PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài
1. Trong quá trình hình thành và phát triển của quốc gia – dân tộc ta, trải qua
mấy ngàn năm lịch sử. Mỗi một thời kì lịch sử là một mảnh ghép hết sức quan trọng
tạo nên một bước phát triển mới trong lịch sử nước nhà. Trong đó phải kể đến cuộc
khởi nghĩa Hai Bà Trưng từ những năm 40 – 43 TCN.
2. Nói đến văn học dân gian Việt Nam thì truyền thuyết được coi là một
trong những thể loại văn học độc đáo của dân tộc và nú cú một vị trí hết sức đặc
biệt. Với đặc trưng thể loại của mình truyền thuyết đã cho ta thấy được những giá trị
to lớn trong việc lưu truyền lịch sử văn hoá của dân tộc.
Trong kho tàng truyền thuyết giàu có và phong phú của dân tộc ta thì mảng
truyền thuyết về các anh hùng đặc biệt là các anh hùng chống ngoại xâm vẫn nổi
trội hơn cả, tiêu biểu là truyền thuyết cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng.
Truyền thuyết về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng có một vị trí hết sức quan
trọng trong lịch sử dân tộc, thấm sâu vào đời sống tinh thần của nhân dân Việt Nam.
Lần đầu tiên dưới sự lãnh đạo của những người phụ nữ, nhân dân ta nhất tề đứng
dậy, đoàn kết một lòng, dũng cảm chống giặc ngoại xâm, giành độc lập dân tộc.
Nghiên cứu truyền thuyết Hai Bà Trưng nói chung không chỉ có ý nghĩa về
mặt lịch sử mà còn đem lại giá trị to lớn về tư tưởng, chính trị, văn hóa, đặc biệt với
chuyên ngành văn học dân gian
3. Qua truyền thuyết về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng chúng ta càng thấy
tự hào hơn về ý thức độc lập dân tộc, khát khao về quyền tự chủ, khát khao ý thức
bảo vệ chủ quyền tổ quốc có ý nghĩa to lớn biết nhường nào. Từ ý thức cộng đồng đã
phát triển thành ý thức giống nòi, tinh thần dân tộc mạnh mẽ. Cũng qua những câu
chuyện đó, chúng ta thấy được những trang sử thi hào hùng của ông cha ta trong việc
đấu tranh chống ngoại xâm. Chỉ có khoảng gần ba năm thôi những gì mà Hai Bà
Trưng và các tướng lĩnh của Hai Bà càng làm cho chúng ta tự hào và nhớ ơn về
những người anh hùng dân tộc, những người phụ nữ luôn “anh hùng, bất khuất, trung
hậu, đảm đang” mà Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã trân trọng trao tặng.
1
4. Hiện nay nhân dân tỉnh Hưng Yên vẫn còn lưu lại một kho tàng truyền
2
1. Việc nghiên cứu truyền thuyết Hai Bà Trưng ở nước ngoài.
Biên niên sử Trung Hoa như “Hậu Hán Thư” hay “Thuỷ Kinh Chu”đó dành
những trang rất quan trọng ghi lại cuộc khởi nghĩa này. Tác giả cũng đã dành những
lời đánh giá, bình luận rất sâu sắc về cuộc khởi nghĩa.
Tiếp đó là bộ lịch sử của Lịch Đạo Nguyên viết thời Bắc Nguỵ (515 –
516 SCN) đã dẫn lời Giao Châu Ngoại Vực thế kỉ IV – V là “Trưng Trắc là con gái
lạc tướng huyện Mê Linh và Thi Sách là con của lạc tướng huyện Chu Diên đời
Hán. Hai dòng lạc tướng này đã kết mối thông gia và bà Trưng Trắc đó cựng con
(Trưng Nhị) và chồng khởi nghĩa, công phá cỏc chõu, quận thuộc quyền cai trị của
đế chế Hán ở phương Nam”.
Như vậy cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng tuy ngắn ngủi những những gì
sử sách nước ngoài viết về cuộc khởi nghĩa thì chúng ta có thể khẳng định đây là
cuộc khởi nghĩa hoàn toàn có thật chứ không phải là huyền thoại.
2. Ở trong nước.
Trải qua các triều đại Lý - Trần – Lê - Nguyễn cũng đã có nhiều văn bản
được tuyển chọn và giới thiệu về các truyền thuyết này như:
Cuốn “Việt Điên U Linh” của Lí Tế Xuyên biên soạn khoảng thế kỉ XIV đời
nhà Trần, chép lại những chuyện vốn lưu hành về các vị thần thiêng ở nước ta cú
chộp chuyện Hai Bà Trưng. Trong cuốn sách này ta biết rằng: “sau khi Hai Bà
Trưng tử trận, dân địa phương thương xót, lập đền thờ, nhiều lần hiển linh, nay đền
ở huyện An Hát”. Như vậy dưới nhà Trần việc thờ phụng các vị thần linh thiờng đó
rất được coi trọng, trong đó có Hai Bà Trưng, bởi lẽ theo sách này thỡ vựng An Hỏt
chớnh là vùng đất mà Hai Bà cai quản khi xưa và dưới triều vua Lý Anh Tông, đền
thờ Hai Bà Trưng đã được lập và nhà vua hay đến vùng đất này cầu mưa mỗi khi
trời gặp đại hạn.
