n hơn với xã hô ̣i ho ̣c đó là cách tiế p câ ̣n của Bùi Thế Cƣờng trong bài viế t “các
tổ chức xã hội ở Việt Nam” ông đã đƣa ra định nghĩa “ thuật ngữ tổ chức xã hội (civic
organization) để nói đến một tập hợp không đồng nhất (theo nghĩa rộng) những tổ chức
xã hội không phải là nhà nƣớc, tự nguyện và không định hƣớng vào lợi nhuận. Ngƣời ta
còn gọi chúng là các tổ chức phi chính phủ (NGO), tổ chức phi lợi nhuận (NPO)… ” [4,
tr 10]. Theo đó ông phân loại ra các loại hình tổ chức xã hội dựa theo các kiểu loại xã
hội. Cụ thể:
Sơ đồ 1. Những loại hình tổ chức xã hội trong các kiểu loại xã hội
Kiểu xã hội
Xã hội cổ truyền
Các kiểu tổ chức xã
hội
Tôn giáo
Phƣờng hội
Các mạng lƣới xã hội
Xã hội dựa trên nền kinh tế Đoàn thể quần chúng
(từ cuối những năm 1980 Tổ chức NGO
đến nay)
Tổ chức phi lợi nhuận
Hiệp hội tôn giáo
Hiệp
hội
doanh
nghiệp
Các tổ chức phi chính
thức
Nguyên tắc tổ chức tập trung
dân chủ, có tính đến việc mở
rộng sự tham gia từ dƣới lên
Đa dạng hóa các loại hình tổ
chức
Đa dạng hóa các lĩnh vực hoạt
động, chú trọng đến lĩnh vực
phát triển và nhân đạo (từ thiện)
(Nguồn: Bùi Thế Cường (2005). “Các tổ chức xã hội ở Việt Nam” . Tạp chí xã hội học số 2 (90)
Nhƣ vậy, ở mỗi kiểu loại xã hội sẽ có những loại tổ chức xã hội tƣơng ứng, phù
hợp với đặc điểm của xã hội đó. Theo đó thì ngay từ thời xã hội cổ truyền đã xuất hiện
các tổ chức phƣờng hội, mạng lƣới xã hội. Xã hội càng phát triển ở mức cao hơn thì các
tổ chức xã hội cũng đa dạng và phong phú hơn.
Cũng trong bài viết của mình, Bùi Thế Cƣờng đã có sự tổng hợp về các cách phân
chia tổ chức xã hội của các tác giả. Dƣới mỗi góc nhìn khác nhau các tác giả có những
cách phân chia khác nhau về tổ chức xã hội.
Theo Nguyễn Khắc Mai (1996) phân biệt hai loại hình cơ bản của các đoàn thể
Đại học dân lập, phổ thông dân lập, nhà trẻ mẫu giáo dân lập
Tổ chức chính trị xã hội, bán chính trị xã hội, tổ chức chính trị xã hội
mang tính nghề nghiệp (nhà nƣớc tài trợ toàn bộ hoặc 1 phần)
Hội, liên hiệp hội, liên đoàn (nhà nƣớc tài trợ toàn bộ, một phần hoặc
hoàn toàn không)
Viện, trung tâm trong các bộ, đại học công lập, tổ chức chính trị xã hội
Loại hình (tài trợ toàn bộ, một phần hoặc hoàn toàn không)
theo tên
Viện, trung tâm trong các hội (trung ƣơng hay địa phƣơng)
gọi phản Viện/trung tâm thành lập theo giấy phép/quyết định của bộ/sở khoa
ảnh tính
học Công nghệ và môi trƣờng
chất của
Công ty Tƣ vấn
tổ chức
Ủy ban, hội đồng (Nhà nƣớc, bán nhà nƣớc, phi chính phủ thuộc các
hội)
Quỹ (Nhà nƣớc, bán nhà nƣớc, phi chính phủ, thuộc các hội)
Câu lạc bộ
Chƣơng trình/dự án
Nhóm phi chính thức (đồng hƣơng, đồng học, đồng ngũ)
Kinh doanh, công nghiệp, du lịch
Luật
Chuyển giao công nghệ
Phát triển nông thôn, lâm nghiệp
Lĩnh vực Giáo duc, đào tạo
hoạt động Sức khỏe, thể thao, y dƣợc học, ..
