Truyền thuyết và lễ hội dân gian ở kiến thụy, hải phòng - Pdf 44

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
------------

MAI KIM THANH

TRUYỀN THUYẾT VÀ LỄ HỘI DÂN GIAN
Ở KIẾN THỤY, HẢI PHÒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Thái Nguyên: 2017


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
--------------

MAI KIM THANH

TRUYỀN THUYẾT VÀ LỄ HỘI DÂN GIAN
Ở KIẾN THỤY, HẢI PHÒNG

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Hằng Phương

Thái Nguyên: 2017




iii

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ................................................................................ 2
3. Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu .................................................................... 8
4. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu ............................................................. 8
5. Phạm vi nghiên cứu ......................................................................................... 10
6. Cấu trúc của luận văn ...................................................................................... 10
7. Đóng góp của luận văn .................................................................................... 10
NỘI DUNG ......................................................................................................... 12
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TẾ CỦA VIỆC TÌM HIỂU .................. 12
TRUYỀN THUYẾT VÀ LỄ HỘI DÂN GIAN Ở KIẾN THỤY, HẢI PHÒNG .... 12
1.1. Vài nét về điều kiện tự nhiên, xã hội và văn hóa ở Kiến Thụy, Hải Phòng ....... 12
1.1.1. Điều kiện tự nhiên ..................................................................................... 12
1.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội .......................................................................... 13
1.1.3. Điều kiện lịch sử - văn hóa ....................................................................... 14
1.2. Một số vấn đề lí luận .................................................................................... 16
1.2.1. Truyền thuyết ............................................................................................. 16
1.2.2. Lễ hội ......................................................................................................... 21
1.3. Tổng quan về văn học dân gian ở Kiến Thụy, Hải Phòng ........................... 24
1.3.1. Khái quát về các thể loại văn học dân gian ở Hải Phòng ....................... 24
1.3.2. Vài nét về truyền thuyết và lễ hội dân gian ở Kiến Thụy, Hải Phòng ...... 25
Chương 2: TRUYỀN THUYẾT Ở KIẾN THỤY, HẢI PHÒNG ...................... 28
2.1. Phân loại truyền thuyết ở Kiến Thụy, Hải Phòng ........................................ 28
2.1.1. Truyền thuyết về nhân vật lịch sử ............................................................. 28
2.1.2. Truyền thuyết về những nhân vật sáng tạo văn hóa ................................. 29

PHỤ LỤC 2 ....................................................................................................... 107
PHỤ LỤC 3…………………………………………………………………...110


1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Theo dòng thời gian, xã hội ngày càng phát triển không ngừng trong sự
giao thoa hội nhập, tiếp thu các thành tựu văn hóa của các nước trên thế giới, tuy
nhiên các tác phẩm dân gian vẫn cứ tồn tại bền bỉ như dòng sông chảy mãi đến vô
tận. Cất lên từ cuộc sống và phát triển qua bao thăng trầm lịch sử, văn học dân
gian vẫn luôn là một bộ phận quan trọng trong nền văn học nước nhà; trong đó
phải kể đến truyền thuyết. Truyền thuyết với cái cốt lõi là sự thực lịch sử, nó gắn
bó chặt chẽ với lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc; với những địa danh
thắng cảnh nổi tiếng; với nền văn hóa nghìn đời. Truyền thuyết là một thể loại
văn học dân gian. Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng, có nguồn
gốc phát sinh và phát triển gắn với sự phát triển của dân tộc Việt Nam.
Truyền thuyết, lễ hội, mối quan hệ giữa truyền thuyết và lễ hội đã được các
nhàn ghiên cứu quan tâm tìm hiểu. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu mới chỉ
xem xét mối quan hệ đó ở phạm vi văn học dân gian và lễ hội của người Việt nói
chung và ở một số địa bàn văn hóa cụ thể.
Hải Phòng là một vùng đất giàu truyền thống, nơi đây cất giữ nhiều di sản
văn hóa quý báu của dân tộc. Các truyện kể dân gian gắn với những lễ hội độc
đáo cũng không nằm ngoài di sản ấy. Đặc biệt, truyền thuyết về các lễ hội dân
gian ở Kiến Thụy, Hải Phòng rất đa dạng, phong phú, tô điểm thêm cho diện mạo
truyền thuyết vùng đất cảng giầu truyền thống văn hóa này.
Tổ chức lễ hội và đi lễ đầu năm từ lâu đã là nét văn hóa truyền thống của
người dân Việt Nam với mong ước cầu an, may mắn, sức khỏe cho gia đình và
bản thân trong năm mới. Với mong muốn cung cấp thêm tư liệu về các truyền

