Khảo sát truyền thuyết các dân tộc lưu hành ở yên bái - Pdf 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
o0o PHÙNG THỊ PHƢƠNG HẠNH
KHẢO SÁT TRUYỀN THUYẾT CÁC DÂN TỘC
LƢU HÀNH Ở YÊN BÁI LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN, NĂM 2011
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN


Em xin cảm ơn Ban giám hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa Ngữ văn
trường đại học sư phạm Thái Nguyên, cùng các thầy cô giáo đã tham gia
giảng dạy và hướng dẫn nghiên cứu khoa học cho lớp Cao học K17 - Văn học
Việt Nam; Sở giáo dục và đào tạo Yên Bái, Ban giám hiệu và tập thể giáo
viên trường trung học phổ thông Chu Văn An tỉnh Yên Bái đã tạo điều kiện
cho em có cơ hội học tập và nghiên cứu khoa học.
Em xin cảm ơn thầy giáo - nhà báo, nhà nghiên cứu Hoàng Việt Quân -
Hội văn học nghệ thuật tỉnh Yên Bái đã tạo điều kiện, giúp đỡ rất nhiệt tình
cho em trong suốt quá trình em tập hợp tư liệu và tìm hiểu về con người, văn
học - văn hoá dân gian các dân tộc địa phương.
Đặc biệt, em xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới PGS.TS Vũ
Anh Tuấn - người thầy rất nghiêm khắc, tận tâm trong công việc đã truyền thụ
nhiều kiến thức quý báu cũng như kinh nghiệm nghiên cứu khoa học cho em
trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4
MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU…………………………… ……… ………… 1
1. Lý do chọn đề tài……………………………… ……… 1
2. Lịch sử vấn đề………………… ………………… ……………….3
3. Đối tượng, phạm vi, mục đích nghiên cứu………………… … 6
4. Những đóng góp mới của luận văn……… ………… … ……… 6
5. Phương pháp nghiên cứu…… ……………………… ….……… 7
6. Cấu trúc của luận văn……………………… …… … ……… 8
PHẦN NỘI DUNG…………………………………… ……………………9

LƢU HÀNH Ở YÊN BÁI…………………… ………………… …… 85
3.1. Mô hình kết cấu chung…………………………… ….………… 85
3.1.1. Hoàn cảnh xuất hiện, thân thế của nhân vật chính………… 85
3.1.2. Cuộc đời, sự nghiệp của nhân vật chính……………… ……88
3.1.3. Đoạn kết cuộc đời nhân vật chính……………………….…… 92
3.2. Đặc điểm xây dựng nhân vật………………… ………… ……….95
3.2.1. Đặc điểm xây dựng nhân vật chính……………… …………95
3.2.2. Đặc điểm nhân vật người kể chuyện…… …… 110
3.3. Không gian - thời gian nghệ thuật………………… ………… 116
3.3.1. Không gian nghệ thuật…………………… ………… 117
3.3.2. Thời gian nghệ thuật…………………………… …… …….122
PHẦN KẾT LUẬN…………… ………… …………… 127
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHẦN PHỤ LỤC Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

6
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Hiện nay, truyền thuyết người Việt đã được tiến hành sưu tầm,
nghiên cứu khá kĩ lưỡng. Tuy nhiên truyền thuyết các dân tộc ít người lại
chưa được chú ý sưu tầm và nghiên cứu thỏa đáng mặc dù mỗi dân tộc có một
số lượng truyền thuyết lưu hành trong dân gian tương đối phong phú. Việc
nghiên cứu truyền thuyết các dân tộc mới chỉ tiến hành theo hướng khảo sát
truyền thuyết của từng dân tộc ở từng địa phương. Đây là hướng nghiên cứu
thiết thực và có ý nghĩa sâu sắc. Nhưng bên cạnh đó chúng ta cần phải so sánh
truyền thuyết của các dân tộc cùng sống trên một địa bàn, lãnh thổ để thấy