Dân tộc ít ngƣời, phụ nữ, trẻ em, ngƣời già, khuyết tật, …
Môi trƣờng
Tín ngƣỡng
, 1999).
̉
́ h phu
Theo sƣ̣ phân loa ̣i của nhóm tác giả Lê Ba ̣ch Dƣơng trong nghiên cƣ́u về Xã hô ̣i
dân sƣ̣ ở Viê ̣t Nam thì các tổ chƣ́c xã hô ̣i ở Viê ̣t Nam đƣơ ̣c chia thành
5 loại gồm các
đoàn thể quầ n chúng; các Hội nghề nghiệp; các tổ chức cộng đồng, các tổ chức cung cấp
dịch vụ; các quỹ từ thiện , các trung tâm hỗ trợ ; các tổ chức không đăng kí , không chính
thƣ́c [68, tr 20]. Với cách phân loa ̣i nhƣ trên thì các tổ chƣ́c phi chiń h thƣ́c là nhƣ̃ng tổ
chƣ́c không đăng kí hoa ̣t đô ̣ng.
Tác giả Bế Quỳnh Nga đã phân biệt các tổ chức xã hội thành hai loại , gồ m các tổ
chƣ́c chin
́ h tri ̣xã hô ̣i và các tổ chƣ́c xã hô ̣i tƣ̣ nguyê.̣nTheo tác gia,̉ các tổ chức chính trị xã
hô ̣i là nhóm nhƣ̃ng tổ chƣ́c đƣơ ̣c Nhà nƣớc hỗ trơ ̣ và có hê ̣ thố ng tổ chƣ́c tƣ̀ trung ƣơng đế n
cơ sở còn các tổ chƣ́c xã hô ̣i tƣ̣ nguyê ̣n là nhƣ̃ng hô ̣i, nhóm thành lập một cách tự phát và
không có sƣ̣ hỗ trơ ̣ của Nhà nƣớc[43, tr.43 -51]. Theo đó, “tổ chức xã hội phi chính thức” là
14
tổ chức đƣợc thành lập không có sự hỗ trợ của nhà nƣớc và đƣợc thành lập một cách tự
phát.
Tổng hợp từ những quan điểm trên của các tác giả thì “tổ chức xã hội phi chính
thức” là nhóm những tổ chức xã hội đƣợc thành lập không có tƣ cách pháp nhân, đứng
độc lập với Nhà nƣớc, đƣợc thành lập một cách tự phát, không có đăng ký hoạt động.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, “tổ chức xã hội phi chính thức” là tổ chức đƣợc
thành lập dựa vào các thành viên không hƣởng lƣơng căn cứ trên nhu cầu và lợi ích của
ngƣời tham gia. Tính tự nguyện là đặc trƣng quan trọng của loại tổ chức này. Đặc biệt
Các tổ chức này hoạt động không liên quan hoặc ít có liên quan đến chính phủ về ngân
sách và nhân sự cũng nhƣ đƣờng hƣớng hoạt động. Và do đó, một số tổ chức mang tính
Đến năm 1995, nhà chính trị học Putnam đã lặp lại ý tƣởng của Coleman và đƣa
ra định nghĩa về vốn xã hội nhƣ sau: hiểu một cách tƣơng tự nhƣ những khái niệm vốn
vật thể và vốn con ngƣời – Đây là những phƣơng tiện và những kỹ năng đào tạo có tác
dụng làm gia tăng năng xuất của cá nhân – vốn xã hội nói tới những khía cạnh đặc trƣng
của tổ chức xã hội nhƣ các mạng lưới xã hội, các chuẩn mực và sự tin cậy trong xã hội
vốn tạo điều kiện thuận lợi cho sự phối hợp và sự hợp tác nhằm đạt đến lợi ích tƣơng hỗ.
Nhƣ vậy, trong khi Bourdieu nhấn mạnh tới vốn xã hội với tƣ cách là một thứ tài sản mà
mỗi cá nhân có thể có đƣợc, thì Coleman và Putnam lại hiểu vốn xã hội nhƣ một thứ tài
sản chung của một cộng đồng hay một xã hội nào đó. Putnam không những đã đào sâu
khái niệm vốn xã hội mà ông còn đề xuất những chỉ báo nhằm đo lƣờng vốn xã hội.