Tuy nhiên, trong những tác phẩm vừa dẫn, truyền thuyết mới được quan
tâm, sưu tầm, tuyển chọn để lưu giữ, truyền lại cho đời sau. Đó chưa phải các


3

công trình nghiên cứu truyền thuyết với tư cách là những tác phẩm văn học dân
gian, gắn với môi sinh của chúng.
Các nhà nghiên cứu văn học Việt Nam từng tranh luận về khái niệm truyền
thuyết. Một số tác giả phủ nhận sự tồn tại của truyền thuyết với tư cách là thể loại
văn học dân gian độc lập như Nguyễn Đổng Chi, Đinh Gia Khánh... Ngược lại,
Đỗ Bình Trị, Kiều Thu Hoạch và nhiều nhà nghiên cứu khác quan niệm truyền
thuyết là một thể loại tự sự dân gian.
Trong cuốn giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam (Bùi Văn Nguyên chủ
biên), Đỗ Bình Trị xếp truyền thuyết bên cạnh thần thoại, và định nghĩa: “truyền
thuyết là những truyện có dính líu đến lịch sử mà lại có sự kỳ diệu – là lịch sử
hoang đường – hoặc là những truyện tưởng tượng ít nhiều gắn với sự thực lịch
sử. Tính chất thể loại của truyền thuyết bắt đầu được khẳng định rõ.”
Cuốn sách Truyền thống anh hùng dân tộc trong loại hình tự sự dân gian
Việt Nam (1971) là công trình của nhiều tác giả, trong đó tuyển tập các bài viết
nghiên cứu về truyền thuyết đã xuất bản. Các tác giả cuốn sách này đều khẳng
định truyền thuyết là một thể loại văn học dân gian. Đáng chú ý là tác giả Kiều
Thu Hoạch nhận định: “Truyền thuyết là một thể tài truyện kể truyền miệng nằm
trong loại hình tự sự dân gian; nội dung cốt truyện của nó là kể lại truyện tích
các nhân vật lịch sử hoặc giải thích nguồn gốc các phong vật theo quan niệm
nhân dân, biện pháp nghệ thuật phổ biến của nó là khoa trương phóng đại, đồng
thời nó cũng sử dụng những yếu tố hư ảo, thần kỳ như cổ tích và thần thoại…”
Tại mục từ truyền thuyết trong cuốn Từ điển văn học do Chu Xuân Diên
(chủ biên, 1980) cũng khẳng định: truyền thuyết là một trong những thể loại tự sự
dân gian, có quan hệ gần gũi với các thể loại tự sự dân gian khác như thần thoại

văn hoá Việt Nam.
Vào thời kì nửa cuối thế kỉ XX, các công trình nghiên cứu về lễ hội ở hai
miền Nam – Bắc bắt đầu được chú ý sưu tầm. Ở miền Nam, có thể kể đến các
công trình: Lễ tế xuân hay Đám rước thần nông của Nguyễn Bửu Kế, Nhớ lại hội