Cuốn “Lĩnh Nam chớch quỏi”, cuốn sách tập hợp các ý kiến của các tác giả
đời Lý - Trần – Lê sưu tập và sau cùng là do Trần Thế Pháp biên soạn và hoàn
thành vào cuối thế kỉ XV thì trong 23 truyện cơ bản của sỏch “đó cố định hoỏ” Vũ
Quỳnh viết lời tựa năm 1493 đã đánh giá: “Hai Bà Trưng trọng nghĩa, khi chết
của các tác giả đã đem lại một giá trị khoa học to lớn cho ngành Văn học dân gian
nói riêng và ngành Văn học nước nhà nói chung, từ đó còn thu hút không chỉ những
người nghiên cứu Văn học mà còn thu hút cả những người thuộc các chuyên ngành
khác như Khảo cổ học, Dân tộc học, Kiến trúc, Hội hoạ.
4
Cụng trình nghiên cứu của Minh Khanh “Sơ khảo lịch sử Việt Nam” – NXB
Giáo dục 1954, đã nêu lên những nét khái quát một số sử liệu chính và từ đó tác giả
đi vào phân tích nguyên nhân sâu sa và ý nghĩa của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng
trên quan điểm Macxit.
Tác giả Đào Duy Anh trong cuốn “Lịch sử Việt Nam đến cuối thế kỉ XIX
quyển thượng” - tập san Đại học Sư phạm 1956 trang 37 – 41 phần viết về cuộc
khởi nghĩa Hai Bà Trưng, tác giả đã phân tích nguyên nhân sâu sa và nguyên nhân
trực tiếp dẫn đến cuộc khởi nghĩa và ý nghĩa của nó. Tác giả đã nhận dạng “biểu
hiện cái ý chí bất khuất của toàn thể nhân dân đối với ách áp bức của ngoại bang và
cái mầm mống tinh thần dân tộc tự cường”. Có lẽ đây là một lời nhận định rất hay,
rất sát thực với tinh thần chung của cuộc khởi nghĩa.
Giáo sư Minh Hà có công trình “Hai Bà Trưng và Bà Triệu” – NXB phụ nữ
ấn hành 1962, ụng đã khái quát về thân thế, sự nghiệp của Hai Bà Trưng, Bà Triệu,
khẳng định ý nghĩa to lớn của cuộc khởi nghĩa đối với dân tộc trong công cuộc đấu
tranh giải phóng. Điều này ụng đó dựa vào những văn bản đã có trước.
Trong cuốn “Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam” - tập I, NXB Giáo dục
1903 trong mục “Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng” Giáo sư Trần Quốc Vượng và
Giáo sư Hà Văn Tấn đã mô tả rất cụ thể và tỉ mỉ về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà, ụng
đã mạnh dạn lên án những quan điểm sai lầm của học giả Nguyễn Tế Mỹ trong “Hai
Bà Trưng khởi nghĩa” – NXB Hàn Thuyên 1944 và khẳng định “Cuộc khởi nghĩa
của Hai Bà Trưng là cuộc khởi nghĩa của nhân dân Lạc Việt chống lại ách áp bức,
bóc lột của bọn phong kiến Hán tộc, tính chất tiến bộ của cuộc khởi nghĩa là ở chỗ đú”.
Ngoài ra còn có rất nhiều ấn phẩm đã được sưu tầm ở Hà Tây (cũ), Vĩnh
Phúc, Hà Nội, Hưng Yên, thật phong phú và đa dạng, trong đó phải kể đến một số
ấn phẩm:
chiến công hiển hách làm rạng rỡ truyền thống anh hùng bất khuất của người phụ
nữ nước nhà”. Tuy nhiên qua hai bài viết trên, ta nhìn thấy hai tác giả mới chỉ nhìn
nhận về truyền thuyết ở phương diện nghệ thuật (đặc điểm thi pháp) của các truyền
thuyết mà chưa đi sâu vào nội dung, sự phong phú của các truyền thuyết đú.Chưa
làm nổi bật được đặc trưng thể loại cũng như các đóng góp của nhóm truyền thuyết
này trong thể loại văn học dân gian nói riêng và văn học dân tộc nói chung.