thấy rằng truyền thuyết được lưu hành ở Yên Bái có một vị trí quan trọng
trong kho tàng văn học dân gian các dân tộc nơi đây. Nhưng với vị trí như thế,
việc dừng lại ở giới thiệu, tìm hiểu một truyền thuyết là có phần khiêm tốn.
Tuy nhiên chúng ta cũng có thể hiểu nguyên nhân khách quan của điều này là
do thời lượng và khung chương trình giảng dạy không cho phép.
Là một giáo viên dạy Ngữ văn ở trường trung học phổ thông và là
người con của quê hương Yên Bái, tôi thiết nghĩ việc khảo sát truyền thuyết
các dân tộc lưu truyền ở Yên Bái sẽ giúp chúng ta có được cái nhìn đầy đủ và
toàn diện về truyền thuyết nói riêng, văn học dân gian của Yên Bái nói chung.
Đặc biệt nó sẽ rất hữu ích trong việc liên hệ thực tế trong giảng dạy phần văn
học dân gian người Việt. Đó là cơ sở giúp học sinh thấy được sự phong phú
và giá trị của truyền thuyết lưu hành ở địa phương, đồng thời giúp các em
hiểu biết thêm, tự hào hơn về lịch sử và con người của quê hương Yên Bái.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

8
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Lƣợc sử nghiên cứu thể loại truyền thuyết
Truyền thuyết của Việt Nam đã được một số tác giả người phương Bắc
ghi chép thành văn bản từ khá sớm – ngay từ thời kì Bắc thuộc trong các
cuốn: “Giao Châu ngoại vực” (thế kỉ IV) và “Nam Việt chí” (thế kỉ V). Đến
thế kỉ XIV –XV, một số tác giả người Việt cũng bắt đầu chú ý sưu tầm, ghi
chép thể loại này như: Đỗ Thiện, Lý Tế Xuyên, Trần Thế Pháp… với các
cuốn: “Ngoại sử kí”, “Việt điện u linh”, “Lĩnh nam chích quái”… Tuy lúc
bấy giờ các tác giả chưa quan tâm về mặt thể loại nhưng họ cũng đã thấy rằng
so với những truyện dân gian khác đây là những câu chuyện về lịch sử mang
đậm yếu tố hoang đường, kì ảo.
Sau này, truyền thuyết không những được công nhận là một “thể tài
vững chắc, hoàn chỉnh của văn học dân gian” mà còn được thống nhất về
mặt thuật ngữ. Các tác giả: Đỗ Bình Trị, Lê Chí Quế, Kiều Thu Hoạch,

nghề Tống Xá ở Yên Xá, Ý Yên, Nam Định – Luận văn thạc sĩ. ĐHSPHN,
2008 – Hà Thị Diệp Lê.

Những công trình trên đều đặt truyền thuyết trong môi trường mà nó ra
đời, tồn tại và phát triển để nghiên cứu và thấy rằng: các truyền thuyết có mối
quan hệ sâu sắc với văn hóa, lễ hội, tín ngưỡng của nhân dân địa phương và
các đặc điểm địa lý, lịch sử, văn hóa của địa phương cũng có tác động không
nhỏ tới truyền thuyết. Như vậy, đây là một hướng nghiên cứu mang lại những
phát hiện giá trị.
2.2 Tình hình nghiên cứu truyền thuyết ở Yên Bái
Xét riêng ở địa phương Yên Bái, việc nghiên cứu truyện cổ dân gian
nói chung, truyền thuyết nói riêng chưa được quan tâm chú ý. Chính vì vậy
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

10
cho đến nay, truyền thuyết của các dân tộc mới chỉ được sưu tầm, dịch và giới
thiệu trên một số cuốn sách hay tạp chí của địa phương và trung ương.
- Các truyền thuyết được in trên các tạp chí như:
“Sự tích Mường Lò” do Hoàng Việt Quân sưu tầm, in trên“Tập san
văn nghệ Văn Chấn” năm 1992.
“Hang Đá Cháy” do Lê Năng sưu tầm in trên “Tạp chí văn nghệ Yên
Bái” số 10/1993.
“Huyền thoại về trái núi thần” do Hoàng Bích Nhung sưu tầm, in trên
“Tập san văn nghệ Lục Yên quyển 1”, năm 1999.

