Khảo sát truyền thuyết và lễ hội Đinh Lê ở Ninh Bình - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

GIANG THỊ THU PHƯƠNG
KHẢO SÁT TRUYỀN THUYẾT
VÀ LỄ HỘI ĐINH LÊ Ở NINH BÌNH

Chuyên ngành: Văn học dân gian
Mã số: 60 22 36
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC Người hướng dẫn khoa học: GS. TS. Lê Chí Quế
Hà Nội - 2012 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

1. Lí do chọn đề tài
Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành là những vị anh hùng dân tộc có
công lớn trong việc mở ra một kỉ nguyên mới cho đất nước ta. Đó là kỉ
nguyên độc lập, tự chủ và phục hưng dân tộc. Từ lịch sử, các vị vua “khai sơn
phá thạch” đã bước thẳng vào trong đời sống văn hoá, văn nghệ của quần
chúng nhân dân, trong ánh hào quang của niềm ngưỡng mộ chân thành. Mặc
dù những đóng góp đối với sự chuyển biến của lịch sử của hai vua đầu triều
Đinh, Lê là rất lớn và những vấn đề lịch sử, văn hoá thời Đinh – tiền Lê còn
có khá nhiều vấn đề thú vị nhưng những công trình khoa học nghiên cứu
chuyên sâu lại còn khá ít ỏi, sơ lược, nhiều vấn đề đang bỏ ngỏ.
Tôi vô cùng tự hào là người con sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Hoa
Lư anh hùng, văn hoá. Dường như mỗi ngọn núi, mỗi dòng sông nơi đây đều
in bóng những chiến công oai hùng của các anh hùng lịch sử. Từ thuở còn cắp
sách tới trường, mỗi chúng tôi đều luôn nhộn nhịp, háo hức theo những tiếng
trống, tiếng kèn, tiếng thanh la, tiếng não bạt… của các đám rước trong lễ hội
Trường Yên. Đó không chỉ là một sự chờ đợi cái không khí vui vẻ náo nhiệt
của hội lễ mà còn ẩn chứa cả một lòng thành kính và niềm tự hào vô bờ bến.
Viết và tìm hiểu về hai vị vua đầu triều Đinh – tiền Lê, về những sinh hoạt
văn hoá nơi đây cũng chính là một nén tâm hương của người viết đối với các
vị anh hùng trên quê hương mình.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Lịch sử nghiên cứu truyền thuyết dân gian nói chung
Trong kho tàng văn học dân gian, truyền thuyết là thể loại có vị trí quan
trọng. Với cách huyền thoại hoá lịch sử để lưu giữ kí ức cộng đồng, truyền
thuyết đã có những đặc điểm nội dung và nghệ thuật hết sức đặc biệt. Tuy
nhiên ở Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới, việc nghiên cúu truyền
thuyết thường vấp phải một khó khăn là sự phân chia ranh giới giữa truyền 2