Ngoài ra, cách tiếp cận của ngân hàng thế giới hiện nay về vốn xã hội cũng phần
nào tƣơng tự nhƣ cách hiểu của Coleman và Putnam nêu trên: Vốn xã hội là một khái
niệm có liên quan tới những chuẩn mực và những mạng lưới xã hội dẫn đến hành động
tập thể.[69, tr 1]
Halperm lại cho rằng vốn xã hội là các mạng lưới xã hội, chuẩn mực của sự hợp
tác và lòng tin giữa những chủ thể hành động (Halpern D, 2005).
Theo Lin Nan (2001) thì “vốn xã hội” là “nguồn lực gắn với mạng lƣới xã hội và
đƣợc sử dụng bởi những ngƣời cho những hành động” (Halpern,2005)
Theo đó, vốn xã hội đƣợc bắt nguồn từ mạng lƣới xã hội và các quan hệ xã hội và
đƣợc đo lƣờng trong tƣơng quan với nguồn gốc của nó. Nhƣ vậy, vốn xã hội có thể đƣợc
coi nhƣ là các nguồn lực đƣợc gắn kết trong một cấu trúc xã hội và có thể đƣợc tiếp cận
và huy động trong một hành động có mục đích của chủ thế. Theo định nghĩa này thì vốn
xã hội bao gồm ba thành phần đó là: Nguồn lực đƣợc gắn kết trong một cấu trúc xã hội;
cá nhân có khả năng tiếp cận các nguồn lực này cho mục đích tìm kiếm lợi ích của mình
và hành động của cá nhân là hành động có mục đích.
Nhƣ vậy, vốn xã hội chứa đựng 3 yếu tố liên cấu trúc và hành động: đó là các khía
cạnh cấu trúc (sự gắn kết); cơ hội (có khả năng tiếp cận) và hành động có định hƣớng
(sử dụng). Và Lin coi vốn xã hội nhƣ là một tài sản xã hội có đƣợc thông qua những liên
kết của con ngƣời và việc tiếp cận những nguồn lực trong mạng lƣới hoặc tổ chức mà họ
là thành viên.
Sự tƣơng hỗ, có đi có lại dựa trên những quy tắc, hành vi mẫu mực chung
và sự chế tài
-
Sự kết hợp lại với nhau thành một mạng lƣới.
Có thể thấy rằng, trong cộng đồng xã hội ở nông thôn Việt Nam mang đầy đủ các
đặc trƣng của vốn xã hội nói trên. Từ cách tiếp cận vốn xã hội này sẽ giúp nghiên cứu
tập trung sâu hơn vào việc cá nhân, sử dụng, khai thác đƣợc các mối quan hệ của họ để
đạt đƣợc lợi ích cho gia đình và cho bản thân nhƣ thế nào. Và chỉ khi các mối quan hệ đó
đƣợc sử dụng và đem lại lợi ích cho cá nhân thì nó mới thực sự là vốn xã hội. Còn các
mối quan hệ không đƣợc sử dụng hoặc không đem lại lợi ích cho cá nhân thì đó chỉ là
vốn “chết” [45, tr 20].
