Khảo sát truyền thuyết và lễ hội đinh lê ở ninh bình - Pdf 96


1
Khảo sát truyền thuyết và lễ hội Đinh Lê ở
Ninh Bình

Giang Thị Thu Phương

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Khoa Văn học
Chuyên ngành: Văn học dân gian; Mã số: 60. 22. 36
Người hướng dẫn: GS. TS Lê Chí Quế
Năm bảo vệ: 2012

Abstract. Khái quát về Triều đại Đinh - Lê trong lịch sử và trong truyền thuyết dân gian.
Nghiên cứu và giải mã một số biểu tượng văn hoá trong truyền thuyết Đinh Lê. Nghiên
cứu về lễ hội và những tín ngưỡng gắn với truyền thuyết Đinh Lê.

Keywords. Văn hóa dân gian; Truyền thuyết; Lễ hội Đinh Lê; Ninh Bình; Tín ngưỡng

Content.

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Triều Đinh Lê gắn với giai đoạn đặc biệt của lịch sử Việt Nam, giai đoạn của kỉ
nguyên độc lập, tự chủ và phục hưng dân tộc. Đây cũng là giai đoạn mà đặc điểm văn
hóa mang những nét đặc thù, cấu thành bản sắc chung của văn hóa nước Việt Nam ta
ngày nay. Tuy nhiên, các công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu về văn hóa giai
đoạn này, đặc biệt là văn hóa – văn học đang còn khá ít ỏi, sơ lược, nhiều vấn đề còn bỏ
ngỏ.
Luận văn này, ngoài việc góp phần hệ thống, tìm hiểu và cung cấp thêm một cái
nhìn về văn hóa, văn học thời Đinh Lê còn là dịp thể hiện niềm tự hào về quê hương của
tác giả luận văn.

loại truyền thuyết ra một cách riêng biệt mà vẫn để chung trong kho tàng tự sự dân gian.
Với công trình Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam,
Nguyễn Đổng Chi đã có những kiến giải khá thuyết phục về việc đánh giá truyền thuyết
là một thể loại văn học dân gian độc lập.
 Những năm 60 của thế kỉ XX
Đây là khoảng thời gian mà vấn đề truyền thuyết đã thu hút sự quan tâm đặc biệt
của nhiều nhà nghiên cứu với nhiều cuộc tranh luận “nảy lửa”, cũng như trong các
tuyển tập của một số nhà xuất bản. Những tranh luận giai đoạn này chủ yếu xoay quanh
việc định giá yếu tố sử trong truyền thuyết.
 Những năm 70 của thế kỷ XX
Các nhà nghiên cứu đã tập trung nghiên cứu sâu hơn về mặt thể loại của truyền
thuyết với những tác giả tiêu biểu như Đinh Gia khánh, Nguyễn Ngọc Côn, Tầm Vu,
Phan Trần, Kiều Thu Hoạch. Trong đó phải kể đến các công trình Truyền thuyết anh
hùng trong thời kì phong kiến của Kiều Thu Hoạch, Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian
Việt Nam của Cao Huy Đỉnh.
 Những năm 80 của thế kỷ XX
Các bài viết đăng trên Tạp chí văn học, Văn hoá dân gian, Văn hoá nghệ thuật,
Khảo cổ học… là chủ yếu. Có thể kể đến 4 bài của tác giả Bùi Quang Thanh trên Tạp chí
văn học và Tạp chí khảo cổ học. Các bài viết của tác giả này thiên về chú ý tích sử trong
các truyền thuyết dân gian mà chưa chú ý đúng mức tới đặc trưng nghệ thuật của thể loại.
Do đó, về cơ bản việc nghiên cứu truyền thuyết như là một thể loại văn học dân gian vẫn
chưa có những bước tiến đáng kể.
 Những năm 90 của thế kỷ XX

3
Đây là giai đoạn đánh dấu sự buớc tiến của việc nghiên cứu truyền thuyết dưới góc
độ bản chất thể loại. Các công trình tiêu biểu như Giông bão Loa thành của Đặng Văn
Lung, Giáo trình văn học dân gian Việt Nam của trường Đại học Sư phạm và Đại học
Tổng hợp, Bàn thêm về thể loại truyền thuyết của Chiêng Xom An
2.2. Những tư liệu liên quan đến thời Đinh Lê

chủ đó là bề dày văn hoá, văn hiến. Văn hóa, văn hiến quyết định sự bền vững, cao cả cho
tính cách, tâm hồn, tâm linh. Ông còn dẫn ra cuốn Kiến văn tạp lục của học giả Lê Quý
Đôn. Trong cuốn sách này, Lê Quý Đôn đã ghi lại những trang thơ đằm thắm của các thiền
sư Trung Hoa khi tiễn đưa các thiền sư Giao Châu rời Tràng An về nước.