3
 Nửa đầu thế kỉ XX
Sang đến đầu thế kỉ XX, việc nghiên cứu truyền thuyết vẫn không có
nhiều chuyển biến. Những công trình sưu tầm, biên soạn cuối thế kỉ XIX, đầu
thế kỉ XX như Truyện khôi hài (1882, Huỳnh Tịnh Của), Truyện Đời xưa
(1886, Trương Vĩnh Kí), nửa đầu thế kỉ XX như truyện cổ nước Nam (1932 –
1934, Nguyễn Văn Ngọc) đều chưa có ý thức rõ rệt về các thể loại tự sự dân
gian. Ngay đến cả công trình nghiên cứu công phu là Văn học sử yếu (1941)
của Dương Quảng Hàm cũng chưa có thuật ngữ truyền thuyết. Trong cuốn
sách của mình, ở thiên “văn chương truyền khẩu” chương “văn chương bình
dân”, Dương Quảng Hàm mới chỉ đề cập tới ca dao, tục ngữ, thành ngữ,
phương ngôn, câu ví. Có lẽ phải đến năm 1942, với sự ra đời của Việt Nam cổ
văn học sử của Nguyễn Đổng Chi thì việc phân loại truyện dân gian mới được
chú ý. Tác giả Nguyễn Đổng Chi đã chia truyện đời xưa thành ba loại: thần
thoại, chuyện thần quái, chuyện vặt. Trong sự phân tích của ông, có thể thấy
bóng dáng của truyền thuyết trong loại chuyện thần quái, và ở đây thuật ngữ
truyền thuyết vẫn chưa được đặt tên cho một thể loại.
Cũng vào nửa đầu thế kỉ XX, các bài viết của tác giả Phục Ba, Nhàn
Vân Đình (trên tạp chí Nam Phong) chưa nhắc đến thuật ngữ truyền thuyết
mà mới chỉ kể lại một số câu chuyện về các nhân vật lịch sử như Lê Phụng
Hiểu, Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Lê Lợi… và trong khi kể đã gọt
hết yếu tố thần kì, chỉ chú trọng yếu tố lịch sử (trang 486 – 492, 31 – 34). Còn
trên tạp chí Tri Tân, tác giả Đào Duy Anh đã dùng thuật ngữ truyền thuyết và
trong khi phân tích các truyện đã đụng chạm đến một vấn đề lí luận mấu chốt
là mối quan hệ giữa yếu tố hoang đường và sự thật lịch sử trong truyền thuyết.
Tác giả đề cập rằng sách xưa của người Trung Quốc không chép việc Triệu
Đà đánh An Dương Vương để chiếm Tượng Quân nhưng cứ truyền thuyết ấy,
nếu ta bỏ đi những yếu tố hoang đường thì cũng còn lại cái kỉ niệm của một
cuộc chiến tranh hẳn có. Còn tác giả Hoa Bằng thì chú ý đến truyền thuyết
dân gian, dùng nó để cải chính lại chi tiết trong sử sách. Tuy chỉ là những bài

Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Nguyễn Đổng Chi đã có những kiến giải 5
khá thuyết phục về ranh giới truyền thuyết và truyện cổ tích dưới góc độ xem
xét truyền thuyết như một thể loại văn học dân gian. Ông đã chỉ ra sự bất cập
khi xác định thể loại truyền thuyết Việt Nam theo những tiêu chí phân loại
của nước ngoài và những khó khăn khi tách bạch truyền thuyết và truyện cổ
tích ở Việt Nam. Xét quá trình hình thành và phát triển của truyền thuyết, ông
cho rằng, truyền thuyết mới chỉ tồn tại ở dạng mẩu chuyện chứ chưa thành
câu chuyện và nếu phát triển hoàn chỉnh thì truyền thuyết có thể trở thành
thần thoại hoặc cổ tích. Xét góc độ kết cấu của truyền thuyết, nhận định này
có sức thuyết phục không phải chỉ đối với truyền thuyết Việt Nam mà còn có
sự gặp gỡ với việc nghiên cứu truyền thuyết ở một số nước. Từ đó tác giả cho
rằng nếu truyền thuyết có thể đứng được thành một thể loại riêng biệt thì phải
gồm những truyện xưa chuyện nói về anh hùng lực sĩ trong thời khuyết sử và
thời Bắc thuộc đã được kì vĩ hoá, thần thánh hoá. Đây có thể nói là một mảng
rất quan trọng trong truyền thuyết, song coi nó là toàn bộ truyền thuyết dân
gian Việt Nam thì e rằng đã thu hẹp phạm vi truyền thuyết.
Trong Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Nguyễn Đổng Chi lại có dịp
viết về truyền thuyết. Ở phần “truyện truyền miệng”, tuy vẫn để chung với
thần thoại nhưng tác giả đã có những tìm tòi về bản chất thể loại truyền
thuyết. Ông đã từ những truyện cụ thể để nhận xét những đặc điểm nội dung,
thời đại hình thành truyền thuyết và sự thay đổi bộ mặt truyền thuyết qua việc
ghi chép ở nhiều thời đại. Ông nhận định rằng xét về đề tài truyền thuyết, có
thể phỏng đoán rằng, truyền thuyết xuất hiện sau thần thoại. Truyền thuyết là
những truyện lịch sử chỉ có thể có khi con người đã có ý thức về lịch sử của
mình, về đất đai và xứ sở của mình. Đây có thể coi là một bước tiến với chính
ông vì trong Kho tàng truyện cổ tích việt Nam ông cho rằng thần thoại và
truyền thuyết không có sự khác nhau về nội dung và nghệ thuật.