17
1.1.1.3 Khái niệm vai trò
Vai trò là một khái niệm xuất phát kịch học. Đối với cấp độ cá nhân vai trò xã
hội của cá nhân đƣợc xác định trên cơ sở các vị thế xã hội tƣơng ứng và nó khác nhau
trong các xã hội khác nhau thậm chí qua các nhóm xã hội khác nhau. Một cách khái
quát, Vai trò là những đòi hỏi của xã hội đặt ra với các vị thế xã hội. Những đòi hỏi
này đƣợc xác định căn cứ vào chuẩn mực xã hội. Các chuẩn mực này thƣờng không
giống nhau trong các loại xã hội [46, tr273 – 274]. Theo nghĩa hẹp, gắn liền với vị thế
xã hội là quyền và nghĩa vụ, điều này đòi hỏi các cá nhân phải thực hiện các hành
động tƣơng ứng với từng vị thế theo nhƣ mô hình hành vi đƣợc xã hội mong đợi. Ở
nghĩa rộng hơn, vai trò thƣờng đƣợc hiểu nhƣ một tính từ chỉ tính chất của sự vật,
hiện tƣợng. Vai trò đƣợc dùng để nói về vị trí, chức năng, nhiệm vụ của sự vật, hiện
tƣợng trong một hoàn cảnh hoặc mối quan hệ nào đó [47, tr 56]. Trong các bối cảnh
không đồng đều. Cuối cùng, sự phân bố không đồng đều các nguồn lực đó dẫn tới cả sự
cộng tác và sự cạnh tranh. Một số nhóm liên kết với nhau để chiếm hữu các nguồn lực
hiếm hoi, trong khi các nhóm khác cạnh tranh và xung đột với nhau vì các nguồn lực đó.
Nhƣ vậy, thuyết mạng lƣới có một phẩm chất mang tính động năng, với cấu trúc của hệ
thống biến đổi theo các khuôn mẫu chuyển biến của các liên minh và xung đột [50, tr
76].
Các tác giả của lý thuyết MLXH đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu cấu trúc bên trong
của xã hội. Đó là cấu trúc của các mối liên hệ xã hội, tƣơng tác xã hội và quan hệ xã hội
giữa các cá nhân. Các lý thuyết cấu trúc xã hội đƣa ra lời giải thích về tác động của các
đặc điểm của cấu trúc MLXH đối với hành vi của cá nhân, các thành viên tham gia cấu
trúc xã hội đó. Hàng loạt những khái niệm, những mô hình đã đƣợc đƣa ra để nghiên cứu
MLXH. Trong số đó quan trọng nhất cần kể tới những đặc điểm định lƣợng nhƣ tần suất
tiếp xúc, cƣờng độ giao tiếp và các đặc điểm định tính nhƣ chiều, hƣớng, vị trí, kiểu,
dạng của mối liên hệ, cấp độ, đơn vị phân tích.
Trên cấp độ vi mô, các nghiên cứu MLXH chủ yếu thực hiện trong nhóm nhỏ
bằng phƣơng pháp trắc nghiệm tâm lý xã hội, ví dụ nghiên cứu của Jacob Moreno. Các
công trình này đã thúc đẩy hƣớng nghiên cứu xã hội học về các kiểu MLXH và vai trò
của chúng đối với sự thống nhất xã hội. Từ những nghiên cứu về các quá trình nhóm đã
phát hiện ra loại cấu trúc chính thức dựa vào quan hệ chính thức và cấu trúc phi chính
thức dựa vào mối tƣơng tác cá nhân. Các nhà tâm lý học chủ yếu nghiên cứu nhu cầu,
động cơ của MLXH; các nhà xã hội học tập trung nghiên cứu hình thù, khuôn mẫu, kiểu,
loại, quy mô và các đặc điểm định lƣợng của cấu trúc MLXH. Trên cấp độ vĩ mô, nghiên
cứu về mật độ và cƣờng độ của MLXH cho biết những đặc điểm của MLXH có tác dụng
khác nhau đối với giao tiếp và sự hội nhập xã hội [51, tr 89]
Ý nghĩa của thuyết MLXH đó là, bằng sự hiểu biết về mối quan hệ giữa một cá
nhân đối với ngƣời khác, chúng ta có thể đánh giá đƣợc VXH của cá nhân đó bởi vì
VXH liên quan đến vị trí mạng lƣới của khách thể và bao gồm khả năng đạt đƣợc các
nguồn lực có trong các thành viên của mạng xã hội đó. Nói cách khác, mạng lƣới các
quan hệ là sản phẩm của các chiến lƣợc đầu tƣ, của cá nhân hoặc tập thể, có ý thức hay
thông tin sẽ phong phú và mới mẻ hơn.
Xét về sự phong phú và mới mẻ của thông tin, các mối quan hệ yếu mới là yếu tố
chính làm tăng VXH của actor chứ không phải là các mối quan hệ mạnh bởi nó sẽ giúp
mở rộng MLXH của cá nhân [24, tr 48].
20