ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HOÀNG VIỆT HƯƠNG
KHẢO SÁT TRUYỀN THUYẾT VÀ LỄ HỘI
CỦA CÁC DI TÍCH THĂNG LONG TỨ TRẤN LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học dân gian
Hà Nội – 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HOÀNG VIỆT HƯƠNG
Hà Nội-2012
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU trang
1. Lý do chọn đề tài 3
2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4
3. Lịch sử vấn đề 4
4. Phương pháp nghiên cứu 7
5. Những đóng góp mới của luận văn 7
6. Kết cấu của luận văn 8
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: Bối cảnh lịch sử và sự hình thành không gian
địa lý – tâm linh Thăng Long tứ trấn 9
1.1. Bối cảnh lịch sử xã hội 9
1.1.1. Khái niệm “tứ trấn” trong “Thăng Long tứ trấn” 9
1.1.2. “Tứ trấn” ở các địa phương khác 15
1.2. Quá trình xây dựng và tu tạo Thăng Long tứ trấn 18
1.2.1. Đền Quán Thánh 18
1.2.2. Đình Kim Liên 21
1.2.3. Đền Voi Phục 24
1.2.4. Đền Bạch Mã 25
1.3. Kiến trúc của các di tích và không gian địa lý – tâm linh của
Thăng Long tứ trấn 26
1.3.1. Đền Quán Thánh và việc trấn giữ phía Bắc kinh thành 26
1.3.2. Đình Kim Liên và việc trấn giữ phía nam kinh thành 27
1.3.3. Đền Voi Phục và việc trấn giữ phía tây kinh thành 29
1.3.4. Đền Bạch Mã và việc trấn giữ phía đông kinh thành 31
PHỤ LỤC 113
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Mảnh đất Thăng Long – Hà Nội ngàn năm văn hiến hội tụ trong mình bề
dày lịch sử của truyền thống, văn hóa. Một trong số những di tích hồn thiêng của
mảnh đất văn vật này phải kể đến là Thăng Long tứ trấn. Song song trong suốt
chiều dài lịch sử mảnh đất kinh kỳ, Thăng Long tứ trấn đã hình thành, được lưu
giữ, tồn tại và in dấu trong tâm trí của biết bao người cho đến hôm nay. Nhắc
đến Thăng Long tứ trấn, người ta không chỉ nghĩ đến những danh lam thắng
cảnh nổi tiếng, những công trình đền chùa với kiến trúc tinh tế mà Thăng Long
tứ trấn còn hấp dẫn biết bao người bởi những truyền thuyết, huyền tích lịch sử
hào hùng, những lễ hội văn hóa, phong tục đầy màu sắc và ý nghĩa thiêng liêng.
Chính vì vậy, trong nghiên cứu văn hóa, văn học dân gian, khảo sát truyền
thuyết và lễ hội của các di tích Thăng Long tứ trấn là một công việc hết sức thú
vị đồng thời có ý nghĩa rất quan trọng.
Mặc dù mang vai trò lớn lao trong văn hóa Thăng Long – Hà Nội, song,
trên thực tế, không phải người dân Hà thành nào cũng có thể nắm rõ và đầy đủ
giá trị nội hàm của Thăng Long tứ trấn. Từ khi hình thành cho đến nay, tứ trấn
Thăng Long đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển và có nhiều biến đổi. Do đó,
ngoài niềm yêu thích tìm hiểu một trong những nét văn hóa đặc sắc của mảnh
đất kinh kỳ, thì mong muốn được đem đến cho một cái nhìn hệ thống, toàn diện
hơn về truyền thuyết và lễ hội của các di tích Tứ trấn Thăng Long chính là lý do
mà tôi chọn đề tài này.