sắp xếp theo một trật tự nào cả.
Những yếu tố ngổn ngang đó được sắp xếp vào hai hệ thống, tức là hai
luồng ý kiến trong hai cuốn giáo trình của Đại học Sư phạm và Đại học Tổng
hợp. Trong khi cuốn của Đại học Sư phạm thừa nhận có thể loại truyền thuyết
dân gian thì cuốn giáo trình của Đại học Tổng hợp lại không thừa nhận điều 7
này, đề nghị coi đó là thuật ngữ của sử học. Phần viết của Đỗ Bình Trị đã sắp
xếp chung thần thoại và truyền thuyết vào một chương, tuy nhiên những nét
đặc trưng thể loại chưa chưa được nói nhiều.
 Những năm 70 của thế kỷ XX
Sự ý thức về thể loại truyền thuyết phải nói là sâu sắc hơn nhiều vào
một vài năm sau đó trên Tạp chí văn học năm 1967 và được tập hợp lại cùng
một số bài viết dài hơn và sâu sắc hơn trong cuốn Truyền thống anh hùng
trong loại hình tự sự văn học dân gian Việt Nam. Ở cuốn này, hai tác giả
Đinh Gia khánh và Nguyễn Ngọc Côn vẫn dùng thuật ngữ truyện cổ tích lịch
sử để chỉ bộ phận truyện kể dân gian về các anh hùng nông dân khởi nghĩa.
Ba tác giả khác là Tầm Vu, Phan Trần, Kiều Thu Hoạch đã có những đóng
góp mới vào việc xây dựng lí thuyết thể loại truyền thuyết. Tác giả Tầm Vu
(Trần Văn Giàu), tìm hiểu truyền thống yêu nước thương nòi trong truyện dân
gian trên cở sở đặt vấn đề phân biệt thần thoại và truyền thuyết, phân biệt
truyền thuyết thật giả và chọn ra năm truyện đứng đầu trong kho tàng thần
thoại, truyền thuyết Việt Nam là: Họ Hồng bàng, Thần Tản Viên, Thánh
Gióng, Thần Kim Quy, Hai Bà Trưng.
Để nghiên cứu tinh thần dân tộc qua các truyền thuyết lịch sử, các tác
giả Phan Trần đã nêu những nhận xét sơ bộ về sự phân biệt thần thoại và
truyền thuyết.
Công trình Truyền thuyết anh hùng trong thời kì phong kiến của tác giả
Kiều Thu Hoạch có thể nói là công trình công phu đầu tiên đặt vấn đề nghiên