5

hè đình đám của Nguyễn Toại, Mùa xuân với đời sống tình cảm Việt Namvà Trẩy
hội hành hương của Nguyễn Đăng Thục, Nếp cũ hội hè đình đám của Toan Ánh.
Ở miền Bắc có các công trình Một số tục cổ và trò chơi Việt Nam trong tết nguyên
đán và mùa xuân của Nguyễn Đổng Chi, Hà Nội nghìn xưa của Trần Quốc Vượng,
v.v.
Từ 1975 đến nay đã có nhiều học giả quan tâm nghiên cứu sâu sắc về lễ
hộidưới góc độ văn hóa học, như: Đất lề quê thói của Nhất Thanh; Lễ hội truyền
thống và hiện đại của Thu Linh và Đặng Văn Lung, 60 lễ hội truyền thống Việt
Nam của Thạch Phương và Lê Trung Vũ; Lễ hội Việt Nam của Lê Trung Vũ và
Lê Hồng Lý; Lễ hội cổ truyền do Lê Trung Vũ chủ biên, Lễ hội truyền thống trong
đời sống xã hội hiện đại của Đinh Gia Khánh và Lê Hữu Tầng, v.v… Các công
trình trên đã miêu tả một cách có hệ thống, sinh động, nguồn gốc, sự hình thành
và phát triển, quá trình lưu truyền các lễ hội dân gian Việt Nam, đồng thời khái
quát những nét đặc sắc của lễ hội các vùng miền.
Tiêu biểu cho các công trình nghiên cứu này là các tác giả và các công trình
sau: Nguyễn Quang Lê với “Khảo sát thực trạng văn hóa lễ hội truyền thống của
người Việt ở đồng bằng Bắc bộ trong xã hội hiện nay”; (Viện nghiên cứu văn hoá
dân gian, Hà Nội, 1999). Tác giả đã nêu khái quát chung về thực trạng văn hoá lễ
hội truyền thống trong lịch sử dân tộc Việt Nam và thực trạng một số lễ hội tiêu
biểu ở đồng bằng Bắc Bộ.
Trong luận văn Lễ hội Việt Nam trong sự phát triển du lịch (Trường Đại
học văn hoá Hà Nội, 2004), tác giả Dương Văn Sáu với đã nghiên cứu tổng quan

và lễ hội về người anh hùng lịch sử của dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc, đặc biệt là
làm sáng tỏ mối quan hệ giữa hai vi hệ văn hoá này trên các phương diện: quan
hệ tương tác, hỗ trợ của hai vi hệ văn hoá này đến sự hình thành và phát triển của
nhau, đến việc phản ánh người anh hùng lịch sử và sự biến đổi của mối quan hệ
này trong cuộc sống hiện nay. Tác giả cũng chứng minh rằng truyền thuyết có sự
ảnh hưởng lớn tới sự nảy sinh và phát triển của lễ hội về người anh hùng lịch sử


7

của dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc. Đến lượt mình, lễ hội lại giúp hiện thực hoá
niềm tin trong truyền thuyết, bảo lưu truyền thuyết. Cả truyền thuyết và lễ hội đều
phản ánh người anh hùng lịch sử nhưng theo những cách riêng, khác nhau và
mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc, vùng miền.
Tác giả Bùi Thị Bích Loan (2012) trong Khóa luận tốt nghiệp Truyền thuyết
và lễ hội đền Vua Bà, miếu Đức Ông ở Sơn Động, Bắc Giang đã nghiên cứu những
giá trị nội dung và nghệ thuật của truyền thuyết Vua Bà, Đức Ông từ đó làm sáng
tỏ mối quan hệ giữa truyền thuyết với lễ hội ở đền và miếu Vua Bà, Đức Ông tại
huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.
Đề tài khoa học Nghiên cứu truyền thuyết và lễ hội dân gian ở Thái Nguyên
theo hướng bảo tồn và phát triển bền vững của tác giả Nguyễn Hằng Phương
(2015) là một công trình nghiên cứu chuyên sâu, trong đó tập trung tìm hiểu mối
quan hệ hữu cơ giữa lễ hội và truyền thuyết. Từ việc khẳng định lễ hội và truyền
thuyết song song tồn tại, gắn bó mật thiết và tương hỗ lẫn nhau, tác giả đưa ra
những giải pháp khoa học cho việc bảo tồn và phát triển những giá trị văn học,
văn hóa dân gian ở Thái Nguyên nói riêng và toàn quốc nói chung.
Cuốn “Kiến Thụy xưa và nay” [Nhà xuất bản Lao động, 2009], được xem
là cuốn sách nghiên cứu đầy đủ nhất về các lễ hội ở Kiến Thụy, Hải Phòng. Tuy
nhiên, đây là công trình khảo cứu và miêu tả, phục dựng bức tranh tổng quát về
các lễ hội, lịch sử vùng đất Kiến Thụy dưới góc nhìn văn hóa, chứ chưa có nội

4. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
4.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu, chúng tôi xác định nhiệm vụ nghiên cứu
của luận văn là:
- Nghiên cứu những cơ sở lí luận và thực tiễn có liên quan đến đề tài làm
cơ sở cho việc nghiên cứu.