Một lý do khác nữa thúc đẩy tôi đến với đề tài Khảo sát truyền thuyết và lễ
hội của các di tích Thăng Long tứ trấn là bởi vừa qua, năm 2010, Hà Nội và cả
nước đã tưng bừng tổ chức lễ kỉ niệm thủ đô tròn 1000 năm tuổi. Nhiều di tích
văn hóa vật thể đã được chọn để tu bổ, trong đó có các di tích của Thăng Long
tứ trấn. Là một người được sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, cá nhân người làm luận
văn rất mong muốn tìm hiểu rõ hơn về những đặc sắc văn hóa nơi mình sinh ra
và lớn lên. Vì vậy, luận văn này có thể được xem như một công trình được thực
được chú thích rõ là “Đền Bạch Mã, phố Hàng Buồm, Hà Nội” [52, tr.49].
Ngoài ra còn có 1 truyện nữa về thần sông Tô Lịch có tên gọi là Bảo quốc trấn
linh định bang Quốc đô Thành hoàng Đại Vương.
+ Lĩnh Nam chích quái, tập sách ghi chép những truyền thuyết và truyện cổ
tích của nước ta viết bằng chữ Hán của Trần Thế Pháp (XV), Vũ Quỳnh và Kiều
Phú (nhuận sắc, XV), trong đó đã có truyện kể về thần Long Đỗ. Trong các bản
in khác nhau của sách được lưu hành sau này, thì có bản in truyện về thần Long
Đỗ được đề tên là Long Đỗ chính khí thần truyện, có bản in lấy tên là Long Đỗ
vượng khí truyện.
Ngoài ra, cũng phải kể đến bộ sách Đại Nam nhất thống chí gồm 5 cuốn,
bộ sách địa lý học được xem là đầy đủ nhất của nước ta thời kỳ phong kiến.
Trong bộ sách này, ở cuốn Tỉnh Hà Nội phần Núi non, sông nước có một đoạn
giới thiệu về sông Tô Lịch cũng như truyền thuyết liên quan đến con sông này
trích từ sách Lĩnh Nam chích quái [53, tr.177]; và phần Đình, đền, chùa có đoạn
giới thiệu về đền Bạch Mã [53, tr.199] và đền Cao Sơn [53, tr.200]
Sau năm 1975, các sách viết về 4 ngôi đình/ đền trên của Thăng Long bắt
đầu xuất hiện đa dạng hơn, mô tả chi tiết hơn, và giới thiệu hấp dẫn hơn. Một số
cuốn đáng kể là Hà Nội nghìn xưa của Trần Quốc Vượng, Vũ Tuấn Sán (NXB
Hà Nội, 1976, 2 tập sau này, năm 1998, tái bản thành 1 cuốn dày 401 trang do
NXB Hà Nội phát hành) giới thiệu về đền thần Bạch Mã và huyền tích về thần
Linh Lang và có giới thiệu sơ qua về thần sông Tô Lịch; cuốn Lễ hội Thăng
Long của Lê Trung Vũ chủ biên do NXB Hà Nội ấn hành, năm 1998 giới thiệu
về đền Voi Phục và đền Bạch Mã. Từ năm 2000 trở đi có nhiều cuốn sách khác
như: cuốn Lễ hội Việt Nam của Lê Trung Vũ và Lê Hồng Lý đồng chủ biên
(NXB Văn hóa thông tin) năm 2005, viết khá sâu về lễ hội của Việt Nam nói
chung và lễ hội tại Thăng Long tứ trấn nói riêng cũng như giới thiệu sơ qua về
truyền thuyết về các vị thần ở 4 ngôi đình/ đền này, quá trình xây dựng và tu tạo
4 ngôi đình/đền. Một cuốn sách khác cũng có nhiều đóng góp trong việc nghiên
cứu về Thăng Long tứ trấn là cuốn Thần tích Hà Nội và tín ngưỡng thị dân của 2
nhà nghiên cứu Nguyễn Vinh Phúc và Nguyễn Duy Hinh (do NXB Hà Nội phát
công trình chỉ mới dừng lại ở tính “giới thiệu”. Về 4 ngôi đình/đền và 4 vị thần
được thờ của kinh thành Thăng Long, một chuyên khảo về truyền thuyết và lễ
hội về Thăng Long tứ trấn vẫn chưa được tiến hành.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn, chúng tôi sẽ tiến hành sử dụng cách tiếp cận văn hóa học
và tiếp cận văn bản truyền thuyết (gồm truyền thuyết trong thư tịch và truyền
thuyết truyền miệng).