cứu truyền thuyết như là một thể loại văn học dân gian vẫn chưa có những
bước tiến đáng kể.
 Những năm 90 của thế kỷ XX
Đến năm 1990, việc nghiên cứu truyền thuyết từ góc độ bản chất thể
loại có những khởi sắc sau hơn 10 năm chìm vào im lặng. Trước hết phải kể
đến công trình Giông bão Loa thành của tác giả Đặng Văn Lung. Từ sự khảo
sát công phu các bản ghi chép, các dị bản truyền thuyết như bản chất sử trong 9
truyền thuyết, mối quan hệ giữa sử với chủ đề và kết cấu truyền thuyết, vấn đề
mô típ, nhân vật; tác giả đã có những gợi ý rất tốt cho sự triển khai khảo sát
trên diện tư liệu rộng hơn. Đây là công trình mở đầu cho xu hướng khảo cứu,
phân tích một truyền thuyết qua tất cả những nguồn tư liệu có chứa đựng
truyền thuyết (thư tịch cổ, truyền thuyết truyền miệng…). Đây là một xu
hướng cần thiết để việc xây dựng lí thuyết thể loại có cơ sở chắc chắn hơn.
Năm 1990 còn là năm đánh dấu việc viết lại hai bộ Giáo trình văn học
dân gian Việt Nam của trường Đại học Sư phạm và Đại học Tổng hợp. Trong
khi giáo trình Đại học Sư phạm phần truyền thuyết do Hoàng Tiến Tựu viết
lại không có gì thay đổi đáng kể so với Đỗ Bình Trị viết trước đây thì giáo
trình Đại học Tổng hợp đã có sự thay đổi lớn. Trước đây như đã nói ở trên,
tác giả Đinh Gia Khánh không thừa nhận sự tồn tại của truyền thuyết mà gạt
hết sang hoặc là sử học, hoặc là cổ tích lịch sử thì sau này Giáo sư Lê Chí
Quế đã thừa nhận sự tồn tại độc lập của thể loại truyền thuyết trong kho tàng
tự sự dân gian.
Năm 1992, Chiêng Xom An có công bố bài viết Bàn thêm về thể loại
truyền thuyết. Bài viết này cày xới trở lại những vấn đề đặc trưng thể loại
nhưng với dung lượng một bài viết ngắn. Đây mới chỉ là sự đặt vấn đề trở lại
các luận án của Lê Kì, Nguyễn Quang Lê đã có trước đó. Các luận án của hai
tác giả này đã nghiên cứu nhiều góc độ khác nhau như mối quan hệ giữa

2007), Lã Đăng Bật với Cố đô Hoa Lư, lịch sử và danh thắng (NXB VHDT,
2006, khi tái bản lại tác giả đã đổi tên là Cố đô Hoa Lư). Viết nhiều và thực
sự sâu sắc phải kể đến tác giả Trương Đình Tưởng với cuốn Những nhân vật
lịch sử thời Đinh – Lê (NXB VHDT, 2001) và Truyền thuyết Đinh – Lê (NXB
VHDT, 2007). Các tác phẩm này của ông đã được tặng giải thưởng của Hội
văn nghệ dân gian. Cuốn sách Truyền thuyết Đinh Lê tập hợp được một số
truyền thuyết tiêu biểu về thời Đinh Lê được giới thiệu trong tập Truyền
thuyết Hoa Lư của Trương Đình Tưởng và Lê Hải (do Sở Văn hoá – Thông
tin tỉnh Hà Nam Ninh xuất bản năm 1998, nay được biên soạn lại). Ngoài một 11
số tác giả là người Hoa Lư viết về quê hương mình, còn có một số tác giả
khác. Đó là Đặng Xuân Bảng trong Sử học bị khảo (NXB Văn hoá Thông tin,
1997), Nguyễn Đăng Thục trong Lịch sử tư tưởng Việt Nam tập 2 (NXB
TP.HCM, 1998), Nguyễn Khắc Thuần trong Việt sử giai thoại (NXB Giáo
dục, 2001), Trần Xuân Sinh trong Việt sử kỉ yếu (NXB Hải Phòng, 2004).
Ngoài các tư liệu chính sử, trong văn học Việt Nam có nhiều tác phẩm nổi
tiếng viết về Đinh Bộ Lĩnh, tiêu biểu như Cờ lau dựng nước, Trận chiến trong
thung lũng, Hoàng đế cờ lau, Sử ca Đinh Bộ Lĩnh, Truyền thuyết sông Hoàng
Long,Ttruyền thuyết con ngựa đá, Bóng cờ lau… Trong đó có tác phẩm đã
được chuyển thành phim như Trận chiến trong thung lũng, Hoàng đế cờ lau,
Đinh Tiên Hoàng đế. Hình ảnh Đinh Bộ Lĩnh thời niên thiếu đã đi vào thơ ca
tuổi trẻ Việt Nam từ thời tiểu học :
Bé thì chăn nghé chăn trâu
Trận bày đã lấy bông lau làm cờ
Lớn lên xây dựng cơ đồ
Mười hai sứ tướng bấy giờ đều thua
Ngoài một số tác phẩm được chuyển thể thành phim nói trên, còn có
một số vở chèo như Nước mắt vua Đinh (Trần Đình Ngôn), vở cải lương Thái