4
Ngoài ra còn có một số bài viết về triều đại Đinh – tiền Lê như tác giả Lê văn Hảo
với bài Thời Ngô – Đinh – Tiền Lê của văn hoá Hoa Lư (Nguồn:

Trên website: có bài viết Hoa Lư viết
một cách khá chi tiết về nhà Đinh, nhà Tiền Lê, nhà Lý, kiến trúc thành Hoa Lư, thành
Tràng An, núi Mã Yên, núi Cột Cờ, sông Hoàng Long, cung điện Hoa Lư, văn hoá Hoa
Lư.
Các bài viết có liên quan đến kinh đô Hoa Lư và triều đại Đinh – tiền Lê khác có
thể kể đến như: Về Ðường Lâm thăm quê hương Ngô Quyền; Vị tổ Trung hưng thứ nhất
của dân tộ;, Về thăm Hoa Lư, kinh đô nước Ðại Cồ Việt thời Ðinh và thời Tiền Lê; Hội
Trường Yên vang bóng văn hóa; Văn học, tư tưởng và tôn giáo thời kỳ văn hóa Hoa Lư,
Vài nét về diện mạo văn học trung đại Ninh Bình của tác giả Bùi Ngọc Minh.
Từ tháng 10/2008-1/2011, tác giả Vân Giang có bài viết về Cố đô Hoa Lư khá
tường tận chi tiết như giới thiệu tổng quan, hành trình thăm viếng, các nhóm di tích (các
đình, đền, các chùa cổ, các lăng bia, các phủ miếu), dấu tích kinh thành (cung điện dưới
lòng đất, thành thiên tạo, đô thị cổ Hoa Lư). (Nguồn:

Gần đây có một số cuốn sách của các nhà nghiên cứu lật lại vấn đề lịch sử, tỏ ý nghi
ngờ Đỗ Thích không phải là kẻ chủ mưu trong vụ sát hại cha con Đinh Tiên Hoàng năm
Kỉ Mão (tác giả Trần Xuân Sinh trong Việt sử kỉ yếu, Đặng Xuân Bảng trong Sử học bị
khảo, Phan Duy Kha – Lã Duy Lan – Đinh Công Vĩ trong Nhìn lại lịch sử). Theo hướng
nhận định đó, các tác giả cho rằng Đỗ Thích chính là tay chân của Lê Hoàn, là con tốt mà
Lê Hoàn đã thí mạng trong ván cờ quyền lực của ông. Tác giả Trần Xuân Sinh đã đoán
định rằng Dương Thái Hậu, nếu không lấy áo long bào mặc cho Lê Hoàn thì bọn Phạm

Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là khảo sát truyền thuyết Đinh Lê ở Ninh Bình
cả ở mặt lịch sử, truyền thuyết, trong các tín ngưỡng, sinh hoạt văn hoá văn nghệ…
Trong quá trình viết luận văn này, chúng tôi có tham khảo tư liệu của một số sách
sử học như Đại Việt sử kí toàn thư, Việt sử thông giám cương mục, Việt sử lược, Việt
Nam sử lược
4. Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi đã sử dụng chủ yếu các phương pháp như phân tích tổng hợp tư liệu
(gồm cả tư liệu lịch sử, tư liệu văn học, những tài liệu chưa xuất bản, những lời truyền
miệng ở địa phương…) và phương pháp điền dã, thực địa, ghi chép, quay phim, chụp
ảnh, phỏng vấn…
5. Đóng góp của luận văn
Cố gắng nhìn nhận được mối quan hệ gắn bó mật thiết hữu cơ giữa truyền thuyết –
lịch sử - lễ hội. Các anh hùng không chỉ sống trong những lời kể mà còn sống trong
những nghi lễ thờ cúng với những nghi thức, những tập tục sinh động. Ngoài ra, luận văn
hi vọng sẽ góp thêm một số tư liệu bổ sung vào việc nghiên cứu truyền thuyết Đinh Lê ở
Ninh Bình.
6. Kết cấu
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn có ba chương:
Chương 1: Triều đại Đinh Lê trong lịch sử và trong truyền thuyết dân gian.
Chương 2: Giải mã một số biểu tượng văn hoá trong truyền thuyết Đinh Lê.
Chương 3: Lễ hội và những tín ngưỡng gắn với truyền thuyết Đinh Lê.

Chương 1:
TRIỀU ĐẠI ĐINH LÊ TRONG LỊCH SỬ VÀ TRONG
TRUYỀN THUYẾT DÂN GIAN
1.1. Vua Đinh Tiên Hoàng và vua Lê Đại Hành trong lịch sử
Thế kỉ X đánh dấu một chuyển biến lớn lao về nhiều mặt, có ý nghĩa như bước
ngoặt của lịch sử dân tộc với trục trung tâm là chống Bắc thuộc, giành độc lập dân tộc,
chấm dứt họa mất nước kéo dài hơn nghìn năm và mở ra một thời kì phát triển độc lập
của đất nước. Thành tựu trọng đại của thế kỉ bản lề đó là sự thành lập và củng cố chính