- Hay các tập truyện:
Suối nước mắt – Tập truyện dân gian vùng Văn Chấn của Phạm Đức
Hảo, Nhà xuất bản văn hóa dân tộc (1996).
Nàng Nu – Truyện cổ dân tộc Mông của Minh Khương, Nhà xuất bản
văn hóa dân tộc (1997)

gặp nhiều khó khăn và vất vả nhưng nếu thành công sẽ có nhiều thú vị và hữu
ích. Vì vậy chúng tôi đã quyết đinh lựa chọn đề tài này.
3. Đối tƣợng, phạm vi, mục đích nghiên cứu
3.1. Đối tƣợng: Truyền thuyết các dân tộc lưu hành ở Yên Bái được
sưu tầm và giới thiệu trên các tạp chí, sách báo của địa phương và trung ương.
3.2. Phạm vi: Khảo sát đặc điểm chung và riêng trên hai phương diện
nội dung và nghệ thuật.
3.3. Mục đích: Tìm ra những nét đặc sắc riêng của truyền thuyết các
dân tộc lưu hành ở Yên Bái.
4. Những đóng góp mới của luận văn
Nếu thành công, luận văn của chúng tôi sẽ có một số đóng góp sau:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

12
4.1. Về lý luận
- Thống kê và phân loại được truyền thuyết các dân tộc lưu hành ở Yên
Bái bởi các truyền thuyết này vốn được giới thiệu là các truyện cổ, được in lẻ
tẻ trên các tạp chí và cuốn sách được in ở địa phương và trung ương.
- Khẳng định thêm một hướng nghiên cứu mới cho thể loại truyền
thuyết cũng như văn học dân gian – nghiên cứu theo hướng tổng hợp.
- Gợi mở việc nghiên cứu, đối sánh truyền thuyết của các dân tộc ở
phạm vi rộng hơn.
- Hiểu được mỗi quan hệ hữu cơ giữa văn học và những yếu tố ngoài
văn học - Những nhân tố đã chi phối sự tương đồng và khác biệt của thể loại
truyền thuyết và các thể loại khác: lịch sử tộc người và vùng đất, văn hóa
truyền thống mỗi dân tộc, địa bàn cư trú
4.2. Về nhận thức
Đề tài giúp chúng ta:
- Thấy được đặc trưng, mối quan hệ của truyền thuyết các dân tộc lưu
hành ở Yên Bái và vị trí, giá trị của truyền thuyết các dân tộc trong kho tàng


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

14
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Cơ sở lý thuyết về thể loại
1.1.1. Khái niệm truyền thuyết
Từ khi truyền thuyết được quan tâm nghiên cứu, nhiều nhà nghiên cứu
đã đưa ra định nghĩa về truyền thuyết theo quan niệm và cách hiểu của họ.
Theo tác giả Kiều Thu Hoạch trong cuốn “Tổng tập văn học dân gian người
Việt” thì các tác giả Nhóm Lê Quý Đôn trong công trình lược thảo lịch sử văn
học Việt Nam đã bước đầu đưa ra định nghĩa về truyền thuyết: “Truyền thuyết
là tất cả những chuyện lưu hành trong dân gian có thật xảy ra hay không thì
không có gì đảm bảo. Như vậy có những truyền thuyết lịch sử, mà cũng có
những truyền thuyết khác, hoặc dính dáng về một đặc điểm địa lí (Chuyện
nàng Tô Thị, chuyện Núi Vọng Phu, vv )”, hoặc giải thích những phong tục
tập quán hoặc nói về sự tích các nghề nghiệp, và tất cả những chuyện kì lạ
khác”[16, tr26]. Khái niệm của nhóm Lê Quý Đôn đã định nghĩa khá rộng về
truyền thuyết. Dường như họ đã quy tất cả những truyện lưu hành trong dân
gian đều là truyền thuyết bởi chúng ta thấy họ quan niệm: thứ nhất, những

kể về những sự kiện lịch sử đã lùi xa vào quá khứ bằng hình thức văn xuôi"
[37, tr15]. Như vậy, truyền thuyết là chuyện kể những nhân vật có thật hoặc
những sự kiện có tầm ảnh hưởng tới lịch sử bằng hình thức văn xuôi. Ở đây,
tác giả chủ yếu chỉ ra điểm giống và khác nhau giữa “vè” và “truyền thuyết”.
Lại Nguyên Ân trong “150 thuật ngữ văn học” định nghĩa: "Truyền
thuyết là một nhóm những sáng tác dân gian mà đặc điểm chung là trong đó
có các yếu tố kì diệu, huyễn tưởng nhưng lại được cảm nhận là xác thực diễn
ra ở ranh giới giữa thời gian lịch sử và thời gian thần thoại, hoặc diễn ra ở
thời gian lịch sử. Trong những truyền thống văn hóa khác nhau về loại hình,
khái niệm truyền thuyết mô tả những hiện tượng không hoàn toàn giống nhau
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