Nhóm tác giả Lê Trung Vũ (chủ biên) cùng với Nguyễn Xuân Kớnh, Lê Văn
cho ra đời công trình “Lễ hội cổ truyền” – NXBKH Xã hội và nhân văn 1992. Công
6
trình này đã có giá trị hết sức to lớn trong việc phân tích, đánh giá phân loại các lễ
hội cổ truyền của dân tộc, mối quan hệ lễ hội và truyền thuyết. Công trình đã tạo
điều kiện rất tốt trong việc nhìn nhận một cách sâu sắc hơn các truyền thuyết về
cuộc khởi nghĩa của Hai Bà và tập tục thờ cúng ở địa phương và là nguồn tư liệu rất
tốt cho các nhà nghiên cứu Văn học dân gian, dân tộc học, văn hoá học,
Trên cơ sở đó, năm 1995 nhà nghiên cứu dân tộc học Lê Trung Vũ cùng với
Thạch Phương lại xuất bản tiếp cuốn “Sỏu mươi lễ hội truyền thống Việt Nam”
NXB Khoa học xã hội 1995. Trong tác phẩm này tác giả đã đề cập đến lễ hội Hai
Bà Trưng ở Hát Môn (Hà Tây), Hạ Lôi (Vĩnh Phúc), Đồng Nhân (Hà Nội) và chỉ ra
nét đặc sắc của các lễ hội. Từ đó ta có thể đối chiếu với lễ hội ở Phụng Công (Văn
Giang Hưng Yên) để làm nổi bật những nét chung của mỗi lễ hội.
Cũng trong thời gian này, nhân kỉ niệm 1960 năm cuộc khởi nghĩa Hai Bà
Trưng các nhà nghiên cứu cũng đã khẳng định “cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng
là có thật, một sự thật lịch sử, một bản anh hùng ca bất hủ của dân tộc Việt Nam”.
“Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng từ Mê Linh lan toả ra cả một không gian văn hoá –
xã hội rộng lớn từ Giao Chỉ đến Cửu Chân, Nhật Nam Hợp Phố là có thật, và cái
làm nên giá trị vĩnh cửu của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng là việc đặt nền tảng cho
tinh thần bất khuất Việt Nam” [49].
Tác giả Nguyễn Minh San năm 1996 đã xuất bản cuốn sách “Những thần nữ
danh tiếng trong văn hóa tín ngưỡng Việt Nam” – NXB Phụ nữ 1996, trong mục
“Hai Bà Trưng” từ trang 23 đến trang 33, tác giả đã khẳng định cuộc khởi nghĩa Hai
vùng này.
Khoá luận tốt nghiệp của sinh viên Lê Thị Xa khóa 49 khoa Ngữ văn Đại
học Sư phạm Hà Nội với đề tài “Khảo sát đặc điểm nhóm truyền thuyết về các nữ
tướng của Hai Bà”. Với đề tài của mình, Lê Thị Xa đã khảo sát, giới thiệu khá tỉ mỉ
nhóm truyền thuyết về nữ tướng của Hai Bà đặt trong bối cảnh lịch sử và nêu những
phẩm chất cao quý, tốt đẹp về những nữ tướng của cuộc khởi nghĩa. Đáng chú ý là
tác giả đã quan tâm đến những đặc điểm thi pháp nổi bật mà nhóm truyền thuyết
này đã thể hiện. Qua đó ta có sự nhìn nhận một cách toàn diện hơn về nhóm truyền
thuyết tren. Tuy nhiên đặc điểm hạn chế của đề tài này mới chỉ quan tâm ở một
cách chung nhất, chưa có cái nhìn cụ thể, tỉ mỉ và sâu rộng của cả một kho tàng
truyền thuyết về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà hiện nay.
8
Tập hợp các công trình nghiên cứu, các bài viết, chuyên luận của các tác giả,
chúng tôi thấy đó là những tư liệu, kiến thức quý giá. Tuy nhiên cho đến nay chưa
có một công trình nào khảo sát các truyền thuyết và lễ hội về cuộc khởi nghĩa Hai
Bà Trưng ở Hưng Yên. Vì Vậy, là một học viên cao học chuyên ngành Văn học dân
gian của trường Đại học Sư phạm Hà Nội, đặc biệt là người con của Hưng Yên, tụi
đã mạnh dạn triển khai khảo sát và nghiên cứu đề tài một cách có hệ thống, chi tiết
và cụ thể với hi vọng sẽ gúp thờm được phần vào kho kiến thức vô tận của ngành
Văn học nói chung và Văn học dân gian nói riêng.
3. Mục đích nghiên cứu của luận văn
- Luận văn là là bước tổng hợp mới về những thành tựu nghiên cứu tìm hiểu
truyền thuyết về thời Hai Bà Trưng ở tỉnh Hưng Yên.