lịch sử). Dù nhân vật và sự kiện lịch sử được bọc trong vòng hào quang lung linh ấy là
lịch sử xác thực song cũng không phải không có lí khi cho rằng có thể tìm thấy những giá
trị thông tin đằng sau quầng sáng vạn hoa ấy. Đúng như M.Gocki đã từng nói: “Từ thời
viễn cổ văn học dân gian luôn là người bạn đồng hành khăng khít và đặc thù của lịch
sử”.
Truyền thuyết hơn bất cứ thể loại nào khác, có một mối liên hệ sâu xa và bền chặt
đối với lịch sử. Tuy vậy vẫn phải khẳng định rằng truyền thuyết không phải là những tài
liệu lịch sử: “Nó là những sáng tác nghệ thuật về đề tài lịch sử” [33, 60]. Lịch sử là “cái
lõi” chứ không phải “đường viền”. Tất nhiên đó là một thứ lịch sử được tái tạo chứ không
phải đơn thuần được tái hiện. Có thể thấy rằng những sự kiện và nhân vật được phản ánh
trong truyền thuyết không phải là những sự thật lịch sử trần trụi mà còn bao hàm cả thái
độ và cách đánh giá của nhân dân đối với lịch sử. Vì vậy truyền thuyết dân gian được coi
là một kho tàng vô giá đối với sử học. Nó có tác dụng bổ sung, đính chính, sàng lọc kiến
thức của chúng ta về lịch sử.

7
Truyền thuyết Đinh Lê thuộc kiểu “chùm truyền thuyết” nên nhân vật Đinh Bộ Lĩnh
và Lê Đại Hành được hiện lên ở nhiều câu chuyện mà trục trung tâm là sự kiện lịch sử
của triều đại. Với thái độ thành kính biết ơn và ngưỡng mộ, cuộc đời mà nhất là tuổi thơ,
gốc gác của Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành đã được thiêng hóa và biểu tượng hóa.
Đây là hai yếu tố khiến cho sự tách bạch đơn vị thời gian mang tính lịch sử này ra khỏi
lịch sử của dân tộc là rất khó và ngược lại, cũng nhờ đó mà lịch sử dân tộc đã in bóng vào
đơn vị thời gian ấy theo cách này hay cách nọ.
Truyền thuyết Đinh Lê xuất hiện sau khi sự kiện đã xảy ra rồi, vì vậy người kể có
độ lùi về thời gian để vừa kể vừa bình giá về các sự kiện về các nhân vật. Điều đó tạo nên
độ vênh giữa lịch sử và truyền thuyết. Sự thật lịch sử trong truyền thuyết không phải là
được ghi chép một cách đầy đủ từng chi tiết như trong sử biên niên mà chỉ lựa chọn một
vài sự kiện lớn. Trong “rừng” sự kiện ấy có một hệ quy chiếu chung đó là các sự kiện ấy
đều gắn bó mật thiết với ba sự kiện trọng đại nhất: sự kiện Ngô Quyền chiến thắng quân
Nam Hán, sự kiện Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân thu non sông về một mối và sự kiện

cấu. Các nhân vật ấy được gắn với một môi trường lịch sử, một sự kiện lịch sử chẳng qua
là để củng cố niềm tin cho truyền thuyết. Trong truyền thuyết Đinh Lê có nhiều nhân vật
không phải là nhân vật lịch sử như ba anh em họ Nguyễn ở Thạch Khê, ba anh em ở
Lộng Đình, Kinh Bắc, Võ Trung, Hoa Nương, Trần Mẫn Công Tuy vậy người đọc lại
có cảm giác đó là những nhân vật có thực vì các truyền thuyết đã khéo lồng vào đó những
sự kiện lịch sử, những nhân vật lịch sử (có quan hệ với các nhân vật được hư cấu vừa kể
trên) như Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Đỗ Cảnh Thạc…
Đây chính là bút pháp hư cấu, khoa trương, phóng đại và các yếu tố hư ảo thần kì.
“Truyền thuyết là một thể loại trong thể loại hinh tự sự dân gian phản ánh những sự kiện
lịch sử và nhân vật lịch sử hay di tích cảnh vật địa phương thông qua sự hư cấu nghệ
thuật thần kì” [38, 49]. Nếu bóc đi các “lớp lang” khoa trương, phóng đại huyền ảo, thần
kì thì ta sẽ có cái cốt lõi lịch sử. Các sự kiện lịch sử, các nhân vật lịch sử đều được nhân
dân “thiêng hoá”, “thần thánh hoá” cao độ. Tất cả các nhân vật lịch sử và sự kiện lịch sử
không phải chỉ được kể một cách thông thường mà nó luôn chứa cả thái độ, tình cảm của
quần chúng nhân dân. Do truyền thuyết có độ lùi về lịch sử nên điều đó cũng chẳng có gì
là lạ.