Xoi rừng tỉa giống gai
Khi gặp khách nam Hải
Tiếng Mường biết hỏi ai?
(Thượng tọa Mật Thế dịch)
(Nguồn trên website: http://www.toquoc.gov.vn/Print/Article/Doi-Net-Ve-Van-Hoa-
Va-Giao-Luu-Thoi-Dinh-Tien-Le-Ly-I/pdf ).
Ngoài ra còn có một số bài viết về triều đại Đinh – tiền Lê như tác giả
Lê văn Hảo với bài Thời Ngô – Đinh – Tiền Lê của văn hoá Hoa Lư (Nguồn:
http://chimviet.free.fr/dantochoc/vnvanhien/lvhs078.htm).
Trên website: http://vi.wikipedia.org/wiki/Hoa_L%C6%B0 có bài viết
Hoa Lư viết một cách khá chi tiết về nhà Đinh, nhà Tiền Lê, nhà Lý, kiến trúc 13
thành Hoa Lư, thành Tràng An, núi Mã Yên, núi Cột Cờ, sông Hoàng Long,
cung điện Hoa Lư, văn hoá Hoa Lư.
Các bài viết có liên quan đến kinh đô Hoa Lư và triều đại Đinh – tiền
Lê khác có thể kể đến như: Về Ðường Lâm thăm quê hương Ngô Quyền; Vị tổ
Trung hưng thứ nhất của dân tộ;, Về thăm Hoa Lư, kinh đô nước Ðại Cồ Việt
thời Ðinh và thời Tiền Lê; Hội Trường Yên vang bóng văn hóa; Văn học, tư
tưởng và tôn giáo thời kỳ văn hóa Hoa Lư, Vài nét về diện mạo văn học trung
đại Ninh Bình của tác giả Bùi Ngọc Minh.
Từ tháng 10/2008-1/2011, tác giả Vân Giang có bài viết về Cố đô Hoa
Lư khá tường tận chi tiết như giới thiệu tổng quan, hành trình thăm viếng, các
nhóm di tích (các đình, đền, các chùa cổ, các lăng bia, các phủ miếu), dấu tích
kinh thành (cung điện dưới lòng đất, thành thiên tạo, đô thị cổ Hoa Lư), bảo
tồn phát huy…
(Nguồn: http://newvietart.com/index4.852.html).
Gần đây có một số cuốn sách của các nhà nghiên cứu lật lại vấn đề lịch
sử, tỏ ý nghi ngờ Đỗ Thích không phải là kẻ chủ mưu trong vụ sát hại cha con