Các phương pháp chúng tôi sử dụng là: điền dã, thống kê và phân tích văn
bản.
5. Những đóng góp mới của luận văn
Như đã nói ở trên, cho đến nay, dù nhiều cuốn sách viết về 4 ngôi đình/đền
trên đất Thăng Long (mà sau này được gọi là Thăng Long tứ trấn) đã ra đời
song, vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào về di tích này được xuất bản.
Mặt khác, đối với Thăng Long tứ trấn, các cách hiểu cũng chưa thật thống nhất
và thấu đáo.
Luận án của chúng tôi sẽ khảo sát tục thờ Thăng Long tứ trấn theo dòng
lịch sử bằng cách khảo sát tục thờ này từ nhiều góc độ: các ghi chép trong thư
tịch, truyền thuyết dân gian, di tích, lễ hội với mong muốn có một cái nhìn toàn
cảnh về tục thờ này. Tuy nhiên, đây là một luận án chuyên ngành văn học dân
gian cho nên chúng tôi sẽ dành một dung lượng thích đáng cho việc phân tích
truyền thuyết dân gian (trong các tập truyền thuyết đã xuất bản và các truyền
thuyết do chúng tôi sưu tầm được). Bên cạnh đó, việc đối chiếu truyền thuyết
với di tích và lễ hội là phần không thể thiếu được bởi văn học dân gian luôn tồn
tại trong môi trường văn hóa. Thông qua việc khảo sát tổng thể văn hóa dân gian
này, chúng tôi mong muốn chỉ ra những lớp văn hóa trong tục thờ Tứ trấn của
Thăng Long và qua đó, góp phần hiểu thêm truyền thống của thủ đô nghìn năm
văn vật.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài Phần Mở đầu và Kết luận, Luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Bối cảnh lịch sử và sự hình thành không gian địa lí – tâm linh
viết thành sách về nó [10, tr.111]. Theo bước chân của Đạo giáo du nhập vào
nước ta từ rất sớm, thuật phong thủy cũng được người dân tiếp thu và thực hành
nhanh chóng.
Trong tín ngưỡng dân gian người Việt, khi xây xong nhà cửa, thành ốc,
người ta thường trấn yểm để tà ma khỏi xâm phạm. Người Việt quan niệm rằng,
khi một vùng đất mới được định hình thì những thế lực dữ hoặc những sức mạnh
đen tối ở vùng đất đó sẽ tìm cơ hội để phá hoại vùng đất hoặc căn nhà mới xây.
Vì thế, người ta thường tìm đến những thế lực siêu nhiên để mong họ có thể
giúp sức bảo vệ vùng đất hoặc căn nhà của mình. Những thế lực siêu nhiên này
được thờ phụng, coi trọng như những vị thần bảo hộ họ trong suốt quá trình sinh
sống, an cư và lạc nghiệp. Về nguyên tắc cơ bản, thuật phong thủy quan niệm
lấy chỗ đứng làm trung tâm, với bốn phương trời đất hội tụ chầu về, thành ngũ
phương ngũ thần. [10, tr.117]. Trong mỗi gia đình cư trú, ngũ thần gồm có thần
cổng, thần sân, thần cửa, thần giếng, thần bếp. Vì thế, người Việt thường trừ tà
ma bằng bùa Ngũ sắc (= Ngũ hành) và bằng bức tranh dân gian (Ngũ hổ vẽ 5
con hổ ở 5 phương với 5 màu theo Ngũ hành với ý nghĩa: Hổ tượng trưng cho
sức mạnh, trấn trị ở khắp 5 phương, tà ma không còn lối thoát [36, tr.70]. Nhà ở,
lăng mộ là các công trình xây dựng của người Việt rất chú trọng yếu tố này.