Chương 2:
GIẢI MÃ MỘT SỐ MOTIF CƠ BẢN TRONG
TRUYỀN THUYẾT ĐINH LÊ
2.1. Mã và mã văn hoá
Mã văn hoá là những tín hiệu, kí hiệu có tính thẩm mĩ, tính đại diện, trong nó biểu
hiện đặc điểm, giá trị văn hoá một cộng đồng. Mã văn hoá là sự kết tinh của các giá trị
văn hoá, là phần nổi trội nhất, cơ bản nhất, có tính ổn định tương đối của cộng đồng. Nó
biểu hiện ra ngoài bằng các tín hiệu văn hoá, chìm sâu bên trong là vô vàn lớp nghĩa luôn
đòi hỏi giải mã thì mới có thể hiểu được con người và cộng đồng nó.
2 2. Giải mã văn hoá những motif trong truyền thuyết Đinh Lê
Mã văn hóa trong truyền thuyết Đinh Lê thể hiện đậm nét ở việc sử dụng các motif.
2.2.1. Motif sinh nở thần kì
Sự ra đời của nhân vật cổ tích bó hẹp trong gia đình, là ao ước của một gia đình;

ốm đau, dịch bệnh, khi gặp hạn hán cầu mưa. Giấc mộng báo hiệu người tài lặp lại rất
nhiều trong Truyền thuyết Đinh Lê, như báo cho Trần Minh Công biết sự xuất hiện của
nhân vật tài năng là Đinh Bộ Lĩnh, báo cho Phạm Bạch Hổ biết nên quy thuận vua Đinh
vì Đinh Bộ Lĩnh chính là tướng tài đã được trao thiên mệnh. Hoặc có khi đó lại là những
giấc mộng báo các vị tướng tài sẽ trợ giúp cho Đinh Bộ Lĩnh lập nên nghiệp lớn như: Ba
vị tướng tài ở Thạch Khê, ba vị tướng quân ở Lộng Đình – Kinh Bắc, ở trang Phúc Sai…
Những đứa con tài giỏi thường ra đời có thể gắn với giấc mộng liên hoa (cha lỗ đó
mẹ lá chùa), mơ thấy đức Phật sai các hài đồng làm con (Ba vị tướng quân ở Lộng Đình
Kinh Bắc, Lưu Lang đại vương), mơ thấy một con kì lân từ trên trời giáng xuống bụng bà
mẹ (Đông Thành đại vương), mơ thấy bà già trao cho một bông sen mà trong bông sen có
một đứa trẻ (Vua bà Trâm Nhị), mơ thấy có con ba con rồng vàng từ trên trời chui vào
miệng bà mẹ (Ba tướng quân mang lốt rồng), mơ thấy có con hổ trắng tự xưng là thiên
tướng nhà trời, nhận làm con (Bạch Hổ tướng quân). Ngoài ra, mô típ giấc mơ còn mang
ý nghĩa điềm báo như trong Hai con rồng tranh nhau mặt trời. Chuyện Long Đĩnh giết
chết Long Việt để cướp ngôi mãi sau này mới xảy ra nhưng nó đã được báo trước trong
giấc mơ của bà Huyền Nữ, ngay cả khi bà chưa sinh hai vương tử này.
Trong motif này, các bà mẹ thường mang thai rất lâu, vượt quá mức thời gian mang
thai thông thường (trong dân gian gọi hiện tượng này là “chửa trâu”). Chẳng hạn bà mẹ
Đinh Bộ Lĩnh mang thai đã hơn một năm mà vẫn chưa sinh, bà mẹ Võ Trung thì có thai
mười ba tháng, hoàng hậu Đặng thị mang thai công chúa Liên Hoa mười bốn tháng…
Các nhân vật được sinh nở kì lạ như thế, nếu là con trai sẽ có tướng mạo khôi ngô tuấn
tú, thông minh tài giỏi; nếu là con gái thì xinh đẹp hơn người “mắt phượng mày ngài”.
Như vậy từ khi mới ra đời, những đấng, những bậc đó đã lộ rõ cái phong thái, cái tư chất

10
hơn người. Ở một số truyện, hiện tượng bà mẹ mang thai quá lâu trong khi chồng đã mất
khiến bà mẹ lâm vào cảnh bị người đời đàm tiếu xua đuổi (mẹ vua Đinh, mẹ vua Lê) vì
cho rằng hoang thai. Hiện tượng này có thể giúp ta nhận ra được xã hội trong “thần
thoại” và “truyền thuyết” đã có những nét dị biệt và thay đổi như thế nào. Ở các truyện
truyền thuyết, xã hội vẫn đang ở chế độ mẫu hệ. Nhưng càng về sau, vai trò của người

không mô tả chiến công phi thường của những anh hùng và những motif khác nếu có thì
cũng đóng vai trò là sự chuẩn bị hoặc nhấn mạnh cho motif này. Như vậy chiến công phi
thường là motif trung tâm của thể loại truyền thuyết anh hùng chống xâm lược, bởi miêu
tả chiến công của người anh hùng là lí do tồn tại của truyền thuyết dân gian. Motif này
trình bày ở hai dạng biểu hiện là sức mạnh tự thân của nhân vật và sự phù trợ của các vật
thiêng, phép lạ.