thời kì ở kinh đô Hoa Lư kể từ sau năm 968 là năm họ Đinh lên ngôi và cho
rằng “cuộc tình” ấy đã sinh ra Đinh Toàn.
Nhưng có lẽ đó chỉ là những lời đồn đại của đời sau rồi đem diễn ra
chứ sự thực không phải như vậy. Bởi lẽ cha con vua Đinh và “bộ tứ” hãy còn
thì làm sao họ có thể công khai gặp và “mây mưa” với nhau được. Dẫu vậy
điều ấy trên thực tế vẫn có thể xảy ra và cũng chính từ đó đã tạo ra một “nghi
án lịch sử”. Dù thế nào đi chăng nữa thì Dương Vân Nga đã, đang và sẽ còn
gây nhiều tranh luận. Đó quả là người phụ nữ phi thường, có những ảnh
hưởng lớn lao tới cả một thời kì lịch sử của dân tộc.
Các đền thờ Đinh Bộ Lĩnh có ở nhiều vùng miền khác nhau. Nổi bật
nhất phải kể đến Ninh Bình với 16 đền thờ và nhiều nơi phối thờ - đều nằm ở
phía Bắc của tỉnh (trong khi các đền thờ Lê Đại Hành lại nằm ở nửa phía Nam
tỉnh). Các đền, đình này gồm: Đền vua Đinh Tiên Hoàng, đình Yên Trạch,
đình Yên Thành, ở khu di tích cố đô Hoa Lư, xã Trường Yên; đình Trung Trữ 15
xã Ninh Giang; đền thờ Đinh Bộ Lĩnh ở xã Gia Phương; đình Viến và đền
Thung Lau ở động Hoa Lư, đình Kính Chúc ở xã Gia Phú huyện Gia Viễn;
các đình Mỹ Hạ, đình Ngọc Nhị, đình Ngọc Ba ở xã Gia Thuỷ và các đình
thôn Lược, thôn Me ở xã Sơn Lai huyện Nho Quan.
Nam Định có đền vua Đinh ở xã Yên Thắng, đình Thượng Đồng ở xã
Yên Tiến, Ý Yên, ở làng Việt cổ Bách Cốc, Vụ Bản, đền vua Đinh ở Giao
Thủy… Hà Nam có đền Lằn ở Thanh Liêm, đền vua Đinh ở xã Đồng Hoá và
đền Đăng Xá ở Văn Xá, Kim Bảng, đền Ung Liêm ở Phủ Lý… Hà Nội có đền
thờ ở làng Cổ Điển, Tứ Hiệp, Thanh Trì… xa hơn là Đà Nẵng có đền thờ vua
Đinh ở xã Hoà Khương, Hoà Vang. Lạng Sơn có đền thờ vua Đinh Tiên
Hoàng ở thôn Quảng Trung xã Quang Lạc, thành phố Lạng Sơn. Thanh Hoá
có đền thờ vua Đinh ở làng Quan Thành, Triệu Sơn, Đắc Lắc có đình Cao
Phong, ở Hoà Thắng, Buôn Ma Thuột…

văn học, những tài liệu chưa xuất bản, những lời truyền miệng ở địa
phương…). Trên cơ sở tìm hiểu, thu thập, tổng hợp các tư liệu gồm cả tư liệu
sử học, tư liệu văn học cũng như các tư liệu đã sưu tầm được trong quá trình
điền dã, chúng tôi đã tiến hành phân tích, so sánh, đối chiếu, xác minh, xử lí
các tư liệu.
- Phương pháp điền dã, thực địa, ghi chép, quay phim, chụp ảnh, phỏng
vấn… Chúng tôi đã tiến hành về thực địa ở xã Trường Yên và các xã lân cận
thuộc địa bàn Hoa Lư. Trên cơ sở thực địa chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn,
ghi chép những tư liệu mà người dân bản địa cung cấp. Chúng tôi cũng đã
trực tiếp tham dự vào lễ hội Trường Yên cũng như đi sâu tìm hiểu các phong
tục tập quán, tín ngưỡng của người dân nơi đây.
5. Đóng góp của luận văn
Nhìn nhận được mối quan hệ gắn bó mật thiết hữu cơ giữa truyền
thuyết – lịch sử - lễ hội. Các anh hùng không chỉ sống trong những lời kể mà
còn sống trong những nghi lễ thờ cúng với những nghi thức, những tập tục
sinh động. 17
Luận văn cũng góp thêm một số tư liệu bổ sung vào việc nghiên cứu
truyền thuyết Đinh Lê ở Ninh Bình. Hiện nay tài liệu về thời Đinh Lê nhìn
chung khá ít ỏi và chưa được tập hợp thành một hệ thống. Các tài liệu cũng
thiên về nghiên cứu lịch sử hoặc các công trình kiến trúc thời Đinh Lê. Vì thế
luận văn này của chúng tôi có thể sẽ góp một phần nhỏ bé vào công tác
nghiên cứu tìm hiểu mối quan hệ gắn bó hữu cơ giữa truyền thuyết - lịch sử -
lễ hội. Đồng thời đây cũng là nguồn bổ sung những tư liệu cần thiết cho công
tác nghiên cứu truyền thuyết ở Ninh Bình.
6. Kết cấu
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn có ba chương:
Chương 1: Triều đại Đinh - Lê trong lịch sử và trong truyền thuyết