16
và liên hệ một cách khác nhau với các thể loại dân gian khác, kể cả thần
thoại" [20, tr341]. Tác giả đã nhấn mạnh những đặc trưng cơ bản của truyền
thuyết như: truyền thuyết là “sáng tác dân gian”, nghệ thuật nổi bật là dùng
“các yếu tố kì diệu, huyễn tưởng” nhằm mục đích là làm cho người đọc tin
vào câu chuyện được kể đã từng diễn ra thật trong quá khứ.
Sách ngữ văn 10, tập 1 do Phan Trọng Luận chủ biên đưa ra khái niệm:
"Truyền thuyết là tác phẩm tự sự dân gian kể về sự kiện và nhân vật lịch sử
(hoặc có liên quan đến lịch sử) theo xu hướng lý tưởng hóa, qua đó thể hiện
sự ngưỡng mộ và tô vinh của nhân dân đối với những người có công với đất
nước, dân tộc hoặc cộng đồng cư dân của một vùng" [23, tr17]. Với đối
tượng tiếp nhận là học sinh trung học phổ thông, khái niệm này định nghĩa về
truyền thuyết trên bốn phương diện: thể loại – tự sự dân gian; đối tượng tự sự:
nhân vật hoặc những gì có liên quan đến lịch sử; nghệ thuật: lý tưởng hóa; ý
nghĩa: thể hiện thái độ và tình cảm đối với lịch sử của nhân dân. Khái niệm
này rất ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu.
Qua tìm hiểu một số khái niệm về truyền thuyết, chúng tôi thấy rằng:
truyền thuyết là một thể loại tự sự dân gian; truyền thuyết kể về những việc có

phần thứ hai – đoạn kể về cuộc đời và sự nghiệp của nhân vật tập trung kể lại
hành trạng, hành động của nhân vật và thường không sử dụng các mô típ. Mỗi
câu chuyện, mỗi nhân vật có hành trạng, hành động riêng. Tính hiện thực lịch
sử vì vậy thường được thể hiện đậm đặc nhất ở phần này.
Như vậy, quan điểm trên của Kiều Thu Hoạch là cơ sở giúp chúng ta
nhận diện tác phẩm của thể loại truyền thuyết và phân biệt nó với thần thoại,
cổ tích – những thể loại tự sự dân gian gần gũi với truyền thuyết nhất.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

18
1.1.2.2. Phân loại truyền thuyết
Hiện nay, chúng ta thấy có nhiều ý kiến phân loại thể loại truyền
thuyết. Sự phong phú về cách phân loại truyền thuyết là xuất phát từ những
quan niệm và tiêu chí khác nhau.
Theo tác giả Lê Trường Phát thì nếu căn cứ vào nội dung của thời kì
lịch sử được truyền thuyết phản ánh – ghi chép thì ý kiến của ông đồng nhất
với ý kiến của Hoàng Tiến Tựu. Nếu căn cứ vào lịch sử và “phạm vi những
sự kiện và nhân vật lịch sử được nhân dân quan tâm”, theo ông có: những
truyền thuyết về thời các vua Hùng; những truyền thuyết về sau thời các vua
Hùng. Cũng theo tác giả này thì Đỗ Bình Trị lại chia truyền thuyết thành ba
tiểu loại: truyền thuyết địa danh, truyền thuyết phổ hệ, truyền thuyết về nhân
vật và sự kiện lịch sử.
Trong cuốn “Tổng tập văn học dân gian người Việt”, tác giả Kiều Thu
Hoạch đã chỉ ra những quan điểm phân loại truyền thuyết ở Việt Nam như:
Theo Lê Chí Quế, ông chia truyền thuyết làm 3 loại gồm: Truyền
thuyết lịch sử; Truyền thuyết anh hùng; Truyền thuyết về các danh nhân văn
hóa.
Tác giả Hoàng Tiến Tựu thì chia thành bốn nhóm: Truyền thuyết về họ
Hồng Bàng; Truyền thuyết về thời kì Âu Lạc và Bắc thuộc; Truyền thuyết về
thời kì phong kiến tự chủ; Truyền thuyết về thời kì pháp thuộc.