11
Từ nhỏ, Đinh Bộ Lĩnh đã có biệt tài về bơi lội. Dòng sông chảy qua làng rất lớn, rất
sâu và xiết, chỉ có Đinh Bộ Lĩnh mới bơi ra được giữa dòng, lặn sâu xuống bắt cá được.
Ai muốn ba ba to chừng nào chỉ cần lấy tay vẽ lên cát, đứng chờ một lát ông sẽ bắt lên
đúng như hình vẽ này. Chính tài lạ này khiến cho dân làng càng tin ông đúng là con của
rái thần, bởi vì người thường thì làm sao có thể bơi lặn giỏi như thế. Và điều đặc biệt, nếu
theo lời kể như trong truyền thuyết này thì chính nhờ có khả năng giỏi bơi lặn, mò hụp
giỏi mà Đinh Bộ Lĩnh mới có được ngôi vương. Vì không ai khác ngoài ông có thể táng
mả bố mình vào huyệt vương ở dưới đáy sông Hoàng Long kia. Không chỉ có tài về bơi
lặn, Đinh Bộ Lĩnh còn là một tài năng quân sự ngay từ thuở còn chăn trâu cắt cỏ. Dưới
bóng cờ lau, ông và các bạn ở Sách Bông đã thao tập, luyện rèn, tập đánh trận giả.
Motif này không phải là cách “tầm thường” hóa nhân vật mà ngược lại, thể hiện
lòng ngưỡng mộ của nhân dân. Tài năng xuất chúng của nhân vật lịch sử là thực và người
ta thấy những tài năng đó là quá sức tưởng tượng và chỉ có thể hình dung qua những ước
lệ, ẩn dụ mà thôi. Trợ giúp cho người anh hùng, có thể gồm cả thiên thần và nhân thần. Ở
nhiều trường hợp các lực lượng đó sé giúp cho nhân vật thoát nạn và lập chiến công. Có
những lúc người anh hùng tưởng như đã bước vào con đường cùng, nhưng sau đó lại có
sự trợ giúp cứu trợ kịp thời của các sức mạnh thần bí. Từ nhỏ cho đến mãi sau này, bên
họ dường như luôn có sức mạnh kì bí nào đó che chở. Đinh Bộ Lĩnh là nhân vật là nhân
vật luôn được các lược nhiên thần và nhân thần trợ giúp trong suốt cuộc đời. Thuở còn
chơi trò cờ lau tập trận, Đinh Bộ Lĩnh đã dám giết trâu của chú để khao quân. Bị chú cầm
gươm lăm lăm đuổi, những tưởng là ông không thoát khỏi cái chết. Thế nhưng ngay sau
lời gọi: “Rồng ơi rồng, chở ta qua sông, cứu ta với” thì ngạc nhiên làm sao, một con rồng

thành một trong những tinh thần đặc trưng của Phật Giáo. Đó là thuyết luân hồi. Về mặt
tín ngưỡng dân gian, motif này phần nào có nguồn gốc từ tín ngưỡng thờ cây, thờ nước;
vốn là đặc trưng của cư dân nông nghiệp. Motif hóa thân kỳ lạ xuất hiện nhiều trong thần
thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích dân gian và trong nhiều tác phẩm truyền kì của văn
học thành văn.
Trong Truyền thuyết Đinh Lê ta thấy xuất hiện hai “kiểu” về cái chết. Một là bị chết
trận, hai là tự nhiên không ốm không đau mà chết và dân gian thường gọi bằng một từ
thiêng liêng là “ngài hoá”. Về kiểu chết trận, cái chết của Đinh Điền và Kiều Công Hãn
luôn để lại trong ta những ấn tượng vừa kinh ngạc vừa cảm phục. Đinh Điền phò giúp
Đinh Bộ Lĩnh từ thuở niên thiếu cho đến khi nhà Đinh lập nên nghiệp lớn, về sau dấy
binh chống lại Lê Hoàn nên phải bỏ mạng. Điều đáng nói là ở cái chết đó có quá nhiều
yếu tố dị kì và lạ lùng. Ông bị chém, đầu chỉ còn dính hờ vào cổ, máu loang đỏ chiến
bào, ướt đẫm ngựa chiến. Thế mà ông vẫn oai phong phi ngựa vượt vòng vây, vẫn hỏi
chuyện được bà hàng nước rồi sau đó mới tìm đến cái chết trong trạng thái vô cùng bình
thản. Còn có cách kể khác về cái chết của Đinh Điền. Ông chết theo kiểu bay theo làn
mây như dải lụa hồng, ra đến sông Đằng Châu thì hoá. Kiểu chết này của Đinh Điền
thuộc kiểu chết không ốm không đau tự nhiên hoá. Sự thật thì Đinh Điền đã chết ngay tại
trận, dưới lưỡi gươm của Phạm Cự Lượng – tướng của Lê Hoàn.
Cùng thuộc kiểu chết trận như Đinh Điền, có tướng quân Kiều Công Hãn. Ông bị
Nguyễn Tấn chém cho nhả cổ, máu chảy ròng ròng như vòi cau, thế mà vẫn có thể thúc
ngựa chạy đến được tận Trung Lẫm. Gặp cánh đồng lầy lội, khó có thể vượt qua được,
ông mới dừng ngựa và… buộc lại vết thương ở cổ, sau đó quay trở lại An Lũng. Không
những thế, ông còn có thể ăn gỏi cá trắm, uống rượu cúc, hỏi chuyện bà hàng cá, rồi sau
mới tiến thẳng đến gò cao và hoá ở đó.
Một biểu hiện kì lạ nữa trong motif những cái chết khác thường là các đống do mối
đùn lên thi thể người chết mà dân gian gọi là thiên táng (mộ mẹ vua Lê, mẹ vua Lý, mộ
Đinh Điền, mộ tướng quân Kiều Công hãn, mộ Võ Trung…). Trong Truyền thuyết Đinh
Lê hình ảnh gò đống xuất hiện khá phổ biến. Đó là nơi phần lớn các nhân vật gửi phần cơ
thể của mình ở đó. Chính môtíp mối đùn đã tạo nên tính thiêng cho nhân vật người chết
(hay dân gian hay dùng là ngài hoá). Mảnh đất nơi họ ngã xuống đã trở thành mảnh đất