9

- Khảo sát truyền thuyết về các lễ hội dân gian ở Kiến Thụy, Hải Phòng
trên phương diện nội dung, nghệ thuật; phân tích mối quan hệ giữa truyền thuyết
và lễ hội dân gian để thấy được vai trò của văn học dân gian trong đời sống sinh
hoạt của nhân dân.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi đã sử dụng những phương pháp sau:
- Phương pháp điền dã văn học dân gian: đây là phương pháp có thể hiểu
là điều tra thực tế, tức là người nghiên cứu sẽ phải đi tiếp xúc với người thật, việc
thật để tìm kiếm tư liệu cho nghiên cứu của mình. Phương pháp này được áp dụng
trong rất nhiều ngành khoa học xã hội như: xá hội học, ngôn ngữ học, nhân học,…
đặc biệt trong nghiên cứu văn học dân gian thì đây là một phương pháp điều tra
rất quan trọng.
- Phương pháp thống kê: là một hệ thống các phương pháp: thu thập và xử
lý số liệu, điều tra chọn mẫu, nghiên cứu mối liên hệ giữa các hiện tượng nghiên
cứu nhằm phục vụ cho quá trình phân tích, dự đoán và ra quyết định.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: đây là hai phương pháp có quan hệ mật
thiết với nhau tạo thành thể thống nhất không thể tách rời; Phân tích đối tượng
trên cơ sở những mặt, những bộ phận,những mối quan hệ, tư đó tổng hợp lại thành
một hệ thống, một phạm trù, một chỉnh thể đầy đủ và sâu sắc về đối tượng nghiên
cứu.

Chương 3: Lễ hội dân gian trong mối quan hệ với truyền thuyết ở Kiến
Thụy, Hải Phòng
7. Đóng góp của luận văn
- Là công trình ghiên cứu một cách tương đối toàn diện, hệ thống về truyền
thuyết và các lễ hội dân gian ở Kiến Thụy, Hải Phòng,


11

- Nghiên cứu về truyền thuyết và các lễ hội dân gian liên quan để mọi người
có được cái nhìn toàn vẹn hơn đời sống văn hóa tinh thần của địa phương.
- Khơi dậy lòng say mê khám phá các giá trị độc đáo ở một địa bàn văn hóa
tiêu biểu có lượng truyền thuyết và lễ hội phong phú, đa dạng.
- Góp phần giữ gìn, phát huy vốn văn hóa dân gian cổ truyền của quê hương
và dân tộc.


12

NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TẾ CỦA VIỆC TÌM HIỂU
TRUYỀN THUYẾT VÀ LỄ HỘI DÂN GIAN Ở KIẾN THỤY, HẢI PHÒNG
Những mạch nguồn văn học dân gian đã thấm đẫm và nuôi dưỡng bao cái
hay, cái đẹp cho tâm hồn muôn triệu con người hôm qua, hôm nay và đến mãi mai
sau. Qua bao năm tháng truyền thuyết gắn với các lễ hội dân gian đã đi vào đời
sống tâm linh của những người con trên quê hương Kiến Thụy. Sức sống bền bỉ
ấy được nảy sinh trên một nền tảng kinh tế, văn hóa, xã hội phong phú, đa dạng
của địa phương. Tìm hiểu những yếu tố về kinh tế, văn hóa, xã hội trên giúp chúng
ta phần nào lí giải được cội nguyền dân gian của truyền thuyết nói chung và truyền