-Luận văn đã hệ thống hóa, khảo sát diện mạo truyền thuyết về cuộc khởi nghĩa
của Hai Bà Trưng và các tưóng lĩnh của Hai Bà trong toàn tỉnh.
-Trong khuôn khổ của đề tài, người viết cũng đi vào phân tích, tổng hợp những
đặc điểm nội dung và nghệ thuật của nhóm truyền thuyết này.
-Qua đây những truyền thuyết về thời Hai Bà Trưng ở tỉnh Hưng Yên được xem
xét trong mối quan hệ với nghi lễ và lễ hội còn được tổ chức ở địa phương.Cũng
qua đó người viết đã miêu thuật một số lễ hội tiêu biểu đẻ làm sáng tỏ mối quan hệ
Luận văn sẽ thống kê một cách khá phong phú các bản kể truyền thuyết dân
gian về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng. Đồng thời đây cũng là một bước tổng
hợp mới về những thành tựu nghiên cứu, tìm hiểu truyền thuyết và lễ hội về cuộc
khởi nghĩa của Hai Bà Trưng trên đất Hưng Yờn.Đõy cũng là lần đầu tiên các kiến
thức chuyên ngành Văn học dân gian được vận dụng vào việc khảo cứu truyền
thuyết và lễ hội về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng ở Hưng Yên.
Trên cơ sở này, người viết tự đào sâu và hoàn thiện kiến thức cũng như kĩ
năng, phương pháp nghiên cứu khoa học, văn hoá tạo điều kiện, tiền đề cho công
việc nghiên cứu sau này.
Luận văn cũng gúp thờm một phần nào vào việc giáo dục cho thế hệ sau này
thêm tự hào về cha ông mình đã từng chiến đấu hy sinh chống giặc ngoại xâm bảo
vệ bờ cõi, giang sơn giành lại độc lập cho tổ quốc.Cũng thông qua đó, luận văn giúp
cho việc giảng dạy của giáo viên trong chương trình địa phương cú thờm nguồn tư
liệu quý về thể loại truyền thuyết trong chương trình giảng dạy của mình và học
10
sinh có những kiến thức về truyền thuyết của địa phương để phục vụ học tập được
tốt hơn.
IV. Cấu trúc của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, nội dung chính của luận văn được
trình bày trong 3 chương:
Chương 1. Khảo sát diện mạo, nội dung, ý nghĩa truyền thuyết Hai Bà
Trưng và các tướng lĩnh của Hai Bà ở tỉnh Hưng Yên.
Chương 2. Truyền thuyết về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng ở Hưng
Yên - Đặc điểm thi pháp.
Chương 3. Một số lễ hội tiêu biểu tưởng niệm Hai Bà Trưng và các
tướng lĩnh của Hai Bà.
11
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
KHẢO SÁT DIỆN MẠO, NỘI DUNG, Ý NGHĨA TRUYỀN
Đô ra làm 4 đạo, Hưng Yên thuộc Nam Đạo. Sau này Vua Lê Thánh Tông đã tiến
hành cải cách hành chính và chia nước ta thành 11 phủ, 42 huyện, Hưng Yên thuộc
phủ Khoái Châu và thuộc trấn Sơn Nam Thượng.
Dưới Triều Nguyễn, khi Nguyễn Phúc Đảm (1791 - 1840) lên nối ngôi. Gia
Long, hiệu Minh Mệnh (1820) đã chia các Trấn phía Bắc thành 18 tỉnh trong đó có
Hưng Yên và cũng trong thời Nguyễn này phố Hiến chính là cảng thị buôn bán sầm
uất ngoài Bắc Hà sau Thăng Long - Hà Nội. Lúc này cả nước vẫn có câu: " Thứ
nhất kinh kì, thứ nhì Phố Hiến " nơi đây được chọn là nơi xây thành và là tỉnh lị
của Hưng Yên.
Tháng 10 - 1831, Hưng Yên mới chính thức được thành lập tỉnh và cho đến
khi Vua Hàm Nghi ban chiếu Cần Vương, Hưng Yên vẫn không có gì thay đổi.
Nhưng khi nhận được lời kêu gọi nhân dân cả nước đứng lên đánh Pháp của Vua
(7/1885) thì Hưng Yên là một trong những tỉnh ở Bắc Kì có phong trào kháng chiến
chống Pháp mạnh mẽ. Tiêu biểu nh cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy do Đinh Gia Quế
(1825 - 1885) và Nguyễn Thiện Thuật lãnh đạo (1844 - 1926). Nghĩa quân Bãi Sậy
ngày càng lớn phát triển lớn mạnh buộc thống sứ Bắc Kỳ ra lệnh thành lập đạo Bãi
Sậy (một đơn vị hành chính tương đương cấp tỉnh) và tháng 6/1889) để đặc trách
việc đàn áp phong trào kháng Pháp ở đây.