Chẳng hạn: ở lăng Trần Thủ Độ (Thái Bình) có đặt tượng hổ đá phía tây, rồng
phía đông, phượng phía nam, rùa phía bắc, mộ Trần Thủ Độ ở giữa theo đúng
quy định vật biểu trong Ngũ hành [36, tr.70]. Tương tự như vậy, ở kinh đô, nhà
vua thờ thần trung quân ở trung tâm, nơi vua ngự, bốn bên là thần Tứ trấn – trời
đất trấn giữ. Phía Đông gọi là Thanh thiên (phương trời xanh trong sáng, biểu
hiện con vật thanh long – rồng xanh), phía Tây gọi là Bạch thiên (phương trời
đêm trắng, biểu hiện con vật bạch hổ), phía Nam gọi Chu thiên (phương trời
hồng đỏ, biểu hiện chim chu tước), phía Bắc gọi là Huyền Thiên (phương trời
màu đen, biểu hiện chim huyền vũ) [10, tr.117].
Trở lại với 4 ngôi đình/đền trên đất Thăng Long, theo các truyền thuyết và
tài liệu trong đền kể lại thì trừ đền Bạch Mã do Cao Biền xây dựng vào khoảng
năm 860 – 874 do sự sợ hãi với thần sông Tô Lịch, sau này khi thần Long Đỗ có
+ nghĩa 2: tứ trấn nghĩa là 4 trấn của thành Thăng Long gồm: trấn Sơn
Nam, Kinh Bắc, Hải Dương và Sơn Tây.
Cuốn Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học do NXB Từ điển Bách
Khoa ấn hành năm 2011 nghĩa thứ 2 của từ “trấn” được định nghĩa như sau:
“Đơn vị hành chính thời xưa, thường tương đương với một tỉnh” [47, tr.1317].
Cuốn Từ điển địa danh lịch sử văn hóa Việt Nam của NXB Văn hóa Thông tin
Hà Nội năm 1998, trang 8 định nghĩa rõ hơn: trấn là một đơn vị hành chính cấp
tỉnh, có từ đời Trần [35, tr.20]. Cụ thể: “Năm 1397, (triều đình nhà Trần) đã cho
đổi một số lộ ở xa thành trấn: Thanh Hóa đổi thành trấn Thanh Đô, Diễn Châu
đổi thành trấn Vọng Giang; cấp xã được thay thế bằng giáp” [35, tr.23]
Để làm rõ hơn điều này, chúng tôi đã khảo sát 2 cuốn sách là Khâm định
Việt sử thông giám cương mục của Quốc sử quán triều Nguyễn (2 tập) – một
trong số những bộ quốc sử lớn nhất và quan trọng nhất của nước ta và Đại Nam
nhất thống chí thì được biết như sau: Vào năm Quang Thái thứ 10 đời Trần ở
nước ta đã có các trấn như: Vọng An trấn, Lâm An trấn… [34, tr.1042]. Năm
1428, Lê Lợi chia cả nước thành 5 đạo (Đông, Tây, Nam, Bắc, Hải Tây), mỗi
đạo gồm các lộ hoặc trấn, tiếp đến lần lượt là phủ, huyện, châu, xã. Xã lại có 3
loại: đại, trung, tiểu. Năm 1466, Lê Thánh Tông chia cả nước làm 12 đạo: 2
huyện Quảng Đức và Thọ Xương được lập thành phủ Trung Đô do triều đình
quản lý. Lộ đổi thành phủ, trấn đổi thành châu, hoán vị huyện và châu cho nhau.