3.1. Khái niệm lễ hội
Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian phổ biến ở nước ta. Nó ra đời từ
rất sớm và tồn tại phát triển qua nhiều thời đại. Lễ hội là một phương thức trình diễn của
cộng đồng. Nó có tính nguyên hợp và diễn ra trong không gian, thời gian nhất định. Đúng
như tên gọi của nó, lễ hội được cấu thành từ hai yếu tố là lễ và hội.
3.2. Lễ hội Trường Yên
Trường Yên – cố đô Hoa Lư (nay thuộc huyện Hoa Lư), tỉnh Ninh Bình. Đây là địa
danh gắn với tên tuổi người anh hùng Đinh Bộ Lĩnh. Sau khi lên ngôi hoàng đế, đặt quốc
hiệu, Đinh Bộ Lĩnh đã đóng đô ở Hoa Lư và ra sức đắp thành, đào hào, làm cung điện.
Hoa Lư chính là “kinh đô đá” của nước Đại Cồ Việt xưa. Ngoài việc khác tượng thờ vua
Đinh, nhân dân còn thờ các quan đại thần khác dưới triều Đinh Tiên Hoàng như Đinh
Điền, Nguyễn Bặc, Trịnh Tú, Lưu Cơ, Lê Hoàn, Phạm Hạp hay Thái hậu Dương Vân
Nga.
14
3.2.1. Phần lễ
Lễ hội Trường Yên cơ bản có đầy đủ các nghi thức của một lễ hội quy củ, thể hiện
sinh hoạt văn hóa cũng như tín ngưỡng của người dân nơi đây. Những phần lễ đặc sắc
phải kể đến như Lễ rước nước, Tế cửu khúc. Hai phần lễ này thể hiện tập quán sinh hoạt
nông nghiệp lúa nước của người dân cố đô xưa, vừa tưởng nhớ, ngợi ca công trạng của
vua Đinh, công thần cũng như cầu may vong linh họ phù hộ cho mùa màng bội thu, cuộc
sống no đủ, yên bình.
3.2.1.1. Lễ rước nước
Đây là một trong những nghi lễ quan trọng nhất và thu hút sự tham gia của nhiều
người nhất, bắt đầu vào giờ thìn. Đi đầu đám rước có sư tử mở đường, sau đó là những
người cầm cờ quạt, lộng tán, bát biểu. Tiếp theo rừng cờ biển là phường bát âm. Sau
phường bát âm là kiệu thần: đó là chín chiếc kiệu sơn son thiếp vàng và một chiếc võng
là nơi vua ngự giá. Sau cùng là đến các bô lão, chức sắc, dân làng và khách thập phương