Cách mạng tháng 8 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, từ
8/1945 đến tháng 11/1996, địa giới Hưng Yên đã được chuyển rất nhiều lần. Đặc
biệt nhất là ngày 26/01/1968 uỷ ban thường vụ quốc hội ra nghị quyết số 544/NQ-
TVQH hợp nhất hai tỉnh Hải Dương và Hưng Yên thành tỉnh Hưng Yên và sau 29
năm hợp nhất, ngày 6/1/1996 quốc hội khoá IX đã phê chuẩn tách Hải Hưng thành
hai tỉnh Hưng Yên và Hải Dương.
Nh vậy, hiện nay Hưng Yên có 10 đơn vị hành chính cấp huyện là: Thành
phố Hưng Yên, Phủ Cừ, Tiên Lữ, Ân Thi, Kim Động, Khoái Châu, Văn Giang, Yên
Mĩ, Mĩ Hào và Văn Lâm với diện tích trên 923km
2
.
13
Hùng, trở thành đại tướng của nhà vua.
14
Kết thúc chiến tranh, người dân Hưng Yên lại quy tụ trên mảnh đất bờ xôi.
ruộng mật này để xây dựng lên cộng đồng làng xã. Bởi lẽ sự quy tụ này là một phần
do điều kiện thuận lợi của vị trí địa lí ven sông (Sông Hồng, Sông Luộc, Sông Cửu
Yên, Sông Hoan ái, Sông Kim Ngưu). Vì vậy rất thuận lợi cho việc trị thuỷ, tưới
tiêu, đánh bắt cá.Vả lại đất đai lại mầu mỡ và có những dải đất cao hơn để xây dựng
nhà cửa, vun đắp nên một truyền thống văn hoá tốt đẹp của mảnh đất Hưng Yên nói
riêng và văn minh sông Hồng nói chung.
Vào những năm 40 - 43 sau công nguyên, nhà Hán xâm lược nước ta, cả
nước chìm trong cảnh đau thương dưới ánh thống trị của bọn phong kiến phương
Bắc. Khi nghe tin Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, một lần nữa, người dân Hưng
Yên lại nhất tề đứng lên chống giặc ngoại xâm. Tiêu biểu như 7 cha con Trần Lữu
người Đào Đặng (thành phố Hưng Yên) đã mộ quân về hưởng ứng. Mỗi huyện đều
có những anh tài nổi danh như Bà Nguyệt Thai - Nguyệt Đô người Khoái Châu
hưởng ứng lời hiệu triệu của hai Bà đã tuyển được 2000 người, lập trường luyện
quân ở Tân Trường, Thái Hoà, Bình Xuyên (huyện Bình Giang - Hải Dương) rồi
kéo đi hạ thành Yên Định. Hai nàng song sinh này đã biết gom sức mạnh toàn dân
đã hội quân với Lã Văn Êt người Văn Giang cùng vừa hạ xong thành Kênh Cầu,
cùng vây Ðp Luy Lâu, buộc Tô Định phải thay quần áo lính trốn về nước.
Mảnh đất Hưng Yên cũng từng là nơi hội tụ, chiến đấu của nữ tướng Vũ Thị
Thục - quê tận Phượng Lâu (Phù Ninh - Phú Thọ) cùng chiến đấu với các chiến nữ
Hưng Yên ở bờ sông Cát tại thôn Đoàn Thượng (xã Bảo Khê, thành phố Hưng
Yên). Rồi bao người con Hưng Yên khác như các chàng trai Nguyễn Trung người
thôn Phú Cốc (xã Ngũ Lão - Kim Động), Dương nước, Dương Đình, người làng
Mai Viên (xã Song Mai - Kim Động), là cô gái Hương Thảo, bà Ngọc Chi (Ân
Thi), Trần Thị Mã Châu (Thành phố Hưng Yên)… Những chiến công của người
con Hưng Yên tiêu biểu cho tinh thần yêu nước, căm thù giặc, chiến đấu dũng cảm,
kết tinh ý chí, sức mạnh dân tộc trong các cuộc chiến đấu chống ngoại xâm. Tất cả
họ luôn sống mãi trong tâm linh và thần điện của các làng xã ở tỉnh Hưng Yên.
kiến giành lại áo cơm và ruộng đất.