Đến năm Kỷ Sửu thứ 10 (1469), một sự kiện trọng đại xảy ra ở nước ta, đó là
vua Lê Thánh Tông cho định lại bản đồ cả nước, quy định rõ khu vực hành
chính thuộc 12 đạo thừa tuyên [Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập 1,
quyển thứ 21, tr.1035 - 1052]. Việc lập bản đồ quốc gia với từng khu vực cụ thể
đánh dấu một bước tiến lớn lao trong sự phát triển của cơ cấu đơn vị hành chính
lãnh thổ nước ta theo hướng thống nhất, khoa học, chính xác và tiện lợi. Năm
1471, sau khi mở rộng bờ cõi về phía Nam, Lê Thánh Tông cho lập thêm xứ
thừa tuyên Quảng Nam. Như vậy cả nước ta được chia thành 13 xứ thừa tuyên,
13 xứ thừa tuyên này đến giữa năm Hồng Thuận (1510-1516) thì được vua Lê
Tương Dực đổi là trấn, bao gồm Thanh Hóa, Nghệ An, Thuận Hóa, Nam Sách
Đông Quan (4 huyện - thuộc phủ Thái Bình) Ngự Thiên, Duyên Hà, Thần Khê,
Thanh Lan (4 huyện - thuộc phủ Tân Hưng) Thư Trì, Vũ Tiên, Chân Định (3
huyện - thuộc phủ Kiến Xương) Gia Viễn, Yên Mô, Yên Khang (3 huyện thuộc
phủ Trường An) và cuối cùng là: Phụng Hoá, An Hoá, Lạc Thổ (3 huyện - thuộc
phủ Thiên Quan). Vì trấn lị ở phía Nam kinh thành, nên Sơn Nam cũng được gọi
là trấn Nam hay trấn Ly.
3) Trấn Hải Dương
Gồm 4 phủ (18 huyện), bao gồm các tỉnh: Hải Dương, Hải Phòng và Kiến
An sau này. Cụ thể, đó là các huyện: Đường Hào, Đường An, Cẩm Giàng (3
huyện - thuộc phủ Thượng Hồng) Gia Phúc, Tứ Kỳ, Thanh Miện, Vĩnh Lại (4
huyện - thuộc phủ Hạ Hồng) Thanh Hà, Thanh Lâm, Tiên Minh, Chí Linh ( 4
huyện - thuộc phủ Nam Sách) và cuối cùng là: Giáp Sơn, Đông Triều, An Lão,
Nghi Dương, Kim Thành, Thuỷ Đường, An Dương (7 huyện - thuộc phủ Kinh
Môn). Vì trấn lị ở phía Đông kinh thành, nên Hải Dương cũng được gọi là trấn
Đông hay trấn Chấn.
4) Trấn Sơn Tây
Gồm 6 phủ (24 huyện), tương đương với các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Yên, và
Sơn Tây sau này. Cụ thể, đó là các huyện: Từ Liêm, Phúc Lộc, Yên Sơn, Thạch
Thất, Đan Phượng (5 huyện - thuộc phủ Quốc Oai) An Lãng, An Lạc, Bạch Hạc,
Tiên Phong, Lập Thạch, Phù Khang (6 huyện - thuộc phủ Tam Đái) Sơn Vi,
Thanh Ba, Hoa Khê, Hạ Hoà (4 huyện - thuộc phủ Lâm Thao) Đông Lan, Tây
Lan, Sơn Dương, Đương Đạo, Tam Dương (5 huyện - thuộc phủ Đoan Hùng)
Tam Nông, Bất Bạt (2 huyện - thuộc phủ Đà Dương) và cuối cùng là: Mỹ
Lương, Minh Nghĩa (2 huyện - thuộc phủ Quảng Oai). Vì trấn lị ở phía Tây kinh
thành, nên Sơn Tây cũng được gọi là trấn Tây hay trấn Đoài [Khâm định Việt
sử thông giám cương mục, tập 1, quyển thứ 21, tr.1035 - 1052]
Kể từ đó (giữa năm Hồng Thuận (1510-1516) đến sau này, bất kỳ chiếu
nào của nhà vua có liên quan đến tứ trấn như: đặt hiệu quân ở tứ trấn, kén vệ
binh ở tứ trấn, định ngạch lính ở tứ trấn, tuyển thêm quân lính ở tứ trấn… thì “tứ
trấn” đều được hiểu là 4 trấn trên. Cũng kể từ đó, khi nói đến “tứ trấn”, người
Hoa Lư được bởi giới hạn trong tầm ảnh hưởng của 4 ngôi đền thiêng thờ các vị
thần, thánh trấn giữ 4 hướng chính vào kinh thành xưa – nay là cố đô. Không
gian này nằm trong phạm vi 5 km từ trung tâm cố đô Hoa Lư. 4 Ngôi đền chính