nước (nước trắng súc miệng) rồi đến tiến tửu (rượu). Khi tế đến ba tuần rượu thì đến phần
tấu nhạc và đọc chúc (trong chúc ghi rõ địa chỉ thôn, làng, ngày, tháng, năm, dân quân
chính đảng cùng đoàn tế) tấu lên vua cầu xin mọi sự tốt lành. Xong phần tấu chúc là đến
phần tiến trà dâng vua.
3.2.2. Phần hội
Nếu tham gia lễ hội Trường Yên, người ta sẽ khó mà quên được những phần hội
đặc trưng nơi đây thông qua các trò chơi, hoạt náo dân gian như cờ lau tập trận, kéo chữ
Thái Bình, dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nước…Những hoạt động này chủ yếu
diễn tả lại hành trình cuộc đời Đinh Tiên Hoàng, bày tỏ sự ngưỡng mộ, lòng biết ơn sâu
sắc của người dân đến vua Đinh và cầu may cuộc sống no đủ, an vui.
3.3. Những tín ngưỡng có liên quan
3.3.1. Khái niệm tín ngưỡng
Tín ngưỡng có thể hiểu một cách nôm na là niềm tin, sự ngưỡng mộ đối với một đối
tượng siêu nhiên nào đó có ảnh hưởng, chi phối đến đời sống sinh hoạt của con người.
3.3.2. Những tín ngưỡng có liên quan.
Gắn với lễ hội là những tín ngưỡng đậm chất Trường Yên như tín ngưỡng sùng
nước và nghi lễ cầu mưa trong lễ hội, tín ngưỡng phồn thực, lễ đánh thức đất.
3.3.2.1.Tín ngưỡng sùng nướcvà nghi lễ cầu mưa.
Đó là hình thức sinh hoạt văn hoá cộng đồng gắn liền với đời sống tinh thần của
người làm nông nghiệp nên lễ hội Đinh Lê ngoài tôn vinh các anh hùng lịch sử, nó còn là
lễ hội của nền văn minh nông nghiệp, của những lễ nghi và tín ngưỡng nông nghiệp. Lễ
rước nước ở sông Hoàng Long và hội đua thuyền là minh chứng sinh động cho điều đó.
Trong lễ hội Đinh Lê, tín ngưỡng sùng nước và nghi lễ cầu nước thể hiện đầu tiên ở
nghi lễ rước nước. Trong lễ rước nước hình ảnh rồng vàng không chỉ gắn với huyền tích
đã cứu Đinh Bộ Lĩnh thoát khỏi lửa hận của người chú mà rồng vàng còn biểu tượng cho
môi trường sông nước, phổ biến hơn trong cuộc sống đương đại khi mà cuộc sống của
con người càng ngày càng dần tiến về phía các dòng sông.
Rồng trong các truyền thuyết thường là ở tình trạng bất động, là biểu tượng của
vương quyền (rồng trong truyền thuyết Thăng Long). Nhưng một đôi khi rồng lại hiện ra
trong tư thế hoạt động. Chẳng hạn kể về chuyện Đinh Bộ Lĩnh đánh nhau với người chú,

nhanh nhẹn của người chơi. Thông qua trò chơi này, người ta mong cho dương vượng để
có mưa thuận gió hòa, cây cối sinh sôi nảy nở, mùa màng tốt tươi.
Đầu xuân năm mới, các cư dân nông nghiệp còn có một hình thức đánh thức đất
khác nữa, đó là lễ cày tịch điền. Lễ cày tịch điền được tiến hành đầu tiên ở nước ta dưới
thời vua Lê Đại Hành. Nó không chỉ nhằm mục đích khuyến khích nông nghiệp phát
triển mà có lẽ nó còn liên quan đến nghi thức đánh thức đất trong những ngày đầu xuân
của người Việt. Đây là nghi thức nhớ về cội nguôn, báo hiệu một mùa xuân mới, một
mùa lao động mới trên khắp cánh đồng quê.
Lễ hội truyền thống thực hiện chức năng liên kết cộng đồng, nó là một kiểu sinh
hoạt tập thể của nhân dân, là “cuộc vui chơi đông người”, được tổ chức sau thời gian lao
động sản xuất hay nhân dịp kỉ niệm một sự kiện xã hội quan trọng liên quan đến sự tồn
tại của cộng đồng hoặc để quần chúng tìm đến một cái gì đó.
Lễ hội truyền thống có chức năng phản ánh, bảo lưu và truyền bá các giá trị văn hoá
truyền thống, thể hiện ở sự ngưỡng mộ tổ tiên, ôn lại truyền thống đã qua.
Thông qua lễ hội truyền thống, cộng đồng địa phương thể hiện những khát khao,
những ước mơ; thắp lên niềm tin cuộc đời, yêu chân lí, trọng cái thiện.
Không thể phủ nhận được nhu cầu hưởng thụ và giải trí của người dân thông qua lễ
hội. Tại đây, con người được hoà nhập, “hoá thân” đóng một vai trong hội hay “nhập
thân” vào một trò chơi. Tất cả mọi người còn được hưởng những lễ vật dâng cúng.
Lễ hội Trường Yên – Hoa Lư thực sự là nhịp cầu nối cố kết cộng đồng trong tình
đoàn kết thân ái. Dự lễ hội Trường Yên chính là hành hương thăm cố đô xưa của một
vương triều nơi ghi dấu thời kì mở nước huy hoàng đưa dân tộc bước vào kỉ nguyên
độc lập sau gần hàng ngàn năm Bắc thuộc. Đến đây du khách có dịp tận mắt chứng kiến

17
ác chứng tích hào hùng oanh liệt của cha ông. Lễ hội Đinh Lê là một lễ hội lớn, có ý
nghĩa lịch sử quan trọng, luôn tồn tại trong sự ngưỡng mộ thành kính của nhân dân.
Với khách nước ngoài, sự trỗi dậy của lễ hội dân gian trong những năm gần đây
tạo nên sức thu hút, độ hấp dẫn đặc biệt. Nhu cầu du lịch của nguời dân là rất lớn, đặc
biệt là nhu cầu tham gia lễ hội. Nếu biết khai thác thế mạnh này, chắc chắn ngành du