Nằm gần biển nên độ ẩm quanh năm tương đối cao 85%, ngay cả các tháng
mùa đông chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc khô lạnh độ ẩm vẫn xấp xỉ 80%,
còn các tháng mùa hạ có thể đạt 85% - 90%. Lượng mưa phong phú, trên 1600mm,
lượng mưa phân bố tho mùa khá sâu sắc, tập trung từ tháng 5 đến tháng 10.
Sự luân phiên tranh chấp của các khối khí cơ bản khác nhau làm cho thời
tiết và khí hậu thường xuyên bị biến động. Nằm trong địa phận hẹp và các thành
tạo địa chất khá đơn giản, Kiến Thụy không có mỏ khoáng sản quan trọng nào,
trừ các mỏ vật liệu xây dựng có quy mô nhỏ và nước ngầm trữ lượng hạn chế.
Các sông lớn chảy qua huyện đều là những nhánh sông của hệ thống sông
Thái Bình, có độ uốn khúc lớn. Sông Văn Úc và nhánh sông Đa Độ phù sa đã hình
thành nên một dải đồng bằng màu mỡ nhưng không lớn lắm.
1.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội
Kiến Thụy là huyện ven biển, nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp và thủy
sản. Qua các thời kì thành phố luôn đầu tư mọi nguồn lực, kể cả cán bộ để xây
dựng Kiến Thụy thành huyện có kinh tế - xã hội phát triển, an ninh quốc phòng


14

vững mạnh. Những năm đầu của thế kỉ XXI, kinh tế của huyện luôn đạt tốc độ
tăng trưởng cao, bình quân 13,8%/năm; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng
tích cực, nông nghiệp 27%, công nghiệp xây dựng 48%, dịch vụ 25%, văn hóa xã
hội có nhiều tiến bộ mới. Kinh tế không ngừng phát triển, thu nhập bình quân đầu
người ngày càng tăng, thu nhập bình quân đầu người đạt 9,4 triệu đồng. Cơ sở hạ
tầng điện, đường, trường, trạm, hiện nay đang được đầu tư khá đồng bộ theo
hướng đô thị hóa, từng bước đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa
nông nghiệp, nông thôn.
Tuy vậy, Kiến Thụy vẫn là một huyện kém phát triển về cơ cấu sản xuất
kinh tế, dịch vụ. Sự giao lưu, kết nối về kinh tế, dịch vụ nghề biển, du lịch, sản
xuất và thương mại của vùng đất này còn rất hạn chế. Tuy nhiên, dường như đối

An Thái và An Thọ của huyện An Lão, cách huyện Tiên Lãng một chuyến đò qua
sông Văn Úc. Trước năm 1945, Ngũ Phúc là trung tâm của tổng Nghi Dương
(trùng với tên huyện cũ) gồm cả các xã Kiến Quốc và Du Lễ ngày nay. Hiện tại
Ngũ Phúc có khoảng 6.500 nhân khẩu thì có tới 155 dòng họ, quây quần đầm ấm
trong 5 thôn: Nghi Dương, Mai Dương, Xuân Chiếng, Xuân Đông và Xuân Đoài.
Không chỉ có đất thiêng, Kiến Thụy còn là nơi hội tụ của văn hóa và con
người đặc sắc. Từ lâu, Kiến Thụy đã được coi là một trong những nơi du nhập
đạo Phật sớm nhất nước ta, từ những thế kỉ trước Công nguyên với trung tâm Phật
giáo Nê Lê (Đồ Sơn ngày nay). Tháp Tường Long do vua Lí Thánh tông (1023 1072), vị vua thứ 3 rất sùng đạo phật của triều Lí đứng ra chủ trì việc xây dựng.
Tháp được khởi dựng năm 1058. Vào thời Mạc với tên Dương Kinh, Kiến Thụy
thời đó cũng là một trung tâm Phật giáo lớn.
Kiến Thụy từ lâu đã là mảnh đất có truyền thống về văn hóa, học vấn và tri
thức. Trải qua các thời đại cho tới ngày nay lúc nào Kiến Thụy cũng có người đỗ
đạt cao, những học giả nổi tiếng. Thời phong kiến, huyện có 14 người đỗ tiến sĩ,
trong đó có Bùi Đình Dự, người Nãi Sơn đỗ Đình nguyên Hoàng Giáp. Kiến Thụy
cũng là miền đất thượng võ mà biểu tượng là Trương Nữu, Vũ Hải, Mạc Đang