của Hoa Lư tứ trấn: đông – tây – nam – bắc lần lượt là: đền Thiên Tôn, đền Cao
Sơn, đền Quý Minh và đền Thánh Nguyễn. Bốn vị thần “bảo hộ”, trấn giữ các
hướng đông tây nam bắc của cố đô Hoa Lư gồm: Thần Thiên Tôn, Thần Cao
Sơn, Thần Quý Minh và Đức Thánh Nguyễn. Ngoài bốn ngôi đền chính, các vị
thần này được thờ ở rất nhiều ngôi đền xung quanh quần thể di tích Cố đô, có
vai trò bổ sung tạo nên một không gian văn hóa tín ngưỡng đặc trưng của vùng
đất sinh Vua, sinh Thánh, sinh Thần và được gọi là không gian văn hóa Hoa Lư
tứ trấn. [62]
Trấn Đông Hoa Lư là đền thờ thần Thiên Tôn. Vị thiên thần trấn phía mặt
trời mọc này được thờ ở nhiều nơi, trong đó lớn nhất là động Thiên Tôn. Xưa,
nơi đây là tiền đồn để trình báo khi vào kinh đô Hoa Lư từ phía Đông. Trước lúc
đem quân đi dẹp loạn 12 sứ quân, nhà vua đã sửa lễ vật vào cầu đảo trong động
để mong được thần giúp đỡ. Ngoài động Thiên Tôn ra, còn 7 ngôi đền khác thờ
thần, đó là các ngôi đền ở quanh chân núi Cánh Diều, chùa Phong Phú, các làng
Bích Đào, Đại Phong, Yên Cư, Lực Giá và Phú Gia.
Trấn Tây Hoa Lư là đền thờ thần Cao Sơn. Theo truyền thuyết, thần Cao
Sơn là một vị thần ở Phụng Hóa (Ninh Bình) có công phù trợ quân Lê Tương
Dực diệt được Uy Mục, sau cũng được dân làng Kim Liên rước về thờ ở trấn
phía Nam kinh thành, một trong Thăng Long tứ trấn. Thần đã dạy bảo và giúp
đỡ người dân làm ăn sinh sống đồng thời bảo vệ khỏi các thế lực phá hoại vì vậy
đã được Vua Đinh cho phép dân lập đền thờ để bảo vệ kinh đô từ hướng tây trên
núi Đính. Ngoài ngôi đền này ở vùng núi Tam Điệp Ninh Bình còn khoảng 25
ngôi đền khác thờ thần Cao Sơn.
Trấn Nam Hoa Lư là đền thờ thần Quý Minh. Ngôi đền chính hiện ở xã
Ninh Nhất, thành phố Ninh Bình. Theo truyền thuyết, thần Quý Minh là người
đánh dẹp các thế lực ở vùng thấp, có thể giúp thần Cao Sơn khi các thế lực bỏ
chay qua đây. Thần cai quản và kết hôn cùng bà quận chúa ở chốn này. Ngoài
1.2.1. Đền Trấn Vũ (Quán Thánh)
Ngôi đền thờ thần bảo hộ phương Bắc của kinh thành này có bản ghi là
được lập từ khi vua Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long (1010), lại có thuyết khác
cho rằng được xây dựng vào năm 1102 trong hoàng thành, thờ "Huyền Thiên
Trấn Vũ chân quán" hoặc Huyền Thiên Chân Vũ Đại đế" hoặc nữa "Trấn Thiên
Chân Vũ Đại đế", trước nằm ở phía Nam sông Tô Lịch. Năm 1474, do mở rộng
hoàng thành (nội kinh) đền được di ra ngoài và xây ở bờ nam Tây Hồ, tức địa
điểm hiện nay [20, tr. 59 - 60]
Trong tấm biển ghi lại về lịch sử đền Quán Thánh (hiện nay vẫn đang treo
tại đền), quá trình xây dựng và tu sửa đền được chép như sau: “Đền được dựng
vào năm 1010 dưới triều Lý Thái Tổ sau khi dời đô về Thăng Long để trấn
phương Bắc. Đền này được liệt vào Thăng Long tứ trấn (4 vị thần trấn thành
Thăng Long: thần Huyền Thiên trấn phương Bắc, thần Bạch Mã trấn phương
Đông, thần Linh Lang trấn phía Tây (tức là đền Voi Phục), thần Cao Vương trấn
phía Nam (tức là đình Kim Liên). Trải qua thời Trần có sửa chữa nhiều lần.