Ngày 01/9/1858 thực dân Pháp nổ súng ở cửa biển Đà Nẵng xâm lược nước
ta. Mặc cho triều đình nhà Nguyễn nhu nhược từng bước đầu hàng quân giặc nhưng
nhân dân Nam kỳ tự giác đứng lên đánh Pháp. Khi quân Pháp đánh chiếm Bắc kì
lần thứ 2 và lần lượt đánh chiếm các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, trong đó có Hưng Yên
16
nhằm buộc triều đình nhà Nguyễn phải kí với Pháp hiệp ước Hác Măng năm 1083,
nhân dân các huyện Văn Giang, Khoái Châu, Ân Thi, Kim Động, Phù Cừ đã theo
Đinh Gia Quế (1825 - 1885) làm lễ tế cờ " Bình Tây phạt tội "tại đình Thọ Bình
(Khoái Châu) mở đầu cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy (1883-1892). Sau khi Đổng Quế
mất, Nguyễn Thiện Thuật (1844 - 1926) tiếp tục lãnh đạo cuộc khởi nghĩa và phong
trào phát triển, lan rộng ra toàn tỉnh và sang các tỉnh bạn. Nghĩa quân đã vượt sông
Hồng đánh phá các huyện Thanh Trì, Thường Tín, Phú Xuyên, rồi tấn công thành
Hải Dương, đánh địch Tân Yên Quảng làm cho quân pháp nhiều phen lúng túng.
Trong những năm diễn ra cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy (1883 - 1892) do Đinh Gia
Quế và Nguyễn Thiện Thuật lãnh đạo, nhân dân các làng xa Hưng Yên không chỉ cử
con em tham gia nghĩa quân mà con xây dựng làng trở thành những làng chiến đấu
giúp nghĩa quân đánh thắng nhiều trận. Làng Thọ Bình (xã Tân Dân - Khoái Châu) lập
những trạm tiền tiêu, quan sát địch giúp việc bảo vệ chỉ huy sở cuộc khởi nghĩa. Các
làng trong huyện Khoái Châu, Ân Thi, Yên Mĩ, Mĩ Hào, Văn Giang …. đều tự nguyện
đóng thuế cho nghĩa quân, cất giấu lương thực, sản xuất vũ khí thô sơ trang bị cho con
em chiến đấu. Họ thà hy sinh chữ không chịu tiếp tay cho giặc để bảo vệ nghĩa quân.
Lý trưởng làng Xuân Dục (Mĩ Hào) chịu chết chứ không chỉ mồ mả tổ tiên quan Hiệp
thống Nguyễn Thiện Thuật cho quân Pháp. Nhân dân Lôi Cầu (Xã Việt Hoà, Khoái
Châu) thà chịu tàn sát chứ nhất định không chịu hàng giặc. Làng khúc Lông (Vĩnh
Khóc, Văn Giang) đã phá huỷ các con đường vào làng để không cho quân địch tiến
đánh nghĩa quân đang đóng trong làng. Điều đó càng khảng định truyền thống yêu
nước, truyền thống anh hùng bất khuất chống giặc ngoại xâm của nhân dân Hưng Yên.
Sẵn có lòng yêu nước nồng nàn và tinh thần chiến đấu chống giặc ngoại xâm,
khi được tiếp nguồn ánh sáng của đường lối cách mạng vô sản, những người con
Nguyễn Văn Linh là một minh chứng cho lòng dũng cảm, tinh thần chiến đấu trong
chiến trường. Trong thời bình, một lần nữa ông lại mang lại ánh sáng cho con
đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta mà cả nước phải mang ơn và kính
trọng.
Đất nước hoàn toàn giải phóng, non sông thu về một mối, Hưng Yên đã cùng
cả nước vững bước theo Đảng, xây dựng và chiến đấu bảo vệ độc lập dân tộc, xây
dựng mảnh đất hình lá cờ tung bay tiến lên chủ nghĩa xã hội.
2.2. Mảnh đất giầu truyền thống văn hoá.
18
Là một tỉnh nằm trong khu vực đồng bằng sông Hồng, đất đai phì nhiêu lại
được thiên nhiêu ưu đãi. Ngay từ khi người dân Hưng Yên khai hoang mở đất, nơi
đây đã là nơi sản xuất ra nhiều lúa gạo, hoa mầu. Thành lập nên một nền văn hoá lúa
nước lâu đời, đó chính là nền tảng của văn minh nông nghiệp lúa nước của nước ta.
Cũng chính văn minh đó đã sản sinh ra một nền văn hoá với bản sắc độc đáo của
mình.
Thứ nhất: Cốt cách của người Hưng Yên không chỉ không hình thành hệ giá
trị tâm thức con người qua tình yêu đất - nước, tinh thần đoàn kết cộng đồng làng xã
mà đối với người Hưng Yên luôn luôn coi trọng cuộc sống thực tế để tạo dựng một
cuộc sống lao động cần cù, nhân ái và bao dung, trọng nghĩa tình đạo lí. Làm nông
nghiệp là phải " Một nắng hai sương" cần cù chịu khó. Bởi lẽ, thực tế đã dạy con
người ta " Được mùa chớ phụ ngô khoai/ đến khi thất bát lấy ai đỡ lòng"
Cho nên, mỗi mét gia đình, mỗi con người luôn luôn cần kiệm để lo cho
tương lai, cho cuộc sống này phát triển.