Chính vì vậy mà cả đặc điểm tự nhiên và kinh tế văn hóa xã hội của tỉnh có
mối quan hệ giao lưu và mang dấu ấn của cả ba vùng. Yên Bái là tỉnh giữ vị
trí trọng yếu về kinh tế và quân sự của Việt Nam và có lợi thế trong giao lưu
với các tỉnh bạn.
Với diện tích tự nhiên 6888 km2 với ¾ là đồi núi, Yên Bái có 01 thành
phố (Yên Bái), 01 thị xã (Nghĩa Lộ), 07 huyện thị (Yên Bình, Lục Yên, Trấn
Yên, Văn Chấn, Trạm Tấu, Mù Cang Chải). Địa hình của Yên Bái, cao dần từ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

20
đông Nam lên Tây Bắc và được kiến tạo bởi ba dãy núi lớn đều có hướng
chạy Tây Bắc – Đông Nam. Phía Tây có dãy núi Hoàng Liên Sơn – Pú Luông
kẹp giữa sông Hồng và sông Đà, tiếp đến là dãy núi cổ Con Voi nằm kẹp giữa
sông Hồng và sông Chảy. Phía Đông có dãy núi đá vôi nằm kẹp giữa sông
Chảy và sông Lô. Tuy địa hình khá phức tạp nhưng chúng ta có thể chia thành
hai vùng lớn: Vùng cao và vùng thấp. Vùng cao có độ cao trung bình khoảng
600m trở lên chiếm 67,56%. Vùng thấp có độ cao dưới 600m là phần diện
tích còn lại.
Trong lịch sử, do những điều kiện khách quan và chủ quan mà địa giới
Yên Bái trước kia và ngày nay đã có nhiều thay đổi. Từ rất xa xưa Yên Bái đã
là một bộ phận của Tổ quốc. Thời các vua Hùng, Yên Bái thuộc Tân Hưng,
thời Lý thuộc Châu Đăng, thời Trần trong lộ Quy Hóa, thời Lê đến thời
Nguyễn nằm trong phủ Quy Hóa, tỉnh Hưng Hóa.
Với đặc điểm vị trí địa lý thuận lợi như thế, Yên Bái đã trở thành điểm
thu hút đối với các tộc người, các dòng người di cư đi tìm những vùng đất
mới để khai hoang và thiết lập lãnh địa của mình. Tỉnh đã thu hút được cả
những tộc người di cư từ phương Bắc xuống, từ phía Đông và phía Tây sang,
từ đồng bằng lên. Chính vì vậy mà thành phần dân tộc của Yên Bái khá phong
phú, số dân tương đối đông và họ định cư ở đây từ rất sớm. Điều này có vai
trò quan trọng đối với sự hình thành lịch sử văn hóa, văn học và truyền thống

trên cùng một vùng lãnh thổ đã có sự giao lưu văn hóa tạo nên những dấu ấn
văn hóa giao thoa giữa các dân tộc từ đó hình thành nên một nền văn hóa rất
đa dạng và phong phú có nhiều nét độc đáo.
1.2.2. Đặc điểm lịch sử văn hóa một số tộc ngƣời ở Yên Bái
Quá trình sống xen cư và quần tụ, 30 dân tộc ở Yên Bái đã có sự giao
lưu và tiếp biến văn hóa khiến cho các nét văn hóa và phong tục của mỗi dân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