Người anh hùng được tôn vinh nhất, sống động nhất là trong các lễ hội. Những
khói hương nghi ngút nơi thờ phụng phần nào đã nói lên sự ngưỡng vọng, biết ơn của
nhân dân về những chiến công oanh liệt nhất của họ.
Lễ hội Trường Yên cùng với tổng thể khu di tích hai đền thờ vua Đinh không chỉ có
giá trị tinh thần đối với đời sống tâm linh của người dân mà nó còn có giá trị du lịch rất
lớn Điều này đòi hỏi các cấp lãnh đạo tỉnh Ninh Bình phải biết phát huy sức mạnh tổng

18
hợp của địa phương trên cơ sở bảo tồn và phát huy giá trị danh lam cũng như di tích lịch
sử.

References.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trần Thị An (94), Nghiên cứu truyền thuyết – những vấn đề đặt ra, Tạp chí văn học
số 7, Hà Nội.
2. Trần Thị An (2000), Yếu tố thời gian trong truyền thuyết dân gian, Tạp chí văn học,
Hà Nội.
3. Trần Thị An (2000), Đặc trưng thể loại và việc văn bản hoá các truyền thuyết dân
gian Việt Nam, Luận án tiến sĩ ngữ văn, Hà Nội
4. Đặng Xuân Bảng (1997), Sử học bị khảo, NXB Văn hoá thông tin, Hà Nội.
5. Đại Việt sử kí tiền biên (1972), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
6. Nguyễn Chí Bền (2006), Góp phần nghiên cứu văn hoá dân gian Việt Nam, NXB
Khoa học xã hội, Hà Nội.
7. Nguyễn Chí Bền (2000), Văn hoá dân gian Việt Nam những suy nghĩ, NXB Văn hoá
dân tộc, Hà Nội.
8. Phan Huy Chú (1961), Lịch triều hiến chương loại chí, NXB Sử học, Hà Nội.
9. Nguyễn Đổng Chi (2000), Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, NXB Giáo Dục, Hà
Nội.
10. Chu Xuân Diên (1997), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
11. Chu Xuân Diên (2002), Cơ sở Văn hoá Việt Nam, NXB Đại học Quốc Gia HN, Hà

Nội.
27. Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Tổng tập văn học dân gian người Việt, tập 4,
truyền thuyết dân gian người Việt, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
28. Phan Huy Lê (1999), Tìm về cội nguồn (tập 2), NXB Thế giới, Hà Nội.
29. Ngô Sĩ Liên (1972), Đại Việt sử kí toàn thư, tập 1, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
30. Hoàng Lương (2002), Lễ hội truyền thống các dân tộc Việt Nam khu vực phía Bắc,
NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
31. Lê Văn Kỳ (1997), Mối quan hệ giữa truyền thuyết người Việt và hội lễ các anh
hùng, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
32. Lịch sử Việt Nam tập 1 (1971), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
33. Nguyễn Thị Nguyệt ( 2010), Khảo sát và so sánh một số motif truyện kể dân gian
Việt Nam - Nhật Bản, NXB ĐHQG Hà Nội.
34. Nguyễn Thị Nguyệt ( 2010), Khảo sát một số kiểu truyện tiêu biểu về các nhân vật “
tứ bất tử” trong truyện kể dân gian Việt Nam, NXB ĐHQG Hà Nội.
35. Lê Trường Phát (2001), Thi pháp văn học dân gian, NXB Giáo dục, Hà Nội
36. Cao Xuân Phổ (1997), Cái thiêng trong sân khấu cổ truyền ở Đông Nam Á, Tạp chí
văn hoá nghệ thuật, số 151, Hà Nội.
37. Nguyễn Tường Phượng (1950), Binh chế Việt Nam, NXB Ngày mai, Hà Nội.
38. Lê Chí Quế (chủ biên, 1999), Văn học dân gian Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia
Hà Nội, Hà Nội.
39. Trương Hữu Quýnh (chủ biên, 1961), Đại cương lịch sử Việt Nam, NXB Giáo dục,
Hà Nội.
40. Trần Xuân Sinh (2004), Việt sử kỉ yếu, NXB Hải Phòng.
41. Nguyễn Khắc Thuần (2001), Việt sử giai thoại, NXB Giáo dục, Hà Nội.
42. Nguyễn Đăng Thục (1998), Lịch sử tư tưởng Việt Nam tập 2, NXB TPHCM.

20
43. Đỗ Bình Trị (2002), Những đặc điểm thi pháp của các thể loại văn học dân gian,
NXB Giáo Dục, Hà Nội.
44. Nguyễn Văn Trò (2004), Cố đô Hoa Lư, NXB Văn hoá dân tộc, Hà Nội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status