Cũng từ thực tế đó, người dân Hưng Yên luôn có tinh thần sáng tạo, từ một
sáng tạo nhỏ, tích góp lại trở thành một sáng tạo lớn hơn. Nghề thủ công truyền
thống ở Hưng Yên đã ra đời từ rất sớm và sau này đã dần dần trở thành những làng
nghề truyền thống. Ca dao xưa có những câu viết về làng nghề Hưng Yên.
Ai về Đồng Tỉnh, Huê Cầu,
Đồng tỉnh bán thuốc, Huê cầu nhuộm thâm
Hay Mẽ, Nhạn có đất buôn nâu
nước.
Do vị trí cận kề Hà Nội, khi Tây học thịnh hành thì Hưng Yên cũng là nơi có
phong trào tân học khởi sắc. Nơi đây cũng sản sinh ra được nhiều nhà khoa học, nhà
thơ, nhà văn, tướng lĩnh … nhạc sĩ cho đất nước. Tiêu biểu như nhà nông học cử
nhân Nguyễn Công Tiễn (1892 - 1976), người huyện Phù Cừ, với công trình nghiên
cứu bèo hoa dâu gây tiếng vang trên hội nghị khoa Thái Bình Dương. Đó là nhà thơ,
tác giả tập “Tiếng Dịch Sông ô” - Kiêm nhà khảo cổ học Tiến sĩ Phạm Huy Thông
(1916 - 1988) - tác giả của nhiều công trình nghiên cứu thời Hùng Vương dựng
nước. Ông đã được nước cộng hoà dân chủ Đức công nhận là viện sĩ viện hàn lầm
khoa học. Đó là cử nhân Dương Quảng Hàm (1898 -1946), một nhà sư phạm mẫu
mực, và là người Việt Nam đầu tiên biên soạn văn học sử - cuốn “Việt Nam văn học
20
sử yếu” và sách quốc ngữ cho học sinh tiểu học. Danh nhân Tô Ngọc Vân (1908 -
1954) một hoạ sĩ nổi tiếng. Đó là các nhà văn nổi tiếng, tiêu biểu cho dòng văn học
hiện thực phê phán (1930 - 1945) như Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977), Vũ Trọng
Phụng (1912 - 1939) và các nhà văn hiện đại như Học Phi, Lê Lựu, Chu Lai,
Nguyễn Thị Hồng Ngát Trên lĩnh vực sân khấu, Hưng Yên có Lê Đình nghị (1884
- 1954), nhà cải cách và phát triển nghệ thuật chèo. Một loại hình sân khấu dân gian
độc đáo của dân tộc từng được tôn vinh là ông Tổ nghề chèo. Lĩnh vực nhạc sĩ có
Cao Việt Bách, Phó Đức Phương, Nguyễn Hữu Ước … có những ca khúc đã đi
cùng năm tháng và được cả nước biết đến. Đặc biệt, trong 2 cuộc kháng chiến
chống 2 đế quốc hung mạnh nhất của thế giới là Pháp và Mĩ, đã xuất hiện 44 tướng
lĩnh tài ba công tác trong binh chủng quân đội nhân dân Việt Nam. Những con
người thượng võ trên đất Hưng Yên đã làm rạng danh non sông gấm vóc như:
Trung Tướng Nguyễn Bình (1908- 1951). Đại tướng Nguyễn Quyết, Thượng Tướng
Hoàng Minh Thảo, Thượng Tướng Đặng Vũ Hiệp, Thượng Tướng Nguyễn Trọng
Xuyên, Thượng Tướng Phạm Thanh Ngân, Thượng Tướng Lê Quang Hoà …
Những người con ưu tú của Hưng Yên nêu trên là sản phẩm văn hoá của
vùng quê chung đúc nên, vừa là sự tự vươn lên chiếm lĩnh đỉnh cao và sáng tạo nên
văn hoá của họ. Đồng thời cũng làm cho truyền thống văn hoá của quê hương, đất
Một không gian trong đời sống văn hoá tâm linh nữa của người dân Hưng
Yên không thể không nói đến đó là không gian văn hoá đình, chùa, miếu mạo. Mỗi
một công trình là một nét đẹp văn hoá, là cả một kiến trúc nghệ thuật độc đáo mà
con người để lại. Hưng Yên có hàng trăm ngôi đền, đình chùa, lăng tẩm được xếp
hạng văn hoá quốc gia như Đền Đa Hoà (Khoái Châu) Chùa An Xá (Kim Động)
chùa Nôm (Văn Lâm) chùa Tứ Pháp (Văn Lâm) … Nhưng nổi bật hơn cả là trong
mỗi công trình Êy là cả một đời sống tâm linh vô cùng phong phú đa dạng. Đó là
việc thờ cúng các anh hùng dân tộc như có công với nước, với dân như Chử Đồng
Tử, Hai Bà Trưng và tướng lĩnh của Hai Bà, Trần Hưng Đạo, Phạm Ngũ Lão, Triệu
Quang Phục, Đào Nương … Tất cả đều được suy tôn thành các vị thần luôn để che
chở, giúp đỡ người dân trong mọi lúc, mọi nơi để con người có thể yên tâm hơn.