dân tộc tiêu biểu của đất nước” (Phan Huy Lê). Có người lên thuyền khiến
cho thuyền bị nghiêng đổ nhưng có người lên thuyền khiến cho thuyền có thể
lướt tới băng băng. Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn chính là người bước lên thuyền
khiến cho thuyền nước Việt ta băng tới. Nước độc lập mà dân không được
hưởng thái bình thì đại họa vẫn còn đó, cho nên thay đấng dẹp loạn, tạo dựng
nền quốc thái dân an, do trí đại định cho xã tắc, tên tuổi của Đinh Tiên Hoàng 19
sánh ngang tên tuổi các bậc anh hùng đã có công phá giặc ngoại xâm. Cùng
với Đinh Bộ Lĩnh, tên tuổi của Lê Hoàn cũng mãi mãi được người đời ngợi
ca. Ai lên ngôi để hưởng cuộc đời nhung lụa, còn Lê Hoàn lên ngôi trước hết
là nhận lấy sứ mệnh vinh quang mà cực kì khó khăn, đó là chỉ huy cuộc chiến
đấu chống quân Tống xâm lược, bảo vệ nền tự chủ và thái bình cho xã tắc.
Đinh Bộ Lĩnh là vị vua khai sáng đầu tiên của nước Việt Nam độc lập
sau một ngàn năm bị bọn phương Bắc đô hộ. Hoa Bằng trong Tri tân tạp chí
(số 41 năm 1942, trang 3) đánh giá Đinh Tiên Hoàng là người anh hùng, có ý
thức dân tộc đã “khai sơn phá thạch” xây dựng quốc thống Việt Nam đầu tiên.
Nguyễn Đăng Thục thì nhận định: “Sự nghiệp hỗn nhất nước Đại Cồ Việt ấy
phải chăng cũng công to bằng Tần Thuỷ Hoàng đã thống nhất nước Tàu thời
chiến quốc” [42, 323]. Các nhà nho xưa cũng đã khẳng định: Đinh Bộ Lĩnh là
người mở đường của nhà nước phong kiến trung ương tập quyền ở Việt Nam,
người mở nền chính thống (chính thống thuỷ).
Ngày rằm tháng hai năm 924 Đinh Bộ Lĩnh cất tiếng khóc chào đời tại
thôn Kim Lưu, làng Đại Hữu, châu Đại Hoàng. Cuộc đời lăn lộn “nếm mật
nằm gai” đầy gian khổ dễ khiến chúng ta lầm tưởng gốc gác nông dân của
ông nhưng thực ra ông là con quan thứ sử Hoan Châu (Nghệ An) là Đinh
Công Trứ (đời Dương Đình Nghệ: 930 – 937, đến thời Ngô Vương Quyền
vẫn giữ chức đó). Tuy là con quan nhưng cuộc đời của Đinh Bộ Lĩnh không
phải lớn lên trong lụa là gấm vóc, trong phú quý giàu sang. Cha mất sớm, Bộ

còn thơ tóc còn xanh mướt dưới bóng cờ lau chứ không phải đợi đến khi quốc
gia hữu sự, cần dẹp giặc khăn vàng mới “đào viên kết nghĩa” như Lưu Bị,
Quan Vân Trường, Trương Phi. Tuổi thơ đã hun đúc trong Đinh Bộ Lĩnh
những hoài bão khác thường vượt xa lứa tuổi. Đến tuổi trưởng thành, vốn
mang sẵn trong mình dòng máu của bậc anh hùng cái thế, lại chứng kiến cảnh
đất nước đang lâm vào cơn hỗn loạn nên Bộ Lĩnh đã quyết tâm đem lại cảnh
thái bình cho muôn dân. Ông chiêu tập các bạn từ thuở cờ lau tập trận, các
nghĩa sĩ quanh vùng, tại động Hoa Lư, tập võ nghệ, luyện kiếm cung, tích trữ
lương thảo, chờ thời cơ nổi dậy. 21
Sau một thời gian đất nước hưởng cảnh thái bình dưới thời Ngô Vương
Quyền thì đến nay đất nước lại chìm trong cảnh máu me tang tóc của những
cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn. Những cảnh “nồi da nấu thịt”, cảnh
“chia ba rẽ bảy”, mỗi địa bàn phấp phới một lá cờ sứ quân. Người ta gầm ghè
nhau, hục hặc lẫn nhau trong vòng mấy năm trời chỉ đưa quần chúng vào lò
sát sinh để hòng lấy cái ngôi chúa tể mà thôi. Cảnh cát cứ ấy, sự phân chia ấy
chỉ tổ làm tê liệt cái nguyên khí của nước Văn Lang. Mâm cát vụn kia, nắm
đũa rời kia càng dễ làm mồi cho con hùm Nam Hán. Trước tình thế phân chia
nguy ngập đó, nếu nước ta hồi ấy không có một tay hào kiệt phi thường đứng
cao giơ lên, xoay lại thời cuộc thì:
Một miếng thịt trăm dao xâu xé
Chiếc kim âu chẳng mẻ cũng khôn lành
Thanh gươm “vạn Thắng” đã chăm rèn
Đinh Bộ Lĩnh thực chất cũng là một sứ quân dù trong danh sách “Thập
nhị sứ quân” cát cứ, đánh chiếm, tranh giành và chống lại triều đình trung
ương lúc đó không có tên ông. Ông đứng ngoài cuộc chiến huynh đệ tương
tàn đó. Lúc này ông cũng như hùm thiêng đang náu nơi rừng sâu, rồng linh
đang ẩn nơi bể cả chờ thời cơ đến.