Năm Vĩnh Trị thứ 2 dưới triều Lê Hy Tôn (1677), Trịnh Tạc sai thị thần là
Nguyễn Đình Luân trông coi việc tu sửa đền: bỏ tượng gỗ, đúc tượng đồng và 1
quả chuông (nay hãy còn). Năm Lê Cảnh Hưng đời thứ 29 (1768) Trịnh Sâm ra
lệnh cho chữa đền. Những tấm bia định khắc về việc trùng tu thì khi Minh Mệnh
ra Bắc, thấy bia của Trịnh Sâm cho là kẻ thoán nghịch nên ghét, sai bỏ đi nên
bia bỏ đấy mà không được trông coi. Năm Thiên trị thứ nhất (1841) được vua
ban tấm biển đồng chữ bạc để ở giữa nhà Đại Bái và 13 đồng kim tiền hạng
trung (do các hoàng tử cung tiến).
Năm 1856 thời Tự Đức, bố chính sơn tây Phạm Xuân Quế, bố chính Hà
Nội Tôn Thất Giáo và huyện doãn hai huyện Thọ Vĩnh Phan Duy Khiêm đứng
lên quyên tiền trùng tu sửa chữa lại nhà chính diện; đình thiêu hương, nhà đại
bái, gác chuông, xây thêm hai tòa tả hữu hành lang và đắp lại bốn pho tượng Đại
nguyên súy và một pho tượng đương niên hành khiển (vị thần coi việc năm ấy,
những pho tượng này nay không còn). Những đồng tiền ban vào thời Thiệu Trị
đem đúc lại thành chuỗi vòng vàng đeo ở tay thần tượng (nay không còn). Về
cổ ngày xưa. Đền đã được nhiều lần sửa chữa, nhưng những bức hoành phi câu
đối chạm trổ tinh xảo bằng gỗ và có các bài thơ của các vị vua chúa ngày xưa thì
đều được giữ lại, nếu bức nào bị hỏng nét thì mới sơn son thếp bạc lại thôi. Còn
những giá trị về nghệ thuật đúc đồng của ông cha ta ngày xưa thì vẫn được giữ
nguyên và trưng bày trong đền như hiện nay.”
Nhân dịp này, thành phố cũng đã quyết định gắn biển “Công trình 1000
năm Thăng Long-Hà Nội” cho đền Quán Thánh để tôn vinh biểu tượng của Thủ
đô nghìn năm văn hiến. 1.2.2. Đình Kim Liên
Nằm ở phía Nam kinh thành, ngôi đình Kim Liên đến nay đã có tuổi thọ
gần 1000 năm tuổi. Về tên gọi, trong Lý lịch khu di tích lịch sử - nghệ thuật đình
chùa Kim Liên có viết: “Đình còn được gọi là đền Kim Liên, đền Cao Sơn. Văn
bản cổ nhất trong di tích hiện còn niên hiệu Hồng Thuận thứ 3 (1510) ghi tên di
tích là “Cao Sơn đại vương thần từ” (Đền thần Cao Sơn Đại Vương)… Di tích
trước đây thuộc phường Kim Hoa, sau thuộc phường Đông Tác huyện Thọ
Xương, phủ Hoài Đức, sau Cách mạng Tháng Tám thuộc làng Kim Liên, xã
Phương Liệt, quận 7 Hà Nội. Ngày nay, di tích thuộc phường Phương Liên,
quận Đống Đa, thành phố Hà Nội”.