ở gần trung tâm Phật giáo Luy Lâu (Bắc Ninh) tục thờ Phật ở Hưng Yên đã
có truyền thống rất lâu đời và phát triển mạnh mẽ cho đến ngày nay. ở Hưng Yên
tôn thờ các hiện tượng có liên quan trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp lúa nước.
22
Câu chuyện về sự tích Man Nương mang con trao cho Khâu Đà La gửi cây rừng
nuôi. Cây gỗ Êy được người thợ mộc là Đào Độ tạc thành 4 pho tượng tứ pháp thờ
ở bốn ngôi chùa.: Thành Đạo (Pháp Vò), Thiền Định (Pháp Vân) Phi Tường (Pháp
Lôi), Trí Quả (Pháp Điện). Những cành còn lại của cây gỗ thường được người
Hưng Yên đem về tạc thành tượng thờ tại các chùa Thái Lạc (xã Lạc Hồng) chùa
Pháp Vân (xã Lạc Đạo - Văn Lâm) Cù Tu (Xuân Trúc - Ân Thi), Bình Kiều (Khoái
Châu) chùa Thứa (xã Dị Sứ, Mĩ Hào)…
Như vậy, không gian văn hoá và nét đẹp trong đời sống tâm linh của người
dân Hưng Yên thật đa dạng và phong phú. Tất cả các không gian văn hoá Êy hiện
nay còn là nơi hội tụ của việc sinh hoạt văn hoá của đời sống nhân dân. Tất cả các
nghi lễ trên thể hiện một nét đẹp văn hoá truyền thống, đó là nét đẹp cần được nâng
niu, trân trọng và cũng góp một phần không nhỏ vào làm tôn vinh thêm nét đẹp văn
hoá, phong tục của văn hoá Việt. Cũng qua đó nhằm giáo dục truyền thống đạo
nghĩa, hiếu học, tôn sư trọng đạo, yêu nước, yêu quê hương của bao thế hệ người
Việt nói chung và của người dân nói riêng.
văn Tuy 86 tuổi
2 Chuyện về
tướng quân Trần
Lữu và các
Thuỷ Thần
Đào Đầu-
Trung Nghĩa-
TP Hưng Yên
Truyện cổ dân
gian Hưng Yên
3 Chuyện về Ngọ
Ngải đại vương
và Nguyệt Nga
công chúa
Trung Hoà-
huyện Yên Mỹ
Truyện cổ dân
gian Hưng Yên
4 Chuyện về Trần
Công hiển ứng
Xã Đào Đặng-
Trung Nghĩa-
Hưng Yên
Điền dã Ông Cáp văn
Dũng 76
tuổi(thủ từ)
5 Truyện kể cậu
Cả Trực, cậu Cả
Minh
An Khê, An
Nước Đại
Vương, Đình
Đại Vương
Xã XÝch
Đằng, phủ
Khoái Châu,
đạo Sơn Nam
Thần tích làng
Mai Viên
9 Sự tích gò ông
Lủi
Xã Long
Hưng, huyện
Điền dã Cụ bà Đặng Thị
Hy 83 tuổi
24
Văn Giang
10 Sự tích dốc Yến
và làng Phụng
Công
Xã Phụng
Công, Văn
Giang
Điền dã Bác Nguyễn
quang Huy (thủ
từ đền Ngò
Phụng Công –
Văn Giang)
11 Sự tích tướng
quân Hương
Quang, Nguyễn
Viết Cư,
Nguyễn Viết Võ
Xã Minh Tân,
Phù Cừ, Hưng
Yên
Điền dã Trưởng đội tế
đình Minh Tân:
Nguyễn văn
Liễn
15 Tướng quân
Trần Thị Mã
Châu
Xã Bảo Châu,
Hưng Yên
Điền dã Cụ Võ đình Đại
85 tuổi
16 Chuyện về bà
Động Tần Hồng
Loan công chúa
Bãi Khu, xã
Động Tào,
Tiên Lữ
Truyện cổ dân
gian Hưng Yên
17 Sự tích Bát Nàn
công chúa
Đoàn Thượng-
Bảo Khê-
Hưng Yên