16

Dung, Vũ Hộ,… Nơi đây còn là căn cứ cuộc khởi nghĩa nông dân do Quận He –
Nguyễn Hữu Cầu lãnh đạo chống lại triều đình Lê – Trịnh.
Truyền thống chống giặc ngoại xâm là biểu hiện cao đẹp của ý thức dân tộc
mà nhân dân Kiến Thụy hàng ngàn năm nay đã hun đúc, rèn luyện nên. Truyền
thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm có mặt quan hệ chặt chẽ đến cả nước, đến
vùng đất Hải Tần phòng thủ, song đáng ghi nhận là người Kiến Thụy luôn có mặt
trên tuyến đầu ở nhiều thời điểm nóng bỏng của lịch sử. Kiến Thụy nổi danh với
Kim Sơn kháng Nhật thắng lợi, nơi giành chính quyền về tay nhân dân sớm nhất
vùng duyên hải Bắc Bộ (12/7/1945). Quân dân Kiến Thụy trực tiếp góp phần cùng
bộ đội chủ lực tỉnh Kiến An làm nên một chiến thắng Cát Bi rực lửa, phá hủy 59

của các nhà nghiên cứu cũng khác nhau. Dưới đây chúng tôi điểm lại những quan
điểm cơ bản.
Khái niệm truyền thuyết đang được dùng phổ biến hiện nay tương đương
với thuật ngữ "legend" của tiếng Anh hay "légende" của tiếng Pháp.
Theo Từ điển tiếng Việt: “Truyền thuyết là một thể loại truyện dân gian
truyền miệng về các nhân vật và sự kiện có liên quan đến lịch sử, thường mang
nhiều yếu tố thần kỳ”. [24,tr.1053].
Các tác giả cuốn Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa: “Truyền thuyết là
một thể loại truyện dân gian mà chức năng chủ yếu là phản ánh và lý giải các
nhân vật và sự kiện lịch sử có ảnh hưởng quan trọng đối với một thời kì, một bộ
tộc, một dân tộc, một quốc gia hay một địa phương”. [12, tr.367]
Kiều Thu Hoạch trong Truyền thuyết anh hùng trong loại hình tự sự dân
gian đã chỉ ra rằng: “Truyền thuyết là một thể tài chuyện kể truyền miệng nằm
trong loại hình tự sự dân gian. Nội dung cố truyện kể lại truyền tích các nhân vật
lịch sử hoặc giải thích các phong vật địa phương theo quan điểm của nhân
dân”.[ 9,tr.145-176].


18

Định nghĩa truyền thuyết của Lê Chí Quế: Truyền thuyết là một thể loại
trong loại hình từ sự dân gian phản ánh những sự kiện, nhân vật lịch sử hay di
tích cảnh vật địa phương thông qua sự hư cấu nghệ thuật thần kỳ [3]. [3] Lê Chí
Quế (chủ biên) – Văn học dân gian Việt Nam – NXB Đại học Quốc gia HN –
H.1998
Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về truyền thuyết, nhưng tựu trung
lại, quan điểm của ba nhà nghiên của Lê Chí Quế, Võ Quang Nhơn, Nguyễn Hùng
Vĩ dưới đây thâu tóm được những tiêu chí cơ bản về thể loại của truyền thuyết.
Quan điểm này cũng được đa số các nhà nghiên cứu chấp nhận:
“Truyền thuyết là một thể loại trong loại hình tự sự dân gian, phản ánh

phân loại truyền thuyết sau:
- Truyền thuyết địa danh (về tên gọi của các địa danh)
- Truyền thuyết lịch sử (về nhân vật lịch sử và sự kiện lịch sử)
- Truyền thuyết phổ hệ (về nguồn gốc lịch sử của các dòng họ, các ngành
nghề, các tôn giáo…)
Hoặc cụ thể hơn
- Truyền thuyết về sự hình thành dân tộc
- Truyền thuyết về các vị anh hùng trong chiến đấu
- Truyền thuyết về những vị anh hùng trong lao động và sáng tạo văn hoá
- Truyền thuyết về địa danh và đền chùa
1.2.1.3. Kết cấu của truyền thuyết
Kết cấu của truyền thuyết là kết cấu trực tuyến, kết cấu theo thời gian vật
lí, diễn biến của sự việc, không có sự đồng hiện và không có sự xen kẽ thời gian
hiện tại - quá khứ. Kết cấu của truyền thuyết thường gồm ba phần: phần một là
hoàn cảnh xuất hiện nhân vật hoặc nguồn gốc địa danh; phần hai kể về sự nghiệp
của nhân vật hoặc quá trình diễn biến lịch sử của địa danh; phần ba là phần kết



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status