22
tộc vừa có những nét độc đáo riêng lại vừa có những điểm chung. Các dân tộc
vừa có ý thức giữ gìn phong tục truyền thống của dân tộc mình nhưng cũng
vừa hòa nhập văn hóa với các dân tộc bạn để xây dựng tình cảm đoàn kết
cộng đồng với các dân tộc anh em cùng cư trú trên địa bàn tỉnh Yên Bái. Tạo
nên bản sắc văn hóa các dân tộc tỉnh Yên Bái là sự đóng góp của tất cả các
dân tộc anh em, song đáng chú ý hơn cả là văn hóa phong tục của các dân tộc
đã định cư sớm; có dân số đông; có văn hóa truyền thống đặc sắc như: Kinh,
Thái, Tày, Nùng, Khơ Mú, Mông, Dao…
1.2.2.1. Dân tộc Kinh
Người Kinh (người Việt) thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường (dòng
ngôn ngữ Nam Á). Trên địa bàn tỉnh đã phát hiện được những di tích khảo cổ
của người Việt Cổ từng cư trú tại đây. Điển hình là: Thạp đồng được phát
hiện tại xã Đào Thịnh (Trấn Yên), xã Hợp Minh (Trấn Yên); hài cốt người
Việt cổ tên là Hômôsapiên cách đây 8 vạn năm tại hang Hùm (Lục Yên) và
nhiều tư liệu khảo cổ tại bảo tàng Yên Bái cho thấy con người của thời kì
Hùng Vương và sau Hùng Vương cư trú ở trung tâm Yên Bái và vùng đất
Thu Vật xưa. Còn theo sách “Kiến văn tiểu lục” – tập 2 của Lê Quý Đôn thì
từ 1533 anh em người Kinh ở Gia Lộc (Hải Dương) là Vũ Văn Mật và Vũ
Văn Uyên phù Lê chống Mạc đã chạy lên Thu Vật (huyện Yên Bình ngày
nay). Sau đó, Vũ Văn Mật xưng là Chúa Bầu tập hợp người dân tộc thiểu số
và người Kinh khắp các nơi xây thành đắp lũy, trấn ải một vùng. Trước đó

Nhà sàn được dẫn lên bởi một hoặc hai cầu thang khỏe 9 bậc.
Người Tày còn lưu giữ được những kiệt tác văn học dân gian như:
Khảm hải, Khảm Khái…và các bài khắp, cọi. Đồng thời nền mĩ thuật của
người Tày được bảo lưu. Đặc sắc là trên thổ cẩm với các họa tiết trên màn che
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

24
Phứn mản, mặt gối mon thu, mặt địu nả đa, dây dao Slai chạ và bộ tranh thờ
của thầy cúng gồm 7 đến 12 tờ với nhiều hình tượng sinh động.
1.2.2.3. Dân tộc Dao
Ở Yên Bái có bốn ngành Dao có chung một nguồn gốc là cùng ông tổ
Bàn Vương gồm: Dao quần trắng, Dao đỏ, Dao quần chẹt và Dao tuyển.
Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Mông – Dao trong hệ Nam Á.
Người Dao có trang phục độc đáo: đàn ông Dao trong bốn ngành
thường có hai loại áo, áo ngắn mặc hằng ngày và áo dại mặc trong lễ hội, cấp
sắc, đám cưới. Chất liệu làm bằng vải sợi bông chàm, quần cắt kiểu chân què;
phụ nữ Dao mặc áo dài thêu hoa làm bằng vải chàm. Dao đỏ và Dao quần
chẹt thêu ở gấu quần. Họ đeo đồ trang sức bạc. Điểm nổi bật trong nghệ thuật
trang trí y phục của người Dao là đồ trang sức và sự sáng tạo những mô típ
hoa văn cỏ cây, tủa chồ, kỳ hà, kết chữ Hán hình người, hình chim rất sinh
động.
Nhà ở tập trung trong một bản và cửa chính bao giờ cũng quay ra suối
hoặc sông. Yên Bái hội tụ cả ba loại hình nhà ở đó là: Nhà sàn của người Dao
quần trắng, nhà đất của người Dao đỏ, nhà nửa sàn đất của người Dao quần
chẹt và Dao tuyển.
Tang ma người Dao thường tiến hành các nghi lễ: Lễ khâm niệm, lễ xôi
gà và lễ lập bàn thờ (lễ cấp thủy dâng rượu và gia súc), lễ làm chay (chẩu chỉ),
lễ nhập quan yểm bùa, lễ đưa đám quải gạo theo đường đưa đám, lễ hạ huyệt
và lễ cúng cơm. Hầu hết bốn ngành Dao ở Yên Bái không có tục cải táng
người chết. Nếu được cấp sắc trở thành thành viên trong xã hội người Dao

duyên trai gái), đám đánh tù lú (quay), tâu tí (cầu lông gà), đánh mẩy pao, các
nghệ nhân thổi khèn múa tua tài với nhiều động tác phức tạp như trồng cây
chuối, đi qua đòn ống bắc trên chảo thắng cố.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status