vây và đánh phá động Hoa Lư nhiều ngày mà vẫn không hạ được nghĩa quân
ở đây. Đều là các bậc vương giả mà phải dùng đến cả kế sách treo Đinh Liễn
lên ngọn cây để dụ hàng.
Thế nhưng mọi sự trù tính dự liệu của họ đều không thể khuất phục
được Đinh Bộ Lĩnh. Không phải Đinh Bộ Lĩnh nhẫn tâm mà ông đã đặt lợi
ích và nguyện vọng chung lên cao hơn tất cả. Con người binh thư thao lược
đó đã đóng chặt cửa thành, đêm đêm lại tung quân từ các vạt rừng, hang động
ra đánh tiêu hao lực lượng triều đình. Vua quan nhà Ngô bị rơi vào tình trạng
tự mình gây tổn thất khi thành thì không hạ được, lương thì hết, quân thì mệt
mỏi hao hụt. Bao vây hơn một tháng trời mà đành phải rút quân về trong thất
bại chán chường. Ta không thấy nói đến việc Đinh Bộ Lĩnh học các sách binh
thư nhưng rõ ràng qua những kế sách mà ông đã vận dụng với triều đình Cổ
Loa thì ông quả là một tướng biết dùng binh, tiến lùi đều rất hợp lí. 23
Đánh lui được quan quân triều đình, uy danh của Bộ Lĩnh càng thêm
lừng lẫy. Xưa nay có những sự gặp gỡ là do duyên trời nhưng cũng có những
sự gặp gỡ là do nhân định. Sự gặp gỡ của Đinh Bộ Lĩnh với Trần Minh Công
ở Bố Hải Khẩu khiến cho ông như hổ thêm vuốt, như rồng thêm vây. Vì biết
lực lượng của mình còn mỏng nên Bộ Lĩnh đã sang xin theo sứ quân Bố Hải
Khẩu. Ngay từ những buổi đầu dưới trướng của sứ quân họ Trần, ông đã dành
được sự quý mến của vị tướng già lão luyện nơi trận mạc. Không phải chỉ vì
Đinh Bộ Lĩnh là con trai của Đinh Công Trứ - bạn đồng liêu có nhiều ân
nghĩa với Trần Minh Công dưới thời Ngô Vương Quyền mà chính ở chí khí,
tài thao lược của vị tướng trẻ họ Đinh. Chọn mặt gửi vàng, mến tài mến đức,
Trần Minh Công đã gả con gái yêu của mình cho Bộ Lĩnh. Trao toàn bộ binh
quyền cho Đinh Bộ Lĩnh cũng tức là trao trọn cả niềm tin và hi vọng cho nơi
mình gửi gắm.
Thật không phụ lòng uỷ thác tin yêu, nghĩa quân của Bộ Lĩnh ngày


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status