Hiện nay, đối với di tích này, tồn tại hai cách gọi là đình và đền. Trong quá
trình thực hiện luận văn, khi đi điều tra, điền dã, chúng tôi thấy, phần lớn người
dân xung quanh đây thường gọi di tích này là “đình Kim Liên”, một số ít gọi là
“đền Kim Liên”. Còn các tài liệu, sách báo, có nơi gọi là đình (Địa chí tôn giáo
lễ hội Việt Nam của Mai Thanh Hải, Thần tích Hà Nội và tín ngưỡng thị dân của
Nguyễn Duy Hinh, Nguyễn Vinh Phúc…), có nơi gọi là đền (Đền Kim Liên của
Nguyễn Hạnh, Trần Thị Thanh Nguyên, Nguyễn Duy Linh, Lễ hội Thăng Long
và Lễ hội Việt Nam của Lê Trung Vũ, trang web kỷ niệm 1000 năm Thăng Long
– Hà Nội của UBND thành phố Hà Nội và nhiều tờ báo hiện nay), có chỗ vừa
gọi là đình vừa gọi là đền (hồ sơ Lý lịch khu di tích lịch sử - nghệ thuật đình
tu bổ theo kết cấu chữ đinh. Nhà đại bái gồm năm gian mới với kiểu dáng kiến
trúc truyền thống. Sau đó, năm 2006, đình tiếp tục được sửa chữa phương đình,
sơn thếp toàn bộ phần khu nhà trong nội tự đại bái và hậu cung được tiến hành
tôn tạo . Tuy nhiên, lần trùng tu lớn nhất và gần đây nhất là dịp Đại lễ 1000 năm
Thăng Long. Với giá trị văn hóa, lịch sử đặc biệt, đình được coi là một “điểm
nhấn” chào đón 1000 năm Thăng Long - Hà Nội. Do đó, tháng 10/2008, đình đã
được khởi công trùng tu, tái tạo trên quy mô lớn với tổng mức đầu tư hơn 36,6 tỉ
đồng do UBND quận Đống Đa làm chủ. (Nhật ký điền dã, ngày 15/8/2011)
Đình được sửa chữa lại tả vu, hữu vu, sân và cổng, sửa chữa lại giếng đình
và phục hồi lại hồ bán nguyệt, toàn bộ nghi môn ngoại và bình phong của di tích
đình Kim Liên cũng bị phá bỏ để xây một cổng tam quan mới gồm 4 trụ và 5 lối
đi cùng việc xây một bình phong mới.
Sau khi được tu sửa, đình đã có một dáng vẻ khang trang, quang đãng và
rộng rãi hơn xưa. Tuy nhiên, cũng có nhiều ý kiến cho rằng việc tu sửa đình thái
quá đã làm mất đi “nét đẹp xưa” và việc phá bỏ, làm mới hoàn toàn nhiều hạng
mục di tích, kèm theo “chắp vá, sao chép” những chi tiết không phù hợp là một
việc làm thật đáng tiếc. Nói về việc này, cũng trong chuyến điền dã ngày
15/8/2011, chúng tôi được nghe tâm sự của ông Trần Cường, một người dân của
làng Kim Liên, đã từng công tác tại viện Mỹ thuật Hà Nội: Gia đình ông đã ở
đây gần 5 đời. Trước kia cổng đình Kim Liên có 2 trụ biểu ở giữa và 2 cổng bên
Tả, Hữu, rất phù hợp với vai trò Nghi môn ngoại (bên trong tiếp theo là Nghi
môn nội). Nghi môn (cổng đình) của đình Kim Liên được xây dựng cuối thế kỷ
19, đầu thế kỷ 20, cột cổng được coi như mạch nguồn của ước vọng nông
nghiệp Đỉnh cột đắp lân, trong thế nhìn xuống như sự kiểm soát tâm hồn kẻ
hành hương. Cây cột như mạch nối nguồn sinh lực thiêng liêng giữa trời và đất,
như một trục vũ trụ Nhưng trong quá trình trùng tu, cổng đình cũ được phá đi
và xây mới theo kiến trúc tam quan Chùa Láng, dạng tứ trụ có mái, bên cạnh đó
vẫn có 2 cổng phụ và tổng thể trở thành Ngũ môn nên đã làm mất đi nét đẹp
riêng từ xa xưa.
Tư liệu do đình Kim Liên cung cấp còn cho biết thêm: Sau thời gian tu sửa